Nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam- Chi nhánh Cầu Giấy - Pdf 41

Header Page 1 of 161.
CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƢỢNG CHO VAY TIÊU DÙNG
TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Một số vấn đề cơ bản về cho vay tiêu dùng trong ngân hàng thƣơng mại
1.1.1. Khái niệm cho vay tiêu dùng
Hoạt động cho vay ra đời và tồn tại xuất phát từ đòi hỏi khách quan của quá trình
tuần hoàn vốn, để giải quyết hiện tượng dư thừa, thiếu hụt vốn diễn ra thường xuyên
giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Đất nước ngày càng phát triển, mức sống của người
dân ngày càng cao, nhu cầu thoả mãn trong cuộc sống hàng ngày không ngừng tăng
lên, các NHTM phát hiện ra một thị trường tiềm năng đó là cho vay đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng của người dân.
Theo GS. TS Nguyễn Văn Tiến (2014), Giáo trình nguyên lý & nghiệp vụ
NHTM, NXB Thống Kê: “Cho vay tiêu dùng là một hình thức tín dụng, qua đó ngân
hàng cho khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình vay một lượng tiền nhất định để mua
hàng hóa hay dịch vụ sử dụng vào mục đích tiêu dùng.”
Theo PGS. TS Mai Văn Bạn (2011), Giáo trình nghiệp vụ NHTM, NXB Tài
Chính: “Cho vay tiêu dùng là loại cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các
cá nhân và hộ gia đình.”
Theo TS Nguyễn Minh Kiều (2009), Nghiệp vụ NHTM, NXB Thống Kê: “Cho
vay tiêu dùng là loại cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu và mua sắm tiện nghi
sinh hoạt gia đình nhằm nâng cao đời sống dân cư.”
Tuy các khái niệm có những cách diễn đạt khác nhau nhưng đều cùng thể hiện
bản chất: “Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ nhu cầu chi tiêu
của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình trong một khoảng thời gian
nhất định với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ cả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận trong
hợp đồng tín dụng. Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng
giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như: nhà ở,
phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế… trước khi họ có đủ
khả năng tài chính để hưởng thụ.”
1.1.2. Phân loại cho vay tiêu dùng
1.1.2.1. Căn cứ vào thời hạn cho vay

tiền vay cho ngân hàng chỉ xảy ra một lần khi đến hạn, thường áp dụng cho món vay
nhỏ, thời hạn vay ngắn. CVTD phi trả góp thường tài trợ cho nhu cầu ngắn hạn như đi
du lịch, chăm sóc y tế, mua sắm nội thất, vay sửa chữa nhà.
Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Là hình thức CVTD mà ngân hàng cho phép
khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa trên
tài khoản vãng lai. Với phương thức này, thời hạn CVTD phải được thỏa thuận trước,
căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng thời kỳ, khách hàng được
ngân hàng cho phép vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức cho
vay nhất định.
1.1.2.4. Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ
Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Là hình thức CVTD mà trong đó việc ký kết hợp
đồng, giải ngân và thu nợ được thực hiện trực tiếp giữa ngân hàng với khách hàng tiêu
dùng.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp: Là hình thức CVTD mà trong đó ngân hàng mua
các khoản nợ phát sinh do các công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa cho người tiêu
dùng.

2

Footer Page 2 of 161.


Header Page 3 of 161.
1.1.2.5. Căn cứ vào loại tài sản đảm bảo
Cho vay tiêu dùng thế chấp lương, thu nhập: Là hình thức CVTD mà đối tượng
khách hàng có việc làm tương đối ổn định ở một mức nào đó phù hợp với quy định của
ngân hàng. Số tiền được vay sẽ quyết định dựa trên nhu cầu, mức thu nhập thường
xuyên của khác hàng và mức cho vay tối đa của ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng cầm cố: Là hình thức CVTD mà ngân hàng cho khách hàng
vay để thực hiện mục đích tiêu dùng của họ. Theo đó, khách hàng phải chuyển quyền

Footer Page 3 of 161.

