A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ là một quá trình tác động có mục đích,
có kế hoạch lên tình cảm, lý trí của trẻ nhằm thay đổi nhận thức, thái độ, hành
động để trẻ tự giác chăm lo đến vấn đề ăn uống, vệ sinh sức khoẻ, cá nhân tập
thể và cộng đồng.
Thủa sinh thời Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng nói: “Trẻ em hôm
nay thế giới ngày mai” Thật vậy! Trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình,
là tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp của cha ông để xây dựng
bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Ngày nay chúng ta đang sống trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, nền kinh tế không ngừng phát triển với một sự thay đổi căn bản về cơ
cấu xã hội để tiếp cận với một nền văn minh phát triển cao.
Thực hiện nhiệm vụ của bộ giáo dục và đào tạo, ngành học mầm non đã
đưa nội dung chăm sóc, nuôi dưỡng vào chương trình chăm sóc giáo dục trẻ.
§ây là việc làm vô cùng cần thiết, nó tạo được sự liên thông chăm sóc nuôi
dưỡng giáo dục từ độ tuổi mầm non cho đến lứa tuổi học đường.
Dinh dưỡng là nhu cầu sống hàng ngày của con người, trẻ em cần dinh
dưỡng để phát triển thể lực và trí lực, người lớn cần dinh dưỡng để duy trì sự
sống và làm việc, hay nói cách khác dinh dưỡng quyết định sự tồn tại và phát
triển của cơ thể. Chính vì vậy chúng ta có thể khẳng định rằng dinh dưỡng vô
cùng quan trọng đối với đời sống của con người. Đặc biệt là đối với trẻ mầm
non.
Đây việc làm vô cùng cần thiết, nó tạo được sự liên thông giáo dục dinh
dưỡng từ độ tuổi mầm non đến lứa tuổi học đường. Cho đến nay, chuyên đề giáo
dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm đã được tổng kết. Song năm học
2011 - 2012 trường Mầm non Nga Thái vẫn tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện
chuyên đề đến toàn bộ cán bộ, giáo viên, nhân viên trong toàn trường, từ đó giúp
cho tôi nắm vững nội dung, phương pháp một cách thường xuyên và liên tục về
1
công trình nghiên cứu cho thấy, trí nhớ, sức chú ý, sự cần cù, độ dẻo giai trong
học tập phụ thuộc vào trạng thái chung của sức khoẻ con người.
Trong thời đại của nÒn văn minh trí tuệ. Giáo dục mầm non đang có những
chuyển biến mới về chất lượng, đổi mới chung của ngành giáo dục. Dưới ánh
sáng của nghị quyết về công tác cải cách giáo dục điều lệ trường mầm non cũng
đã nêu lên nhiệm vụ hàng đầu trong 4 nhiệm vụ của trường mầm non. Vì vậy
việc chăm sóc sức khoẻ cho trẻ nhằm phát triển cân đối hài hoà, nhằm chống đỡ
bệnh tật: Vì thế nếu chúng ta chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh khong tốt về các
nhân trẻ, môi trường trong và ngoài lớp đều gây cho trẻ ốm đau bệnh tật, dẫn
đến sự phát triển về thể chất bị kìm hãm, các quá trình tâm lý đang độ hình
thành cũng không thể nào phát triển một cách cân đối hài hoà trên một cơ thể
gầy gò ốm yếu.
Từ nhữnglý luận và thực tiễn công tác của bản thân tôi đã xác định được có
tới 95% trẻ em trí tụê kém phát triển là do sức khoẻ, thể lực phát triển không tốt
vì vậy chúng ta cần tránh một số quan điểm chưa đúng đối với ngành học mầm
non đó là.
Quan điểm đánh giá về chất lượng, chỉ đánh giá về kết quả học tập các
môn như toán, môi trường xung quanh, âm nhạc , tạo hình… mà chưa thực sự
quan tâm đến công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và lồng ghép nội dung giáo dục
dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ ở trường mầm non.
Điều kiện của trẻ sẽ được chăm sóc nuôi dưỡng chu đáo, nuôi dạy con theo
phương pháp khoa học, trẻ được phát triển cân đối giữa 2 mặt thể lực và trí tuệ ,
cả một ngày trẻ được ăn ,ngủ, nghỉ ngơi, học tập, vui chơi, vệ sinh các nhân sạch
sẽ…hợp lý nên sức khoẻ của trẻ đảm bảo tốt.
