HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
TÀI CHÍNH VÀ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ
Đề tài:
VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN TRONG THƯƠNG
MẠI VÀ THANH TOÁN QUỐC TẾ
Nhóm
: Sunny
Lớp
: CH.17.01H
Ngành
: Tài chính – Ngân hàng
Hà Nội - 2016
DANH SÁCH NHÓM
STT
1
Họ và tên
Nguyễn Lan Hương
- Các loại vận đơn đường biển trong 100%
thương mại và thanh toán quốc tế
5
Vũ Thu Hường
- Những lưu ý khi kiểm tra vận đơn
100%
100%
6
Nguyễn Thị Huyền - Khái quát về vận đơn đường biển
Trang
- Thuyết trình
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong tình hình kinh tế hội nhập, giao thương giữa các quốc gia ngày càng được
đẩy mạnh. Việc buôn bán hàng hóa, hoạt động xuất nhập khẩu luôn được chú trọng
trong những năm. Phần lớn lượng hàng hóa trên thị trường thế giới do vận tải đường
biển đảm nhận. Đối với Việt Nam, vận tải đường biển càng có ý nghĩa hơn. Hàng hóa
xuất nhập khẩu ra vào Việt Nam chủ yếu qua các cảng biển và ngày càng gia tăng theo
thời gian.
phương thức vận tải đường biển, chính vì vậy B/L cũng chiếm một tỷ trọng rất lớn
trong tổng số chứng từ vận tải đang được sử dụng.
Nội dung của vận đơn
Vận đơn có nhiều loại do nhiều hãng tàu phát hành nên nội dung vận đơn cũng
khác nhau. Vận đơn được in thành mẫu, thường gồm 2 mặt, có nội dung chủ yếu như
sau:
Mặt thứ nhất thường gồm những nội dung:
Nội dung của mặt trước vận đơn do người xếp hàng điền vào trên cơ sở số liệu
trên biên lai thuyền phó.
- Số vận đơn (number of bill of lading)
- Người gửi hàng (shipper)
- Người nhận hàng (consignee)
- Địa chỉ thông báo (notify address)
- Chủ tàu (shipowner)
- Cờ tàu (flag)
- Tên tàu (vessel hay name of ship)
- Cảng xếp hàng (port of loading)
- Cảng chuyển tải (via or transhipment port)
- Nơi giao hàng (place of delivery)
- Tên hàng (name of goods)
- Kỹ mã hiệu (marks and numbers)
- Cách đóng gói và mô tả hàng hoá (kind of packages and discriptions of goods)
- Số kiện (number of packages)
- Trọng lượng toàn bộ hay thể tích (total weight or mesurement)
- Cước phí và chi chí (freight and charges)
3
- Số bản vận đơn gốc (number of original bill of lading)
- Thời gian và địa điểm cấp vận đơn (place and date of issue)
Thứ hai: Vận đơn gốc là chứng từ có giá trị, dùng để định đoạt và nhận hàng hay
nói đơn giản hơn vận đơn là chứng từ xác nhận quyền sở hữu hàng hoá ghi trong vận
đơn. Vì vậy, vận đơn có thể mua bán, chuyển nhượng được. Việc mua bán, chuyển
nhượng có thể được thực hiện nhiều lần trước khi hàng hoá được giao. Cứ mỗi lần
chuyển nhượng như vậy, người cầm vận đơn gốc trong tay là chủ của hàng hoá ghi
trong vận đơn, có quyền đòi người chuyên chở giao hàng cho mình theo điều kiện đã
quy định trong vận đơn tại cảng đến.
Thứ ba: Vận đơn đường biển là bằng chứng xác nhận hợp đồng chuyên chở hàng
hoá bằng đường biển đã được ký kết.
Trong trường hợp thuê tàu chuyến, trước khi cấp vận đơn đường biển, người thuê
tàu và người cho thuê tàu đã ký kết với nhau một hợp đồng thuê tàu chuyến (charter
party). Khi hàng hoá được xếp hay được nhận để xếp lên tàu, người chuyên chở cấp
cho người gửi hàng vận đơn đường biển. Vận đơn được cấp xác nhận hợp đồng vận tải
đã được ký kết.
Trong trường hợp thuê tàu chợ thì không có sự ký kết trước một hợp đồng thuê
tàu như thuê tàu chuyến mà chỉ có sự cam kết (từ phía tàu hay người chuyên chở) sẽ
dành chỗ xếp hàng cho người thuê tâù. Sự cam kết này được ghi thành một văn bản,
gọi là giấy lưu cước (booking note). Vậy vận đơn được cấp là bằng chứng duy nhất
xác nhận hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển đã được ký kết. Nội dung
của vận đơn là cơ sở pháp lý để giải quyết mọi tranh chấp xảy ra sau này giữa người
phát hành và người cầm giữ vận đơn.
