Bài tập cá nhân
Tìm hiểu đặc điểm văn hóa của một dân tộc
Bài làm: Văn hóa dân tộc Thái – Tây Bắc
Việt Nam có 54 dân tộc cùng sinh sống. dân tộc thái ở Việt Nam sinh sống
chủ yếu ở vùng núi phía Bắc – Tây Bắc
1. Lịch sử tộc người
Theo David Wyatt, trong cuốn "Thailand: A short history (Thái Quốc: Lịch
Sử Tóm Lại)", người Thái xuất xứ từ phía nam Trung Quốc, có cùng nguồn gốc
với các nhóm dân ít người bây giờ như Choang, Tày, Nùng. Dưới sức ép của
người Hán và người Việt ở phía đông và bắc, người Thái dần di cư về phía nam
và tây nam. Người Thái di cư đến Việt Nam trong thời gian từ thế kỉ 7 đến thế kỉ
13[3]. Trung tâm của họ khi đó là Điện Biên Phủ (Mường Thanh). Từ đây, họ tỏa
đi khắp nơi ở Đông Nam Á bây giờ như Lào, Thái Lan, bang Shan ở Miến Điện
và một số vùng ở đông bắc Ấn Độ cũng như nam Vân Nam[4].
Theo sách sử Việt Nam, vào thời nhà Lý, đạo Đà Giang, man Ngưu Hống
(tức người Thái) đến từ Vân Nam, đã triều cống lần đầu tiên vào năm 1067.
Trong thế kỷ 13, người Ngưu Hống kết hợp với người Ai Lao chống lại nhà
Trần và bị đánh bại năm 1280, lãnh tụ Trịnh Giác Mật đầu hàng, xứ Ngưu Hống
bị đặt dưới quyền quản lý trực tiếp của quan quân nhà Trần. Năm 1337 lãnh tụ
Xa Phần bị giết chết sau một cuộc xung đột, xứ Ngưu Hống bị sáp nhập vào
lãnh thổ Đại Việt và đổi tên thành Mương Lễ, hay Ninh Viễn (Lai Châu ngày
nay) và giao cho họ Đèo cai quản. Năm 1431 lãnh tụ Đèo Cát Hãn, người Thái
Trắng tại Mương Lễ, nổi lên chống triều đình, chiếm hai lộ Qui Hóa (Lào Cai)
và Gia Hưng (giữa sông Mã và sông Đà), tấn công Mương Mỗi (Sơn La) Đèo
Mạnh Vương (con của Đèo Cát Hãn) làm tri châu. Năm 1466, lãnh thổ của
người Thái được tổ chức lại thành vùng (thừa tuyên) Hưng Hóa, gồm 3 phủ: An
Tây (tức Phục Lễ), Gia Hưng và Qui Hóa, 4 huyện và 17 châu.
1
210.908 người (6,1 % dân số), Lai Châu cũ (nay là Lai Châu và Điện Biên) có
206.001 người (35,1 % dân số).Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009,
2
người Thái ở Việt Nam có dân số 1.550.423 người, là dân tộc có dân số đứng
thứ 3 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố. Người Thái cư trú tập
trung tại các tỉnh: Sơn La[Mương La] (572.441 người, chiếm 53,2% dân số toàn
tỉnh và 36,9% tổng số người Thái tại Việt Nam), Nghệ An (295.132 người,
chiếm 10,1% dân số toàn tỉnh và 19,0% tổng số người Thái tại Việt Nam),
Thanh Hóa (225.336 người, chiếm 6,6% dân số toàn tỉnh và 14,5% tổng số
người Thái tại Việt Nam), Điện BiênMương Thèng ] (186.270 người, chiếm
38,0% dân số toàn tỉnh và 12,0% tổng số người Thái tại Việt Nam), Lai
Châu[ Mương Lay ] (119.805 người, chiếm 32,3% dân số toàn tỉnh và 7,7%
tổng số người Thái tại Việt Nam), Yên Bái [ Mương Lo ](53.104 người), Hòa
Bình (31.386 người), Đắk Lắk (17.135 người), Đắk Nông (10.311 người)
3. Ngôn ngữ.
Người Thái nói các thứ tiếng thuộc nhóm ngôn ngữ gốc Thái của hệ ngôn
ngữ Thái-Kadai. Trong nhóm này có tiếng Thái của người Thái (Thái
Lan), tiếng Lào của người Lào, tiếng Shan ở Myanmar và tiếng Choang ở miền
nam Trung Quốc. Tại Việt Nam, 8 sắc tộc ít người gồm Bố Y, Giáy, Lào, Lự,
Nùng, Sán Chay, Tày, Thái được xếp vào nhóm ngôn ngữ Thái.