Thang Long University Library


Header Page 4 of 161.
Thứ năm, các khoản cho vay tiêu dùng có rủi ro cao. Vì tình hình tài chính của
các cá nhân và hộ gia đình có thể thay đổi nhanh chóng tuỳ theo tình trạng công việc
hay sức khoẻ của họ. Việc thẩm định và quyết định cho vay đối với các khoản vay tiêu
dùng thường gặp khó khăn do vấn đề thông tin không đầy đủ.
Thứ sáu, chi phí quản lý khoản vay tiêu dùng lớn. Do các ngân hàng thường
phải tốn nhiều thời gian và nhân lực để điều tra, thu thập các thông tin về người vay
tiền trước khi đưa ra các quyết định phê duyệt khoản vay. Thêm vào đó việc quản lý
các khoản vay tiêu dùng với giá trị nhỏ nhưng số lượng lớn cũng không phải là vấn đề
đơn giản đối với các NHTM nên chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ CVTD cao hơn so
với loại hình cho vay khác.
Thứ bảy, cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục mang lại lợi nhuận
cao cho ngân hàng. Các khoản CVTD có chi phí và rủi ro cao nên các khoản vay này
thường có lãi suất cao để bù đắp cho các khoản vay trên và mang lại lợi nhuận cho
ngân hàng. Lãi suất CVTD luôn là một trong những lãi suất hấp dẫn nhất trên thị
trường tài chính. Do số lượng món vay nhiều nên lợi nhuận ngân hàng thu được từ
hoạt động này là rất đáng kể so với tổng lợi nhuận của ngân hàng.
1.1.4. Vai trò của cho vay tiêu dùng
Đối với nền kinh tế
CVTD là đòn bẩy kích cầu hàng hoá dịch vụ, mở rộng sản xuất, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Nhờ đó, các cơ hội việc làm được tạo ra nhiều hơn, tỷ lệ thất nghiệp
cũng như các tệ nạn xã hội giảm, đồng thời thu nhập của người dân tăng lên. Dịch vụ
này của ngân hàng thoả mãn tốt nhất các nhu cầu của người tiêu dùng, do đó góp phần
nâng cao chất lượng đời sống vật chất cũng như tinh thần của họ. Rõ ràng, CVTD
không chỉ có vai trò quan trọng đối với các chủ thể như người tiêu dùng, NHTM mà

các nguyên tắc sau:
Tiền vay phải được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín
dụng. Các cá nhân có nhu cầu vay tiêu dùng, trước khi vay phải trình bày với ngân
hàng mục đích vay vốn, gửi cho ngân hàng các kế hoạch tiêu dùng để ngân hàng xem
xét, cho vay. Trên cơ sở đó ngân hàng kiểm tra xem xét, nếu thấy đồng vốn vay ngân
hàng đem lại hiệu quả kinh tế và trả nợ đúng hạn thì mới quyết định cho vay. Mặt khác
trên cơ sở kế hoạch xin vay vốn của người xin vay, bản thân ngân hàng phải xây dựng
kế hoạch cho vay vốn của mình để chủ động trong việc đầu tư tín dụng. Khi cho vay,
ngân hàng cùng khách hàng lập hợp đồng tín dụng vay vốn và khách hàng phải cam
kết sử dụng tiền vay đúng mục đích tiêu dùng và điều này được ghi trong hợp đồng
vay vốn. Sau khi đã nhận được tiền vay, khách hàng phải sử dụng đúng mục đích như
đã cam kết. Đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích thỏa thuận nhằm đảm bảo hiệu
quả sử dụng vốn vay và khả năng thu hồi nợ sau này. Việc khách hàng sử dụng vốn
vay không đúng mục đích dễ dẫn đến thất thoát và lãng phí, khiến vốn vay không tạo
ra được ngân lưu để trả nợ cho ngân hàng. Ngân hàng có trách nhiệm kiểm soát việc
sử dụng vốn của khách hàng. Nếu khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, ngân
hàng phải áp dụng các biện pháp chế tài thích hợp nhằm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra
cho ngân hàng.
Tiền vay phải hoàn trả đúng hạn đầy đủ cả gốc và lãi. Hoàn trả là thuộc tính
vốn có của tín dụng, sự hoàn trả là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng khi cho
vay. Thu hồi nợ cả gốc và lãi đúng hạn là cơ sở để các NHTM tồn tại và phát triển.
Nếu ngân hàng không thu hồi hoặc không thu hồi đúng hạn các khoản vay tiêu dùng
có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá sản. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện
nghiệp vụ CVTD của mình, ngân hàng phải bù đắp các chi phí như: trả lãi tiền gửi,
5

Footer Page 5 of 161.

Thang Long University Library


đảm bảo tính khả thi, tức là phù hợp với khả năng trả nợ từ nguồn thu nhập sau thuế ổn
định hàng tháng của khách hàng.
Thứ năm, khách hàng phải thực hiện đảm bảo tiền vay theo quy định. NHTM
quan tâm đến bảo đảm tiền vay vì:
Đảm bảo tiền vay là công cụ bảo đảm trong việc thực hiện trách nhiệm và nghĩa
vụ của khách hàng trong quan hệ vay vốn.

6

Footer Page 6 of 161.