1.3. Tác dụng của vận đơn
5
Thứ nhất: Vận đơn là cơ sở pháp lý điều chỉnh mối quan hệ giữa người xếp hàng,
nhận hàng và người chuyên chở.
Thứ hai: Vận đơn là căn cứ để khai hải quan và làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng
hoá.
Thứ ba: Vận đơn là căn cứ để nhận hàng và xác định số lượng hàng hoá người
hậu vào mặt sau của vận đơn và ghi tên người nhận hàng vào đó. Ví dụ: “To order of
consignee: Theo lệnh của người nhận hàng”.
+ Theo lệnh của ngân hàng phát hành (To order of a issuing bank) :hàng sẽ được
giao theo lệnh của ngân hàng được ghi trên vận đơn, ngân hàng đó sẽ ký hậu vào mặt
sau của vận đơn.
+ Theo lệnh của người gửi hàng (To order of shipper) : Với vận đơn này thì hàng
sẽ được giao cho người được chỉ định của người ký hậu chính là gửi hàng (shipper).
Đôi khi theo vận đơn được viết "To order"và để trống.Đối với trường hợp này, theo
tập quán thương mại quốc tế thì được hiểu rằng đó là theo lệnh của người gửi hàng.
Nhưng theo quan điểm của Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á- Thái Bình Dương
(ESCAP), nếu vận đơn được phát hành theo lệnh mà không ghi tên người nhận hàng
hoặc phát hành theo lệnh của người thụ hưởng và người thụ hưởng đã ký hậu nhưng
bỏ trống không ghi tên người thụ hưởng tiếp theo thì gọi là vận đơn vô danh.
Vận đơn theo lệnh được dùng thông dụng trong buôn bán và vận tải quốc tếvì có
thể lưu thông được nên rất thuận tiện cho việc chuyển nhượng quyền sở hữu hàng hóa,
chuyển nhượng bằng phương pháp thông thường và rất nhiều thuận lợi do nó mang lại
đảm bảo quyền lợi cho cả người mua và người bán.
Vận đơn theo lệnh có thể chuyển nhượng được nhờ phương pháp ký hậu thông
thường. Ký hậu là một thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu hàng hóa ghi trên vận đơn
từ người hưởng lợi này sang người hưởng lợi khác. Người ký hậu phải ký tên, đóng
dấu vào mặt sau của vận đơn và trao vận đơn cho người được chuyển nhượng (người
được hưởng lợi). Người ký hậu trên vận đơn không phải trình bày lý do chuyển
nhượng và cũng không phải thông báo trước cho người bán cũng như người chuyên
chở biết về việc chuyển nhượng quyền sở hữu đối với hàng hóa ghi trên vận đơn.
- Vận đơn vô danh: là vận đơn quy định giao hàng cho bất kỳ ai là người cầm vận
đơn hợp pháp. Có thể coi đây là một dạng vận đơn theo lệnh nhưng trên đó không ghi
theo lệnh của ai. Theo một cách khác, vận đơn theo lệnh có thể chuyển thành vận đơn
vô danh bằng cách ký hậu vào mặt sau nhưng không ghi rõ giao hàng theo lệnh của ai
vận chuyển bằng đường biển. Trong phương thức này, thường có một người đứng ra tổ
chức toàn bộ quá trình vận tải liên hợp, đó là CTO (Combined Transport Operator –
người tổ chức vận tải liên hợp), người đó sẽ cấp vận đơn vận tải liên hợp, người này sẽ
chịu trách nhiệm về hàng hóa trên toàn bộ hành trình vận chuyển. Trong vận tải liên
hợp có nhiều chặng chuyển chở với nhiều phương tiện vận tải khác nhau, ở chặng có
chứng từ chặng (Local Document) dùng để giải quyết mối quan hệ giữa những người
vận tải với nhau.
2.4. Căn cứ vào phê chú của thuyền trưởng trên vận đơn
- Vận đơn hoàn hảo (clean bill of lading): là loại vận đơn trên đó không có phê
chú xấu của thuyền trưởng về hàng hóa cũng như tình trạng của hàng hóa
Những điều ghi chung chung như “người gửi hàng xếp và đếm, niêm phong và
kẹp chì”, “không biết về số lượng, phẩm chất, nội dung bên trong”, “bao bì dùng lại,
thùng cũ”,.. không làm mất tính hoàn hảo của vận đơn. Một vận đơn mà người chuyên
chở hay đại diện của họ không ghi chú gì thì cũng coi là vận đơn hoàn hảo.