4. Đặc điểm kinh tế
Người Thái có nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương, dựng con, bắc
máng lấy nước làm ruộng. Lúa nước là nguồn lương thực chính, đặc biệt là lúa
nếp. Người Thái cũng làm nương để trồng lúa, hoa màu và nhiều thứ cây khác.
Từng gia đình chăn nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, dệt vải, một số nơi làm đồ
gốm... Sản phẩm nổi tiếng của người Thái là vải thổ cẩm, với những hoa văn
độc đáo, màu sắc rực rỡ, bền đẹp.
nhà người Tày-Nùng.Cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt của nhà Thái Đen khá
độc đáo: các gian đều có tên riêng. Trên mặt sàn được chia thành hai phần: một
phần dành làm nơi ngủ của các thành viên trong gia đình, một nửa dành cho bếp
và còn là nơi để tiếp khách nam.
Nhà sàn của người Thái - "hướn hạn phủ táy" là một công trình kiến trúc tài
hoa, hoà đồng với thiên nhiên, đất trời cùng vạn vật. Từ kiến trúc xây dựng đến
nghệ thuật trang trí đều bắt nguồn từ thực tế cuộc sống khách quan được cách
điệu hoá đạt tới trình độ thẩm mỹ cao.
5
Nhà sàn của người Thái Tây Bắc là một công
trình kiến trúc đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc:
Nhà sàn của người Thái bao giờ cũng làm số
gian lẻ, hai đầu hồi - "tụp cống" khum khum như
mai rùa, gắn với truyền thuyết về thuở khai thiên
lập địa, thần rùa "Pua tấu” dạy cho người Thái
biết cách làm nhà theo hình rùa đứng.
Người Thái có câu: "Khửn song phái/ cái song đay" - tức là mở hai cửa/ đi
hai thang. Nhà người Thái cổ bao giờ cũng có hai cầu thang: "Tang
chan" và "Tang quản". "Tang chan" ở cuối nhà, bên trái dành cho phụ nữ lên
xuống. "Chan" là phần sàn nhà được nối dài ra ngoài trời. Đây là nơi các mẹ,
các chị, các em... thường ngồi chơi lúc nhàn rỗi, thêu thùa, cầu thang này bao
giờ cũng mang số lẻ, thường là 9 bậc, ứng với 9 vía.
Cầu thang dành riêng cho nam giới - "tang quản" ở đầu nhà, thường có 7
bậc ứng với 7 vía.
Nhà sàn của người Thái cổ có hai bếp lửa - "Chík pháy". Bếp lửa phía "tang
quản" dành cho người già, bếp chính ở phía "tang chan" dành cho nữ giới và
những công việc nội trợ. Giữa núi rừng trùng điệp, bếp lửa hồng trên nhà sàn
thêm ấm lòng, nhớ về anh em, bản mường yêu dấu.
Trên bậu cửa sổ thường chạm hình đôi thuồng luồng - "tô ngựa", linh vật
làm chủ sông, suối, biểu tượng của sức mạnh và gia đình hạnh phúc. Trên các
chấn song cửa sổ chạm các hoa văn, hoạ tiết mô phỏng thiên nhiên theo hình đối
xứng hoặc lặp lại. Đó là những hình thoi như quả trám, hoa ban - "bók ban", búp
cây guột -"cút lo ngong"… Nhà sàn người Thái trắng - "Táy khao" thường có
lan can xung quanh hoặc trước nhà rất đẹp. Thiên nhiên được phản ánh một cách
sống động, thể hiện tinh tế quan điểm về vũ trụ, âm dương ngũ hành và ý nghĩa
nhân sinh cao đẹp.
7
Nhà sàn của người Thái Tây Bắc là nơi hội tụ những giá trị vật chất và tinh
thần:
Đây là nơi chứng kiến buồn vui của bao thế hệ để rồi mỗi người hiểu thêm
về quá khứ, hiện tại và tương lai, trân trọng nâng niu những tài sản vô giá cả về
vật chất và tinh thần đã trở thành truyền thống tốt đẹp và phấn đấu vì một ngày
mai tươi sáng hơn.
Quanh bếp lửa hồng, đã bao lần gia đình họ tộc quây quần nghe người già
hát, ngâm, kể - "khắp" những điều răn dạy về đạo lý làm người - "Quámk son
cốn", Chuyện bản mường - "Quámk tố mướng", Bước đường chinh chiến của
cha ông -"Táy púk sấc", Tiễn dặn người yêu - "Xống chụ xon xao", cùng nồng
say trong các điệu "xoè" ngày mừng cơm mới, lên nhà mới, hội cưới, ngày xuân.
Nhàn sàn còn là nơi con trai đan lát, thổi khèn, pí, con gái quay xa, dệt vải,
thêu thùa... đã được khái quát trong câu thơ: Trai biết đan chài/ gái biết dệt vải
- "nhinh hụ tháp phải/ trái hụ san he".