Header Page 7 of 161.
Đảm bảo tiền vay cũng cung cấp nguồn thanh toán “thứ hai” cho NHTM (trong
trường hợp khách hàng không trả được khoản vay). Tại Nghị định 163/2006/NĐ-CP,
Chính phủ Việt Nam quy định: “Tài sản bảo đảm là tài sản mà bên bảo đảm dùng để
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm. Tài sản bảo đảm do
các bên thoả thuận và thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ hoặc thuộc sở hữu của người
thứ ba mà người này cam kết dùng tài sản đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên
có nghĩa vụ đối với bên có quyền. Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có, tài sản
hình thành trong tương lai và được phép giao dịch.”. Với quan điểm này, TSĐB tạo
cơ sở kinh tế và pháp lý để NHTM thu hồi nợ khi nguồn thu nợ thứ nhất gặp bất chắc.
Bảo đảm tiền vay không đơn thuần chỉ bằng tài mà đảm bảo tiền vay còn được thực
hiện bằng uy tín, tiềm lực tài chính của khách hàng có nhu cầu về vốn ngân hàng thực
hiện phân tích, đánh giá khách hàng cũng như tính khả thi của các phương án tiêu
dùng mà khách hàng đưa ra, từ đó xác định các phương án trả nợ thích hợp đối với
khách hàng.
1.1.7. Các biện pháp đảm bảo tiền vay trong cho vay tiêu dùng
1.1.7.1. Cho vay tiêu dùng có đảm bảo bằng tài sản
CVTD có đảm bảo là hình thức cho vay có tài sản đảm bảo hoặc có sự bảo lãnh

là cá nhân thì việc bảo lãnh phải có tài sản cầm cố thế chấp của người bảo lãnh.
1.1.7.2. Cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản
CVTD không có đảm bảo bằng tài sản là việc NHTM cho khách hàng vay vốn
tiêu dùng nhưng không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc không có bảo lãnh của người
thứ ba bằng tài sản. Đây là sản phẩm tín dụng dành cho các khách hàng có thu nhập
thường xuyên, ổn định... nhằm đáp ứng nhu cầu tiều dùng đa dạng của bản thân và gia
đình. NHTM khi CVTD chỉ dựa vào uy tín của khách hàng để xem xét cho vay. Khách
hàng có uy tín là khách hàng có năng lực tài chính lành mạnh, trung thực trong kinh
doanh, quản trị kinh doanh có hiệu quả, có tín nhiệm với NHTM trong sử dụng vốn
vay, hoàn trả cả gốc và lãi. Những khách hàng vay vốn phải có đủ điều kiện sau:
Sử dụng vốn vay để tiêu dùng có hiệu quả, trả nợ gốc, lãi vốn vay đúng hạn.
Có phương án tiêu dùng hiệu quả, phục vụ đời sống khả thi phù hợp với quy định
của pháp luật.
Có khả năng tài chính để trả nợ vay.
Có cam kết bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu NHTM nếu sử dụng vốn vay
không đúng. Cam kết trong hợp đồng tín dụng, cam kết trả nợ trước hạn nếu không
thực hiện được các biện pháp đảm bảo bằng tài sản theo quy định.
1.1.8. Quy trình cho vay tiêu dùng
Sơ đồ 1.1. Quy trình cho vay tiêu dùng

Tiếp thị tới khách
hàng tiêu dùng về
sản phẩm, dịch vụ
ngân hàng

Phỏng vấn, hướng dẫn
khách hàng hoàn thiện
hồ sơ tín dụng và tiếp
nhận hồ sơ


Bước 1: Tiếp thị tới khách hàng tiêu dùng về sản phẩm, dịch vụ ngân hàng
CBTD trực tiếp tiếp thị khách hàng tất cả các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phù
hợp với nhu cầu tiêu dùng.
Các phương thức tiếp thị: tiếp thị trực tiếp; tiếp thị phổ thông qua các hình thức
tổ chức sự kiện, tờ rơi, quảng cáo…; tiếp thị thông qua bên thứ ba có chức năng dưới
hình thức hợp tác, cơ chế chi hoa hồng môi giới.
Bước 2: Phỏng vấn, hướng dẫn khách hàng hoàn thiện hồ sơ tín dụng và tiếp
nhận hồ sơ
Phỏng vấn, nắm bắt thông tin về khách hàng: Mục đích của khách hàng (nhu cầu
vay vốn hoặc đề nghị được bảo lãnh của khách hàng); Tình trạng nhân thân: tên, tuổi,
tình trạng hôn nhân/gia đình, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ, đơn vị công tác/địa
điểm kinh doanh, vị trí công tác/xã hội, thu nhập; Khả năng và nguồn trả nợ của khách
hàng: lương, hoạt động kinh doanh hiện tại, nguồn thu nhập khác; Hình thức và tài sản
đảm bảo vốn vay: tài sản hình thành từ vốn vay, tài sản khác của khách hàng, tài sản
của bên thứ ba; Thông tin khác liên quan tới khách hàng và khoản vay (nếu có).
Tư vấn khách hàng sản phẩm, dịch vụ phù hợp
Hướng dẫn khách hàng về hồ sơ: Hướng dẫn khách hàng về hồ sơ, tài liệu cần
cung cấp cho ngân hàng theo trường hợp cụ thể của khách hàng (sản phẩm, khách
hàng và nhân thân, hình thức đảm bảo tiền vay).
Tiếp nhận hồ sơ của khách hàng và kiểm tra tính đầy đủ, phù hợp của hồ sơ, tài
liệu: Trực tiếp tiếp nhận toàn bộ hồ sơ từ khách hàng; Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ:
loại giấy tờ theo yêu cầu, tính đầy đủ, phù hợp, chính xác của thông tin trên bề mặt hồ
sơ, đối chiếu hồ sơ bản sao với các hồ sơ gốc, đảm bảo thông tin phù hợp giữa các hồ
sơ; Nếu khách hàng chưa cung cấp đầy đủ hồ sơ, yêu cầu khách hàng bổ sung đầy đủ
tất cả giấy tờ còn thiếu.
Bước 3: Đánh giá và phân tích hồ sơ cho vay tiêu dùng của khách hàng
Đánh giá về thông tin nhân thân khách hàng, tình hình quan hệ tín dụng của
nhóm khách hàng liên quan (nếu có); Đánh giá về mục đích và kế hoạch sử dụng vốn
vay của khách hàng; Đánh giá, phân tích về năng lực tài chính của khách hàng; Về tài
sản đảm bảo; Lịch sử quan hệ tín dụng của khách hàng; Thực hiện chấm điểm, xếp