8
Lấy được vận đơn hoàn hảo có ý nghĩa quan trọng trong thương mại quốc tế.
Người mua cũng như ngân hàng đều yêu cầu phải có vận đơn hoàn hảo, vì vận đơn
hoàn hảo là bằng chứng hiển nhiên (Prima Facie Evidence) của việc xếp hàng tốt.
Muốn lấy được vận đơn hoàn hảo thì khi xếp hàng lên tàu phải đảm bảo hàng
không bị hư hỏng, đổ vỡ, bao bì không rách, không bị ướt và trông bên ngoài rất tốt,
nghĩa là phải có một biên lai thuyền phó (Mate’s Receipt) sạch. Trong trường hợp,
Biên lại Thuyền phó không sạch, người gửi hàng có thể xuất trình Thư bảo đảm
(Letter of Indemnity) cam kết chịu mọi hậu quả xảy ra, đều yêu cầu Thuyền trưởng
cấp vận đơn hoàn hảo. Tuy nhiên, thư đảm bảo đó không có giá trị pháp lý, không
được các tòa án thừa nhận nên các thuyền trưởng khôn ngoan thường không chấp
nhận.
- Vận đơn không hoàn hảo (Unclean bill of lading): là vận đơn mà ở trên đó có
phê chú xấu của thuyền trưởng về hàng hóa cũng như tình trạng của hàng hóa
gọi là vận đơn hải quan. Vận đơn hải quan chỉ dùng để giải quyết các thủ tục hải quan
- Vận đơn của người giao nhận (Forwarder B/L): ngày nay người giao nhận
không chỉ làm đại lý, ủy thác giao nhận hàng hóa đơn thuần mà họ còn có thêm chức
năng vận tải. Vì thế người giao nhận sẽ cấp cho người giao hàng cho minh một vận
đơn gọi là vận đơn của người giao nhận
- Vận đơn Container: gồm có vận đơn container nguyên (Full container load –
FCL) và vận đơn Container hàng lẻ (less than container load – LCL). Trong FCL
người chuyên trở nhận hàng trực tiếp từ người gửi hàng là những container nguyên đã
được niêm phong kẹp chì, thì người chuyên trở cấp cho người gửi hàng một vận đơn
gọi là Container Bill of Lading. Trong LCL thì những hàng hóa không đủ để đóng
chung hàng những người khác trong cùng một container mà phải gửi hàng với những
người khác trong cùng một container thì người chuyên chở sẽ cấp cho người gửi hàng
một vận đơn container hàng lẻ
- Vận đơn xếp hàng lên boong (Deck B/L) là vận đơn được cấp trong trường hợp
hàng được xếp trên boong để chuyên chở
- Vận đơn điện tử (BOLERO Bill of lading): những năm gần đây thương mại
điện tử được ra đời và phát triển nhanh, các loại vận đơn thông thường không đáp ứng
được yêu cầu của thương mại điện tử, vì vậy trong thương mại và hàng hải quốc tế
người ta bắt đầu thử nghiệm một loại vận đơn mới áp dụng cho thương mại điện tử gọi
là Bolero bill of lading
- Vận đơn của bên thứ ba (Third party B/L): là vận đơn mà người thụ hưởng
(beneficiary) thư tín dụng (L/C) không phải là người gửi hàng hàng người giao hàng
(Shipper) mà là người khác. Vận đơn loại này thường được sử dụng trong xuất khẩu
ủy thác khi đơn vị sản xuất, kinh doanh không trực tiếp xuất khẩu mà làm việc này
thông qua một đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu. Nếu L/C có quy định chấp nhận vận
đơn bên thứ ba có nghĩa là vận đơn và các chứng từ gửi hàng khác được phép ghi tên
người giao hàng (người gửi hàng) không phải là người thụ hưởng L/C
- Vận đơn có thể thay đổi (Switch B/L) viết tắt “S/B”, là vận đơn cho phép thay
đổi một số chi tiết trên đó theo thỏa thuận giữa các bên có liên quan như: ngày ký vận
đơn, người gửi hàng (người giao hàng), cảng bốc, cảng dỡ hàng, số lượng
minh người nhận hàng đúng là người có tên trên “Giấy gửi hàng đường biển”. Giấy tờ
này có thể chỉ là Giấy giới thiệu (của tổ chức, công ty) và Giấy chứng minh nhân dân
của người đi nhận hàng thay mặt công ty hoặc giấy tờ tùy thân nếu là hàng của cá
nhân.