Các bản Thái thường quần tụ ven suối chân đồi theo tiêu chí: “sơn chầu thủy
tụ”. Những ngôi nhà sàn bình dị ấm cúng, khói lam thơm thoảng gió đồng, lách
cách tiếng thoi đưa, đâu đây da diết một điệu khèn câu khắp, lốc cốc tiếng mõ
trang trí nhiều màu. Khăn đội đầu không có hoa văn mà chỉ là băng vải chàm dài
trên dưới 2 mét... Trong các dịp lễ tết họ mặc áo dài màu đen. Đây là loại áo đầu
thụng thân thẳng, không lượn nách, được trang trí bằng vải 'khít' ở giữa thân có
tua vải phủ từ vai xuống ngực, nách áo trang trí theo lối đáp hai mảng hoa văn
trong bố cục hình tam giác. Phụ nữ chưa chồng hay có chồng không có dấu hiệu
quy định nhận biết... Họ có loại nón rộng vành.
9
•
Thái Đen: Thường nhật phụ nữ Thái Đen mặc áo ngắn (xửa cóm) màu tối
(chàm hoặc đen), cổ áo khác Thái Trắng là loại cổ tròn, đứng. Đầu đội khăn gọi
là "piêu" thêu hoa văn nhiều mô-típ trang trí mang phong cách từng mường. Váy
là loại giống phụ nữ Thái Trắng đã nói ở trên. Lối để tóc kkhi có chồng búi lên
đỉnh đầu gọi là "Tằng cẩu";khi chồng chết có thể búi tóc thấp xuống sau gáy;
chưa chồng không búi tóc. Trong lễ, tết áo dài Thái Đen đa dạng với các loại xẻ
nách, chui đầu, trang trí phong phú đa dạng về màu và màu mà mô-típ hơn Thái
Trắng.
10
Văn hoá ẩm thực độc đáo
Một trong những đặc trưng nổi bật của dân tộc Thái là văn hóa ẩm thực.
Dân tộc Thái ưa cái hương vị đậm đà, giàu chất dinh dưỡng của món nướng.
Món thịt trâu hoặc bò, cá, gà nướng được người Thái tẩm, ướp gia vị rất cầu kỳ.
Gia vị để ướp là tiêu rừng hay còn gọi là “mắc khén”, ớt, tỏi, gừng, muối...
12
Xôi nếp là món ăn truyền thống của dân tộc Thái. Người Thái có phương
pháp đồ xôi cách thuỷ bằng chõ gỗ rất kỹ thuật. Xôi chín bằng hơi, mềm, dẻo
nhưng không dính tay. Xôi được đựng vào ép khẩu hoặc giỏ cơm đậy kín, ủ ấm,
giữ cho cơm dẻo lâu. Cơm lam là đặc sản của dân tộc Thái thường được sử dụng
vào dịp lễ, tết hay đãi khách. Với các chuyến du lịch, du khách có thể mang theo
ép khẩu xôi, vài khúc cơm lam để ăn dọc đường hoặc khi nghỉ ngơi tại các điểm
tham quan sẽ rất tiện lợi. Mùa nào thức nấy, người Thái đãi khách bằng sản vật,
như: măng đắng, măng ngọt, rau cải ngồng, rau dớn... chấm với gia vị chéo, đậm
đà vị cay của ớt, riềng, mặn của muối rang, hương thơm của rau làm biết bao du
khách phải ngẩn ngơ khi đã một lần nếm thử.
13
Văn hóa nghệ thuật và lễ hội
Múa xòe là một sinh hoạt văn hoá đặc sắc, một điệu múa phổ biến trong
cộng đồng người Thái Tây Bắc. Múa xòe còn có tên khác là "Xe khăm khen"
(múa cầm tay). Múa xòe biểu hiện sự đoàn kết thân thiện gắn bó, có tính tập thể,
dân chủ cao, nên mọi người Thái đều biết múa xòe và yêu thích nghệ thuật xòe
của dân tộc. Múa xòe là di sản văn hoá quý giá của người Thái có sức sống bền
vững trong nhân dân.
Người Thái quan niệm: "Không xòe không tốt lúa, không xòe thóc cạn bồ".
Múa xòe là biểu tượng tình yêu của dân tộc Thái, từ yêu cuộc sống lao động
cần cù, đến tình yêu đôi lứa? người Thái tổ chức múa xòe trong hội xuân, hội
mùa, hội cưới?
Trong những đêm hội xòe với ngọn lửa hồng ở chính giữa, lửa bập bùng mờ
tỏ càng tăng sự huyền ảo và sôi động của đêm hội. Các cô gái Thái trẻ trung