hoàn thiện các chứng từ giải ngân như ủy nhiệm chi, giấy lĩnh tiền mặt…
Kiểm tra sự phù hợp của các hồ sơ, chứng từ: Kiểm tra đối chiếu, đảm bảo khớp
đúng về thông tin khách hàng (họ tên, ngày tháng năm sinh) tại Chứng minh thư nhân
dân/hộ chiếu, chữ ký với các hồ sơ chứng từ giải ngân. Sau khi hoàn thành thủ tục giải
ngân cho khách hàng, thực hiện lưu hồ sơ giải ngân.
Bước 7: Kiểm tra giám sát khách hàng, khoản vay
Kiểm tra giám sát đối với khoản vay: Thực hiện kiểm tra giám sát khoản vay,
khách hàng vay, mục đích sử dụng vốn vay trước và trong quá trình duyệt vay, giải
ngân nhằm đảm bảo phù hợp với hồ sơ và thực tế; Thường xuyên theo dõi việc trả nợ
vay của khách hàng đảm bảo khách hàng trả nợ đúng hạn. Trường hợp khách hàng trả
nợ không đúng lịch đã cam kết, phải kiểm tra nguồn trả nợ của khách hàng.
Kiểm tra giám sát đối với tài sản đảm bảo: Thực hiện kiểm tra tài sản bảo đảm
định kỳ và thực hiện định giá lại tài sản bảo đảm; Xử lý khi phát hiện dấu hiệu bất
thường: trong quá trình kiểm tra, đánh giá, nếu phát hiện các dấu hiệu rủi ro, CBTD đề
xuất biện pháp phòng ngừa và báo cáo lãnh đạo cấp phòng và lãnh đạo ngân hàng.

10

Footer Page 10 of 161.


Header Page 11 of 161.
Bước 8: Quản lý sau khi giải ngân và thu nợ, lãi, phí
Để đảm bảo an toàn cho khoản vay, CBTD phải chủ động kiểm tra mục đích sử
dụng vốn vay định kỳ, tình trạng tài sản đảm bảo, thông báo, đôn đốc khách hàng trả
lãi và gốc khi đến hạn. Nếu khi đến hạn, khách hàng có lý do chính đáng chưa trả được
thì CBTD đề xuất gia hạn nợ gốc hoặc lãi. Nếu không có đơn gia hạn thì thực hiện
việc chuyển nợ quá hạn, đồng thời tăng cường đôn đốc khách hàng trả nợ. Khi đã gia
hạn cho khách hàng nhưng vẫn không có khả năng trả nợ, đã chuyển nợ quá hạn thì tối
đa sau một tháng sẽ chuyển hồ sơ cho phòng thu hồi nợ.


Thang Long University Library


Header Page 12 of 161.
Qua phân tích ta đi đến khái niệm: “Chất lượng cho vay tiêu dùng là một chỉ
tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh mức độ đáp ứng yêu cầu vay vốn hợp lý của khách
hàng; phù hợp với chính sách tín dụng, bảo đảm an toàn và mang lại hiệu quả kinh
tế cho ngân hàng; đồng thời góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội.”
1.2.2. Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng đối với ngân hàng
thương mại
Nâng cao chất lượng CVTD là cần thiết để phát triển kinh tế. Ngày nay cùng với
sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa, hoạt động CVTD ngày càng phát
triển nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn phục vụ tiêu dùng không ngừng tăng cao của nền
kinh tế. Thông qua các khoản vay tiêu dùng mà khách hàng có thể nâng cao mức sống,
ổn định cuộc sống và góp phần ổn định kinh tế xã hội.
Nâng cao chất lượng CVTD quyết định sự tồn tại và phát triển của các NHTM.
Chất lượng CVTD được nâng cao sẽ làm tăng khả năng sinh lời của các sản phẩm,
dịch vụ ngân hàng do giảm được sự chậm trễ, chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý…, tạo
thêm nguồn vốn từ việc tăng vòng quay vốn vay và thu hút được nhiều khách hàng bởi
các hình thức của sản phẩm, dịch vụ tạo ra một hình ảnh tốt đẹp về biểu tượng, uy tín
của ngân hàng. Chất lượng CVTD được nâng cao cũng đảm bảo khả năng thanh toán
và lợi nhuận của ngân hàng, tạo thế mạnh cho ngân hàng trong cạnh tranh.
Ngoài ra, nâng cao chất lượng CVTD sẽ thu hút thêm khách hàng mới, duy trì
nhiều hơn các khách hàng truyền thống. Từ đó, ngân hàng có thể đa dạng hóa các sản
phẩm CVTD, đáp ứng tối đa nhu cầu vay tiêu dùng của nhiều đối tượng khách hàng
khác nhau. Nhờ đó tạo ra ưu thế cạnh tranh trên thị trường hiện nay khi mà càng ngày
càng có nhiều ngân hàng nước ngoài thâm nhập thị trường này.
Với những ưu thế kể trên, có thể thấy rằng, việc nâng cao chất lượng CVTD là vô
cùng cần thiết, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cho vay chung