Nhìn chung phân loại theo cách nào các vận đơn đều có các đặc điểm cơ bản là:
- Vận đơn là chứng từ vận chuyển làm bằng chứng về việc người vận chuyển đã
nhận hàng hóa với số lượng, chủng loại, tình trạng như được ghi trong vận đơn để vận
11
chuyển đến nơi trả hàng, bằng chứng về sở hữu hàng hóa dùng để định đoạt, nhận
hàng và là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển.
- Nội dung của vận đơn bao gồm tên và trụ sở chính của người vận chuyển, tên
người nhận hàng hoặc ghi rõ vận đơn được ký phát dưới dạng vận đơn theo lệnh hoặc
vận đơn vô danh, tên tàu biển, mô tả chủng loại, kích thước, thể tích, số lượng đơn vị,
trọng lượng hoặc giá trị hàng hóa, nếu xét thấy cần thiết, mô tả tình trạng bên ngoài
hoặc bao bì hàng hóa, ký, mã hiệu và đặc điểm nhận biết hàng hóa mà người giao hàng
đã thông báo bằng văn bản trước khi bốc hàng lên tàu biển và được đánh dấu trên từng
đơn vị hàng hóa hoặc bao bì; cước vận chuyển và các khoản thu khác của người vận
chuyển, phương thức thanh toán, nơi bốc hàng và cảng nhận hàng, cảng trả hàng hoặc
chỉ dẫn thời gian, địa điểm sẽ chỉ định cảng trả hàng, số bản vận đơn gốc đã ký phát
cho người giao hàng, thời điểm và địa điểm ký phát vận đơn, chữ ký của người vận
chuyển hoặc thuyền trưởng hoặc đại diện khác có thẩm quyền của người vận chuyển.
- Về ghi chú trong vận đơn, người vận chuyển có quyền: ghi các nhận xét của
mình nếu có nghi vấn về tình trạng bên ngoài hoặc bao bì hàng hóa, từ chối ghi trong
vận đơn sự mô tả về hàng hóa, nếu có đủ căn cứ nghi ngờ tính chính xác về lời khai
báo của người gửi hàng, người giao hàng ở thời điểm bốc hàng hoặc khi không có điều
kiện xác minh; từ chối ghi trong vận đơn ký, mã hiệu hàng hóa, nếu chúng chưa được
đánh dấu rõ ràng trên từng kiện hàng hoặc bao bì, bảo đảm dễ nhận thấy khi chuyến đi
kết thúc
thuận lợi trong việc làm thử tục chuyển giao vận đơn ho người mở LC, ngoài ra nó còn
linh hoạt trong việc chuyển nhượng, mua bán, cầm cố, thế chấp khi hàng chưa tới nơi.
+ Trường hợp người gửi hàng chưa muốn giao hàng cụ thể cho ai, thì ghi vào ô
này với nội dụng “giao hàng theo lệnh của người gửi hàng – to order of Shipper”. Đối
với vận đơn này nếu người gửi hàng không ký hậu thì chỉ có anh ta mới có quyền nhận
hàng tại cảng đích. Nếu người gửi hàng ký hậu để trống thì vận đơn sẽ trở thành vận
đơn vô danh.
+ Vận đơn vô danh là vận đơn bị để trống ô “người nhận hàng” hoặc ghi câu “to
the holder”. Trong thực tế loại vận đơn vô danh ít được sử dụng do nó dễ bị lạm dụng
để chiếm đoạt hàng hóa, nên cả người gửi hàng, ngân hàng phát hành LC và người mở
LC đều không chấp nhận vận đơn này.
Nói chung, mục này nên giống trên yêu cầu của thư tín dụng (L/C) nếu áp dụng
thanh toán bằng tín dụng chứng từ.
- Number of Original Bill of Lading: Số bản vận đơn gốc phát hành thường được
phát hành thành bộ gồm 3 bản gốc. Người chuyên chở sẽ giao hàng cho ai xuất trình
vận đơn gốc hợp pháp đầu tiên tại cảng đến, do đó, NH cần phải biết được số bản gốc
vận đơn được phát hành là bao nhiêu để theo dõi và kiểm soát hàng hóa.
- Bên được thông báo: Tùy theo quy định của hợp đồng thương mại hay LC mà
điện cho thích hợp. Thông thường, ô này đề tên và địa chỉ của người nhập khẩu hay
ngân hàng phát hành LC vì những người này cần được thông báo tin tức của chuyến
tàu và hàng hóa khi cập cảng đích. Nếu ô này để trống thì phải hiểu là thông báo cho
người nhận hàng.