lượng CVTD càng tốt và ngược lại.
Khả năng mở rộng quan hệ với khách hàng vay vốn tiêu dùng: Khách hàng
vay tiêu dùng khi đánh giá chất lượng cho vay tốt, hài lòng với dịch vụ của ngân hàng
sẽ tin tưởng và có nhu cầu sử dụng thêm những sản phẩm, dịch vụ khác của ngân
hàng. Như vậy, ngân hàng càng có khả năng mở rộng mối quan hệ và bán chéo sản
phẩm cho thấy chất lượng CVTD càng tốt và ngược lại.
Mức độ chuyên nghiệp và thái độ làm việc của cán bộ tín dụng: CBTD là nhân
viên tuyến trước, là người trực tiếp giao dịch, hướng dẫn khách hàng sử dụng dịch vụ
CVTD. Chuyên môn của CBTD dù có tốt đến đâu mà thái độ phục vụ không tốt thì
cũng sẽ gây mất thiện cảm, khiến khách hàng không muốn sử dụng dịch vụ lần nữa.
Điều này sẽ làm hạ uy tín của ngân hàng và khiến các khách hàng khác có cái nhìn
không tốt về chất lượng CVTD của ngân hàng. Nếu CBTD làm việc càng chuyên
nghiệp với thái độ tốt, cho thấy chất lượng CVTD của ngân hàng càng cao và ngược
lại.
1.2.3.2. Các chỉ tiêu định lượng
(1) Tốc độ tăng trưởng doanh số thu nợ cho vay tiêu dùng

“Tốc độ tăng trưởng doanh số thu nợ cho vay tiêu dùng” dùng để so sánh sự
tăng trưởng thu nợ CVTD qua các năm, từ đó đánh giá khả năng thu nợ và đánh tình
hình thực hiện kế hoạch CVTD của ngân hàng. Chỉ tiêu này cao thì chất lượng CVTD
13

Footer Page 13 of 161.

Thang Long University Library


Header Page 14 of 161.
tốt, và ngược lại. Theo thời gian, nếu tỷ lệ này giảm dần cho thấy chất CVTD có xu
hướng ngày càng kém, nếu tỷ lệ này tăng dần cho thấy chất lượng CVTD có xu hướng

nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Các khoản nợ khoanh, nợ
chờ xử lý.
14

Footer Page 14 of 161.


Header Page 15 of 161.
“Nợ quá hạn” bao gồm các khoản nợ thuộc nhóm 2, 3, 4, 5.
Tỷ lệ nợ cho vay tiêu dùng quá hạn

“Tỷ lệ nợ cho vay tiêu dùng quá hạn” phản ánh số dư nợ gốc/lãi vay tiêu dùng đã
quá hạn mà chưa thu hồi được. Nợ quá hạn cho biết, cứ trên 100 đồng dư nợ CVTD
hiện hành có bao nhiêu đồng đã quá hạn. Đây là một chỉ tiêu cơ bản cho biết chất
lượng CVTD của ngân hàng. Nếu chỉ tiêu này thấp, dưới 5% theo quy định của NHNN
tại Thông tư 36/2014/TT-NHNN, thì chất lượng CVTD càng cao, chứng tỏ hoạt động
CVTD của ngân hàng có chất lượng cao và ngược lại khi chỉ tiêu này cao, trên 5%, thì
chất lượng CVTD của ngân hàng thấp. Nếu tỷ lệ này giảm dần theo thời gian, cho thấy
chất lượng CVTD có xu hướng tốt dần lên, còn nếu tăng dần thì cho thấy chất lượng
CVTD có xu hướng kém dần.
Tuy nhiên, tỷ lệ này chỉ phản ánh những số dư nợ thực sự đã quá hạn, mà không
phản ánh toàn bộ quy mô dư nợ có nguy cơ quá hạn.
Tỷ lệ nợ cho vay tiêu dùng quá hạn ngắn hạn

“Tỷ lệ nợ cho vay tiêu dùng quá hạn ngắn hạn” phản ánh số dư nợ gốc vay tiêu
dùng ngắn hạn đã quá hạn mà chưa thu hồi được, cụ thể cứ trên 100 đồng dư nợ
CVTD ngắn hạn hiện hành có bao nhiêu đồng đã quá hạn. Nếu tỷ lệ này cao chứng tỏ
chất lượng CVTD thấp; ngược lại, tỷ lệ này thấp chứng tỏ chất lượng CVTD cao. Nếu
chỉ tiêu này theo thời gian tăng dần, cho thấy chất lượng CVTD có xu hướng kém đi,
và ngược lại.