13
- Ngày và nơi phát hành vận đơn: nếu không có ghi chú đặc biệt thì thông
thường ngày phát hành vận đơn là ngày giao hàng. Nơi phát hành vận đơn có thể ghi
địa chỉ của người chuyên chở hay đại lý của họ, cảng xếp hay địa điểm do hai bên thoả
thuận.
- Ký hiệu mã, số lượng, mô tả hàng hóa:
Hầu hết các vận đơn đường biển đều có những đặc điểm hình thức sau đây:
14
+ Là một tờ giấy khổ A4, được in màu cả 2 mặt.
+ Mặt trước bao gồm các ô, cột in sẵn các tiêu đề để trống, khi lập vận đơn người
ta điền vào cho thuận tiện. VD: Bill of Lading, Ocean Bill of Lading, Marine Bill of
Lading, Sea Bill of Lading,…
+ Mặt sau in các điều khoản và các quy đinh, điều kiện chuyên chở đã được
chuẩn hóa và được điều chỉnh bởi các Công ước Quốc tế về vận tải đường biển, do đó
các bên tham gia thường không quan tâm tới, mà chỉ để ý tới mặt trước.
3.1.3. Về ghi chú bốc hàng lên tàu
Căn cứ vào tình trạng bốc xếp hàng hóa, vận đơn đường biển chia làm 2 loại:
Vận đơn đã bốc lên tàu và Vận đơn nhận hàng để chở.
Vận đơn đã bốc hàng lên tàu
Trong thương mại quốc tế, các điều kiện cơ sở giao hàng FOB, CIF và CFR được
sử dụng phổ biến. do đó, nhà nhập khẩu cũng như ngân hàng phát hành L/C thường
yêu cầu xuất trình vận đơn đường biển loại “Đã bốc hàng lên tàu” thì mới được thanh
toán.
Vận đơn thuộc loại “đã bốc hàng lên tàu” sẽ có ghi hay đóng dấu thêm các chữ
như sau:
+ Shipped on board
+ On board
+ Shipped
+ Laden on board
+ Laden
Vận đơn “đã bốc” có giá trị chứng cứ rất lớn, nó là bằng chứng chững minh hàng
hóa đã được bốc lên tàu để chở và người bán đã hoàn thành trách nhiệm giao hàng cho
người mua theo đúng hợp đồng thương mại.
Quy tắc xác định ngày giao hàng:
gia thương mại và thanh toán quốc tế khẳng định người bán đã thực hiện đúng thời hạn
giao hàng được quy định trong Hợp đồng thương mại hoặc L/C.
Căn cứ để xác định ngày giao hàng: Ngày giao hàng được căn cứ vào chứng từ
vận tải (trong vận chuyển bằng đường biển là vận đơn). Nếu trên vận đơn đã in sẵn từ:
“Shipped On board – đã bốc hàng” được xuất trình thì ngày phát hành vận đơn được
coi là ngày bốc hàng lên tàu và cũng chính là ngày giao hàng. Trường hợp trên tờ vận
đơn ghi chú ngày bốc hàng lên tàu riêng biệt, khác với ngày phát hành vận đơn thì
ngày bốc hàng lên tàu được coi là ngày giao hàng cho dù ngày bốc hàng lên tàu có thể
trước hoặc sau ngày phát hành vận đơn. Vận đơn thể hiện hàng đã bốc lên tàu thực tế
có thể diễn đạt bằng nhiều cụm từ khác nhau:
“ Laden on board – Đã bốc hàng lên tàu”;
“Clean on board – Đã bốc hàng lên tàu, hoàn hảo”;
“Shipped – Đã bốc hàng”;
“On board – Đã bốc lên tàu”
Các cụm từ thể hiện như trên đều cùng nghĩa với cụm từ “Shipped on board – đã
bốc hàng lên tàu”. Trường hợp trên tờ vận đơn có ghi “con tàu dự kiến – intended”
hoặc quy định tương tự liên quan đến tên tàu vận chuyển thì ghi chú xếp hàng lên tài
nào phải ghi rõ tên tàu, ngay cả khi xếp hàng lên chính con tàu dự kiến vận chuyển.