đồng nợ CVTD quá hạn thì có bao nhiêu đồng là nợ có khả năng thu hồi cao. Tỷ lệ này
cao thì chất lượng CVTD của ngân hàng tốt; ngược lại, tỷ lệ này thấp thì chất lượng
CVTD kém, nguy cơ ngân hàng không thu hồi đủ số nợ gốc, tổn thất với ngân hàng
cao. Nếu chỉ tiêu này tăng dần theo thời gian, cho thấy chất lượng CVTD có xu hướng
ngày càng tốt dần, và ngược lại.
(4) Các chỉ tiêu nợ xấu
Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi
ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, khả năng xảy ra tổn thất
cao cho ngân hàng. Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên thường
quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay
vào các nhóm thích hợp. Để hình thành chỉ tiêu “Nợ xấu”, chúng ta phải tiến hành
phân loại nợ. Phân loại nợ là quá trình xem xét, đánh giá danh mục cho vay nhằm phân
loại các khoản vay nợ vào các nhóm khác nhau dựa trên rủi ro và các đặc điểm tương
đồng của khoản vay. Việc thường xuyên xem xét và phân loại nợ giúp cho ngân hàng
có thể kiểm soát chất lượng danh mục cho vay và khi cần thiết sẽ đưa ra các biện pháp
xử lý thích hợp nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao chất lượng CVTD.
“Nợ xấu” là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5.

“Tỷ lệ nợ xấu cho vay tiêu dùng” cho biết, trong 100 đồng tổng dư nợ CVTD thì
có bao nhiêu đồng là nợ xấu. Chính vì vậy, tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu cơ bản đánh giá
chất lượng CVTD của ngân hàng. Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn,
vốn của ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà là có nguy
cơ mất vốn. Chỉ tiêu này thấp, dưới 3% theo yêu cầu của NHNN tại văn bản số
5056/NHNN-TTGSNH, chứng tỏ hoạt động CVTD của ngân hàng có chất lượng cao
và ngược lại khi chỉ tiêu này cao, trên 3%, thì chất lượng CVTD của ngân hàng thấp.
Theo thời gian, tỷ lệ này càng giảm, cho thấy chất lượng CVTD có xu hướng ngày
càng tốt dần lên và ngược lại.

16


ngân hàng đang tiêu cực và khả năng thu hồi nợ thấp. Vì nợ càng khó thu hồi thì càng
phải trích lập nhiều để phòng ngừa rủi ro. Ngược lại, chỉ tiêu này thấp chứng tỏ chất
lượng CVTD cao. Theo thời gian, tỷ lệ này càng tăng, cho thấy chất lượng CVTD có
xu hướng ngày càng giảm, và ngược lại.

17

Footer Page 17 of 161.

Thang Long University Library


Header Page 18 of 161.
(6) Vòng quay vốn cho vay tiêu dùng

“Vòng quay vốn cho vay tiêu dùng” đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng
của ngân hàng, cho biết một đồng vốn của ngân hàng được sử dụng cho vay tiêu dùng
mấy lần trong một kỳ kinh doanh. Chỉ tiêu này cao chứng tỏ chất lượng CVTD tốt;
ngược lại, chỉ tiêu này thấp thì chất lượng CVTD kém. Theo thời gian, hệ số này càng
tăng phản ánh tình hình quản lý vốn vay càng tốt, cho thấy chất lượng CVTD có xu
hướng ngày càng cao và ngược lại.
(7) Các chỉ tiêu sinh lời từ cho vay tiêu dùng
Tỷ lệ lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng

“Tỷ lệ lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng” cho biết cứ trong 100 đồng tổng lợi nhuận
thì có bao nhiêu đồng là do CVTD mang lại. Lợi nhuận do CVTD mang lại chứng tỏ
các khoản vay không những thu hồi được gốc mà còn cả lãi mà còn đảm bảo an toàn
cho vốn vay. Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ chất lượng CVTD kém và ngược lại.
Theo thời gian, tỷ lệ này càng cao thì chất lượng CVTD của ngân hàng càng bền vững,
và ngược lại.

chặt chẽ. Một hệ thống luật pháp thiếu tính đồng bộ, chưa hoàn thiện sẽ cản trở hoạt
động của NHTM. Bất kỳ thay đổi nào trong hệ thống pháp luật đều có thể tác động
không tốt đến chất lượng CVTD của ngân hàng. Một tác động thường dễ nhận thấy
nhất là việc NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất CVTD cao hơn, tạo
ra gánh nặng trả nợ lớn hơn cho khách hàng. Lãi suất tăng nhưng thu nhập của người
dân không tăng thì có thể sẽ không đảm bảo được khả năng trả nợ cho ngân hàng. Từ
đó gây ra tổn thất cho ngân hàng, khiến chất lượng CVTD đi xuống.
Khách hàng: Khách hàng đến ngân hàng với mong muốn nhu cầu vay của mình
được đáp ứng để có được một khoản tín dụng sử dụng trong mục đích tiêu dùng của
mình với sự xác định rõ ràng khối lượng tiền vay, thời hạn vay và lãi suất. Nếu nhu
cầu của khách hàng được chấp nhận trong một thái độ niềm nở và thủ tục đơn giản thì
chắc chắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, tạo điều kiện cho hoạt động tín dụng
được thuận lợi, chất lượng CVTD được bảo đảm. Bên cạnh đó, chất lượng CVTD còn
phụ thuộc vào tổng thu nhập của khách hàng trong tương lai để tiến hành thu nợ theo
đúng quy định, sự trung thực của khách hàng khi sử dụng vốn vay, ý thức trả nợ của
khách hàng đối với ngân hàng và những rủi ro ngoài ý muốn xảy ra với khách hàng.
1.2.4.2. Nhân tố chủ quan
Chính sách cho vay tiêu dùng: Chính sách CVTD của NHTM phản ánh định
hướng cơ bản cho hoạt động cho vay và đảm bảo quá trình CVTD có độ rủi ro thấp
nhất. Chất lượng CVTD tốt nếu ngân hàng xây dựng được chính sách đúng đắn, phù
hợp. Ngược lại, chất lượng CVTD sẽ chịu tác động không tốt nếu trong việc xây dựng
các chính sách có sai sót.
Công tác thẩm định cho vay tiêu dùng: Thẩm định CVTD là một khâu quan
trọng trước khi ngân hàng quyết định cho khách hàng vay vốn tiêu dùng hay không.
Việc thẩm định giúp cho ngân hàng xem xét toàn diện về mục đích vay vốn, nhu cầu
vay tiêu dùng,... từ đó xác định rủi ro, khả năng trả nợ của khách hàng. Chất lượng của
công tác thẩm định càng cao thì kéo theo chất lượng CVTD càng tốt và ngược lại.
19

Footer Page 19 of 161.

Header Page 21 of 161.
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI
NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM –
CHI NHÁNH CẦU GIẤY
2.1. Khái quát về Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh
Cầu Giấy
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát
triển Việt Nam
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam thành lập ngày 26/4/1957 với
tên gọi là Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam. Từ 1981 đến 1989: Mang tên Ngân hàng
Đầu tư và Xây dựng Việt Nam. Từ 1990 đến 27/04/2012: Mang tên Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam (BIDV). Từ 27/04/2012 đến nay: Chính thức trở thành Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)
I. Thời kỳ Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam (1957 – 1981)
1. Giai đoạn 1957 – 1960
Ngân hàng đã có những đóng góp quan trọng trong việc quản lý vốn cấp phát
kiến thiết cơ bản, thực hiện tiết kiệm; thực hiện cung ứng vốn cho hàng trăm công
trình, đồng thời tránh cho tài chính khỏi ứ đọng và lãng phí vốn,..
2. Giai đoạn 1960 – 1965
Ngân hàng đã cung ứng vốn cấp phát để kiến thiết những cơ sở công nghiệp,
những công trình xây dựng cơ bản phục vụ quốc kế, dân sinh và góp phần làm thay đổi
diện mạo nền kinh tế miền Bắc.
3. Giai đoạn 1965 – 1975
Ngân hàng đã cùng với nhân dân cả nước thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ bản
thời chiến, cung ứng vốn kịp thời cho các công trình phòng không, sơ tán...
4. Giai đoạn 1975 – 1981
Ngân hàng cùng nhân dân cả nước khôi phục và hàn gắn vết thương chiến tranh,
tiếp quản, cải tạo và xây dựng các cơ sở kinh tế ở miền Nam, xây dựng các công trình
quốc kế dân sinh mới trên nền đổ nát của chiến tranh.
II. Thời kỳ Ngân hàng Đầu tƣ và Xây dựng Việt Nam (1981 – 1990)

quân 25%/năm và lợi nhuận trước thuế tăng bình quân 45%/năm.
Cơ cấu lại hoạt động theo hướng hợp lý hơn: Chuyển dịch cơ cấu khách hàng để
giảm tỷ trọng dư nợ tín dụng trong khách hàng doanh nghiệp Nhà nước, hướng tới đối
tượng tiêu dùng…
Hoàn thành tái cấu trúc mô hình tổ chức quản lý, hoạt động, điều hành theo tiêu
thức Ngân hàng hiện đại: Củng cố và phát triển mô hình tổ chức, hình thành và phân
định rõ khối ngân hàng, khối công ty trực thuộc… làm tiền đề xây dựng đề án cổ phần
hoá.
Không ngừng đầu tư cho chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ nòng cốt cho ngành, đào tạo và đào tạo lại cán bộ, tuyển dụng
nguồn nhân lực trẻ có tri thức và kỹ năng đáp ứng các yêu cầu của hội nhập….
3. Từ 27/04/2012 đến nay: Chính thức trở thành Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát
triển Việt Nam (BIDV)
(Nguồn: Văn phòng – Chi nhánh BIDV Cầu Giấy)

22

Footer Page 22 of 161.