Kết luận về ngày giao hàng:
- Trường hợp B/L có ghi chú On Board: Ngày của ghi chú On Board - OBN (On
Board Notation) sẽ được coi là ngày giao hàng cho dù ngày On Board trước hoặc sau
ngày phát hành B/L. Nếu trên 1 B/L có nhiều hơn một ghi chú On Board, ngày On
16
Board sớm hơn sẽ được coi là ngày giao hàng. Nếu bộ chứng từ được xuất trình nhiều
hơn một bộ B/L thì ngày On Board muộn hơn sẽ được coi là ngày giao hàng.
- Trường hợp B/L không ghi chú On Board: Ðối với trường hợp này, ngày phát
hành sẽ được coi là ngày giao hàng.
3.2.2. Ghi chú On Board trên B/L (OBN)
- Trên B/L không có chặng trước cho dù có nơi nhận hàng để chở khác với cảng
bốc hàng theo L/C.
3.2.3. Cảng đi, cảng đến
17
Cảng đi và cảng đến trên B/L đòi hỏi phải phù hợp với quy định của L/C. Tuy
nhiên, do nhiều hãng chuyên chở muốn phản ánh đầy đủ các thông tin trên bề mặt B/L
từ nơi nhận hàng để chở cho đến nơi chuyển tải, cảng dỡ nhưng phần lớn trên B/L
không có mục in sẵn chuyển tải, vì vậy, người phát hành B/L không đủ các mục in sẵn
để điền thông tin vào ô thích hợp, dẫn đến tình trạng điền thông tin vào B/L không
đúng vị trí. Những trường hợp thường gặp, đó là: tên cảng dỡ được điền vào
Destination hoặc tên cảng bốc hàng được điền vào mục Place of receipt hoặc tên cảng
chuyển tải được điền vào mục Port of unloading... Ðối với những trường hợp này, đòi
hỏi có sự ghi chú để chỉ ra đúng cảng được quy định trong L/C.
Trường hợp nếu L/C quy định một khu vực địa lý hay một loạt cảng bốc (hoặc
dỡ) thì cảng bốc (hoặc dỡ) thực tế phải được thể hiện trên vận đơn và các cảng trên
vận đơn phải nằm trong khu vực địa lý hoặc trong số các cảng đã quy định trong L/C.
3.2.4. Người chuyên chở
Người chuyên chở cần được thể hiện rõ trên B/L. Một vấn đề đặt ra đối với việc
phát hành B/L là người chuyên chở, người ký phát B/L và letter head của B/L có thể
khác nhau. Vì vậy, cần thể hiện rõ tên của người chuyên chở trên bề mặt B/L. Người
chuyên chở trên thực tế có thể là:
- Người vận chuyển ký vận đơn: Người vận chuyển ký và ghi rõ tên đồng thời
phải thể hiện là người vận chuyển.
- Đại lý của người vận chuyển ký vận đơn: Đại lý của người vận chuyển ký vận
đơn phải ghi rõ tên đồng thời thể hiện là đại lý thay mặt người vận chuyển.
- Thuyền trưởng ký vận đơn: Thuyền trưởng ký vận đơn phải thể hiện rõ là
thuyền trưởng.
chứng từ nêu trên, việc ký hậu được thực hiện hoàn toàn bằng tay, nên ở đây không có
sự sai biệt. Tuy nhiên, quan điểm này của ICC được ban hành trước khi có UCP 600.
Ðối với phiên bản mới nhất UCP 600, tương ứng với ISBP 681.
Phiên bản ISBP 681 không có quy định riêng về cách thức ký hậu, nhưng có một
quy định chung về nghiệp vụ ký ở các chứng từ mà theo quan điểm của tác giả, có thể
áp dụng vào ký hậu vận đơn.
Ngay cả khi thư tín dụng yêu cầu ký hậu cần phải được ký và đóng dấu
(document to be “signed and stamped”), thì yêu cầu này có thể được đáp ứng bằng
việc thể hiện chữ ký và tên gọi của chủ thể được thực hiện bằng đánh máy, đóng dấu
hoặc hoàn toàn bằng tay. (Ðiều 39 ISBP 681).
b) Chủ thể ký hậu - Endorser
- Trường hợp 1: Khi ký hậu có cần phải nêu rõ tên của doanh nghiệp đi kèm?
Trong vụ án giữa Hilditch Pty Ltd v Dorval Kaiun (No 2) [2007] FCA 2014, L/C
yêu cầu xuất trình trọn bộ B/L theo “lệnh của người gửi hàng và ký hậu để trống”,
người thụ hưởng xuất trình bộ vận đơn thể hiện ở mặt sau chỉ có duy nhất chữ ký,
không có các thông tin về tên công ty, chức danh của người ký. Liệu rằng chữ ký như
vậy đã đủ cấu thành nên nghiệp vụ ký hậu hoàn chỉnh?
Kiểm tra lại bộ chứng từ, các chuyên gia thấy rằng, chữ ký ở mặt sau của vận
đơn giống với chữ ký trên hóa đơn thương mại do người thụ hưởng (trùng tên với
người gửi hàng) ký phát. Nên dẫn tới kết luận là chữ ký trên mặt sau của vận đơn là
hợp lệ.
19
Tuy nhiên, nếu như trong bộ chứng từ (ngoài B/L) không có chữ ký của người
thụ hưởng thì sao. Giả thuyết này hoàn toàn có thể xảy ra vì theo Ðiều 18 UCP 600,
khi L/C không yêu cầu, thì hóa đơn thương mại không cần phải ký. Ðể giải quyết thắc
mắc này, chúng ta viện dẫn tới Ðiều 34 UCP 600 - Miễn trách về tính hiệu lực của
chứng từ và Ðiều 14d UCP 600 - Về tính phù hợp về thông tin trên chứng từ với L/C,
UCP, các chứng từ khác và chính bản thân chứng từ đó. Nếu như ở các chứng từ khác
Vấn đề này được đặt ra dựa trên thực tiễn nhà xuất khẩu thường ủy quyền cho
người giao nhận hàng hóa (forwarder) thực hiện việc giao hàng. Do đó, trong mục
consignee (người nhận hàng) được thể hiện là:
“ABC Logistics on behalf of (name of exporter)” (Công ty logistics ABC đại
diện cho nhà xuất khẩu…) thay vì thể hiện tên và địa chỉ của người gửi hàng thực tế.
(Lưu ý: trong trường hợp này ABC Logistics được gọi là người gửi hàng danh nghĩa).
Câu hỏi được đặt ra ở đây là, ai sẽ là người thực hiện ký hậu - nhà xuất khẩu hay
người giao nhận hàng hóa?
Thực tế là người giao nhận hàng hóa thường chỉ được ủy quyền giao hàng hóa và
chuẩn bị bộ chứng từ gửi hàng để xuất trình cho ngân hàng đòi thanh toán. Trong các
mẫu thư ủy quyền hoặc hợp đồng đối với người giao nhận hàng hóa thường không
kèm theo sự ủy quyền ký hậu vận đơn.
Theo luật pháp của quốc tế cũng như của các quốc gia liên quan tới B/L, chỉ
người gửi hàng thực tế (nhà xuất khẩu) mới là người có đủ thẩm quyền để ký hậu.
Do đó, trong trường hợp này, nếu người giao nhận hàng hóa thực hiện ký hậu thì
trong bộ chứng từ xuất trình tới ngân hàng cần có thư ủy quyền (Power of attorney
hoặc Letter of authorization) liên quan tới việc ký hậu đính kèm với vận đơn.
c) Chủ thể nhận ký hậu - Endorsee
Có những trường hợp, tên của người nhận ký hậu lại được thể hiện sai hoặc do
bản thân người gửi hàng lại muốn giao hàng cho chủ thể khác. Chính vì thế, sau khi ký
hậu, tên gọi người nhận hàng trên vận đơn khác với tên người nhận hàng thực tế được
yêu cầu trong B/L.
Ðối với bộ vận đơn thể hiện như vậy, ngân hàng hoàn toàn có quyền bắt lỗi. Tuy
nhiên, nếu người nhập khẩu thực tế muốn nhận hàng, ngân hàng có thể xử lý vấn đề
này bằng cách yêu cầu chủ thể ký hậu phát hành thư xác nhận (Letter of confirmation)
thể hiện: (i) anh ta đã sai khi nêu tên của người nhận ký hậu; (ii) nêu tên của người
nhận ký hậu thực tế; và để đảm bảo an toàn cho mình, ngân hàng cần yêu cầu (iii)
người ký hậu cần phải cam kết chịu trách nhiệm về những vấn đề liên quan có thể xảy
ra sau này.
Người nhận hàng, bên thông báo
Liên quan đến thông tin về người nhận hàng (consignee) và bên thông báo
(notify party) trên các chứng từ vận tải, ngoài hướng dẫn tương tự như ISBP 681,
ISBP 745 hướng dẫn bổ sung như sau:
Khi L/C quy định chi tiết của một hay nhiều bên thông báo (notify party), chứng
từ vận tải cũng có thể thể hiện chi tiết của một hoặc nhiều bên thông báo bổ sung.