Header Page 23 of 161.
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát
triển Việt Nam – Chi nhánh Cầu Giấy
Ngày 30/10/1963 chi điểm 2 thuộc Chi nhánh Ngân hàng Kiến thiết Hà Nội (tiền
thân của BIDV Cầu Giấy) được thành lập. Từ khi thành lập cho tới nay, Chi nhánh
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy trải qua 4 giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1963 – 1980: Nằm trong mạng lưới của BIDV, BIDV Cầu Giấy tiền
thân là chi điểm 2 trực thuộc Ngân hàng Kiến thiết thành phố Hà Nội được thành lập
ngày 30/10/1963 đóng tại thôn Trung – xã Dịch Vọng – huyện Từ Liêm. Nhiệm vụ
chủ yếu của Chi nhánh là thực hiện cấp phát, quản lý vốn kiến thiết cơ bản từ nguồn


Thang Long University Library


Header Page 24 of 161.
2.2. Khái quát cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt
Nam – Chi nhánh Cầu Giấy giai đoạn năm 2012 – 2014
2.2.1. Những quy định chung về cho vay tiêu dùng
Điều 1: Điều kiện cấp tín dụng đối với khách hàng
Khách hàng bán lẻ đáp ứng các điều kiện vay vốn theo quy định tại Quy chế cho
vay hiện hành của BIDV.
Sinh sống hoặc làm việc thường xuyên: Tại tỉnh/thành phố Chi nhánh BIDV cho
vay hoặc địa bàn giáp ranh tỉnh/thành phố Chi nhánh cho vay.
Điều 2: Đồng tiền cho vay: Là đồng Việt Nam (VNĐ). Trường hợp khách hàng
có nhu cầu cho vay bằng ngoại tệ, Chi nhánh tuân thủ theo các quy định hiện hàng về
cho vay bằng ngoại tệ, quản lý ngoại hối của NHNN và BIDV.
Điều 3: Mức cho vay
Căn cứ xác định mức cho vay: Nhu cầu vay vốn của khách hàng; Khả năng hoàn
trả nợ của khách hàng; Tài sản bảo đảm cho khoản vay.
Mức cho vay: Tối đa 70% nhu cầu vốn của khách hàng theo thẩm định của ngân hàng.
Điều 4: Thời hạn cho vay
Nguyên tắc xác định thời hạn cho vay: Phù hợp với nhu cầu vay vốn, khả năng
trả nợ của khách hàng, thời hạn cư trú còn lại tại Việt Nam (đối với khách hàng là cá
nhân nước ngoài).
Thời hạn cho vay: Đối với cho vay ngắn hạn: tối đa đến 12 tháng; Đối với cho
vay trung hạn: từ 12 tháng đến tối đa 60 tháng; Đối với cho vay dài hạn: trên 60 tháng.
Điều 5: Phương thức cấp tín dụng: Theo món; Theo hạn mức; Theo hạn mức
tín dụng dự phòng; Theo hạn mức thấu chi.
Điều 6: Phương thức giải ngân: Giải ngân một hoặc nhiều lần; Giải ngân bằng
tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản của khách hàng tại BIDV, của người thụ

vốn vay trước và trong quá trình duyệt vay, giải ngân nhằm đảm bảo phù hợp với hồ
sơ và thực tế.
Kiểm tra, giám sát sau giải ngân
Đối với khoản vay tiêu dùng từ 01 tỷ đồng trở lên: Giám đốc Chi nhánh chủ động
xem xét, quyết định việc kiểm tra, giám sát khoản vay định kỳ tối thiểu 1 năm/lần hoặc
đột xuất, đảm bảo khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích.
Kiểm tra, giám sát tài sản bảo đảm
Chi nhánh thực hiện kiểm tra, định giá lại TSĐB theo quy định hiện hành của
BIDV về giao dịch bảo đảm trong cho vay.
(Nguồn: Phòng Quan hệ khách hàng cá nhân – Chi nhánh BIDV Cầu Giấy)
2.2.2. Tình hình doanh số cho vay tiêu dùng
Sau đây là tình hình doanh số CVTD tại Chi nhánh BIDV Cầu Giấy giai đoạn
năm 2012 – 2014:

25

Footer Page 25 of 161.

Thang Long University Library



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status