Khi L/C không có yêu cầu một bên thông báo thể hiện trên chứng từ vận tải
nhưng chi tiết về người yêu cầu phát hành L/C thể hiện là bên thông báo, và những chi
tiết này bao gồm các chi tiết về địa chỉ và các chi tiết liên hệ, thì chúng không được
mâu thuẫn với các chi tiết được nêu trong L/C.
Khi L/C yêu cầu chứng từ vận tải thể hiện hàng hóa được gửi cho hoặc theo lệnh
của “NHPH” hay “người yêu cầu phát hành L/C” hoặc thông báo cho “người yêu cầu
phát hành L/C” hoặc“NHPH”, thì chứng từ phải thể hiện tên NHPH hoặc người yêu
cầu phát hành L/C nhưng không cần phải thể hiện chi tiết về địa chỉ và chi tiết liên lạc
của NHPH hoặc người yêu cầu phát hành L/C .
22
Khi các chi tiết về địa chỉ và chi tiết liên lạc của người yêu cầu thể hiện là một
phần của các chi tiết về người nhận hàng hoặc bên thông báo, thì chúng không được
mâu thuẫn với các chi tiết được nêu trong L/C.
Điều 19 UCP 600
Liên quan đến Điều 19 UCP 600,ISBP 745 cho rằng khi LC yêu cầu xuất trình
một chứng từ vận tải không phải là chứng từ vận tải đa phương thức, nhưng LC cho
thấy hành trình sử dụng nhiều hơn một phương thức, ví dụ, khi nơi nhận hàng hoặc
nơiđến cuối cùng là một nơi trong nội địa, hoặc khi trường ghi cảng bốc hàng hoặc
cảng dỡ hàng thực tế là một nơi trong nội địa chứ không phải là một cảng thì Điều 19
UCP 600 được sử dụng để kiểm tra chứng từ đó.
Lưu ý rằng hướng dẫn của ISBP 745 về vấn đề này hoàn toàn trái ngược với
quan điểm của ICC trước đây.
mà chỉ có thể coi đó là việc vi phạm điều khoản đã thỏa thuận trước. Trong trường hợp
này, người bán giao hàng vào tháng 2 sẽ phải bớt giá bán theo thỏa thuận.
Người mua lập luận, nếu họ biết được rằng vận đơn đã bị để sai ngày thì họ đã
không nhận hàng. Tuy nhiên, nếu người bán bán không gian lận thì trên vận đơn có thể
ghi ngày 06 hoặc 10 tháng 2 trong trường hợp đó người mua không có quyền từ chối
thanh toán tiền hàng. Họ chỉ được quyền khấu trừ mức giá thỏa thuận do người bán đã
giao hàng sai thời hạn cho phép. Nếu như chính xác người bán liên can tới việc cố tình
để sai ngày bốc hàng thì người này có thể bị truy cứu về tội lừa đảo.
Qua án lệ trên chúng ta rút ra bài học sau:
- Nếu người mua có những bằng chứng chứng minh những tài liệu đó sai với
thực tế thì họ có thể từ chối nhận hàng và từ chối trả tiền.
- Khi người bán theo hợp đồng có qui định điều kiện CIF đã xuất trình bộ chứng
từ cho ngân hàng có nghĩa là anh ta đã cam kết và bảo đảm nội dung chân thật của
các tài liệu đó trên mọi phương diện
4.2. Tranh chấp liên quan đến vận đơn đích danh
Ngày nay, hầu hết hàng hóa đều được vận chuyển bằng container. Do đó, các
hãng tàu đều cấp cho các chủ hàng vận đơn đích danh hoặc theo lệnh dưới dạng vận tải
đa phương thức, bởi lẽ container thường được đóng hàng tại bãi sau đó sẽ được xe tải
chở ra cầu cảng để xếp lên tàu. Đối với vận đơn đích danh, theo quy định của luật
pháp nhiều nước áp dụng hệ thống luật án lệ, khi hàng đến cảng đích người cầm vận
đơn chỉ cần xuất trình bản sao và chứng minh được rằng mình là người nhận hàng có
tên trong đó là có thể nhận hàng mà không cần xuất trình vận đơn gốc. Đạo luật
Pomerene (Title-49 Section 801) của Hoa Kỳ coi vận đơn đích danh không chuyển
nhượng được không khác gì giấy gửi hàng đường biển, vì vậy, khi nhận hàng, người
nhận hàng chỉ cần xuất trình bản sao là có thể lấy được hàng. Luật pháp Australia,
New Zealand v.v.. cũng không có gì khác gì về phương diện này. Điều 19.3, Nghị định
24