Trẻ được ở bán trú, trẻ biết lao động tự phục vụ các nhân, biết giữ gìn vệ
sinh chung, hình thành thói quen nề nếp, ý thức kỷ luật của cô đề ra, tạo điều
kiện cho trẻ giao lưu bạn bè trong lớp, vui chơi với các cô, các bạn,các cô cấp
dưỡng y tá. Dần dần hình thành cho trẻ tình cảm yêu thương, nhường nhịn giúp
phòng giáo dục Huyện Nga Sơn, các cấp uỷ Đảng chính quyền địa phương tạo
điều kiện quan tâm giúp đỡ xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị và đặc biệt là
nhà trường có một đôi ngũ giáo viên trẻ năng động nhiệt tình thực sự yêu nghề
4
mến trẻ, đặc biệt là có kiến thức về vấn đề dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực
phẩm.Từ đó đã tạo được niềm tin cho các bậc phụ huynh và nhân dân trong toàn
xã.
Là một giáo viên, năm học này tôi được nhà trường phân công dạy lớp mẫu
giáo lớn thuộc xóm( 4 - 5 - 6). Theo điều tra năm học 2011- 2012 tổng số cháu 5
tuổi thuộc xóm ( 4 - 5 - 6) là 40 cháu. Phần lớn các cháu không được học qua
lớp bé, nhỡ mà vào thẳng lớp mẫu giáo lớn. Nên trong những năm đầu thực hiện
chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm tôi đã gặp không ít
khó khăn.
Mặc dù vấn đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm đã được
phụ huynh học sinh quan tâm, hỗ trợ kinh phí nhưng vẫn còn một số phụ
huynh,các cấp các ngành vẫn còn coi nhẹ vấn đề này. Từ đó để chất lượng giáo
dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm được nâng cao hơn, bản thân tôi
luôn coi chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm là một
chuyên đề trọng tâm của năm học .Vì trẻ em phát triển thể lực kém là do khẩu
phần ăn của trẻ chưa đáp ứng được nhu cầu nguyên nhân là do:
+ Tập quán ăn uống của một số gia đình.
+ Ít cho trẻ ăn các loại các, giầu thực vật.
+ Chất lượng ăn uống còn phụ thuộc vào mức thu nhập của cha mẹ trẻ.
+ Do cha mẹ trẻ nuôi dậy trẻ thiếu kiến thức nuôi dưỡng, chăm sóc…
Cho đến nay chuyên đề đã được tổng kết nhưng việc tổ chức và thực hiện
chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế,
kết quả đạt được chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu đặt ra.
*Qua kết quả khảo sát ban đầu cho thấy( Tháng 9 năm 2011)
C
§
Tốt
Khá
TB
C§
KBT
Tổng 40
9
13
10
8
8
12
14
15
27.5
30
25
17.5
82.5
17.5
0
5
Thông qua kết qủa của thực trạng trên tổng số cháu có kiến thức về giáo
dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm còn hạn chế. Xuất phát từ thực
trạng đó để nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực
phẩm cao hơn nữa tôi đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp và biện pháp tổ chức
thực hiện như sau:
III. CÁC GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Qua quá trình tổ chức thực hiện chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh
an troàn thực phẩm tôi đã có biện pháp tổ chức thực hiên mang lại kết quả khá
khả thi như sau:
1. Xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và vệ
sinh an toàn thực phẩm.
thực phẩm đó đối với sức khỏe con người phù hợp với chủ đề, gi¸o dục trẻ giữ
gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh chung.
Ví dụ: Ở chủ đề “thế giới thực vật” tôi trò chuyện với trẻ về các loại rau,
quả như tên gọi, đặc điểm, là thực phẩm chứa nhiều chất vitamin, chất khoáng,
ăn các loại rau quả giúp cho cơ thể tăng sức đề kháng, phòng chống bệnh tật.
Trước khi ăn phải làm sạch, gọt sạch các loại thực phẩm, rửa tay, röa các dụng
cụ chế biến.
- Tôi cho trẻ làm quen với đồ dùng, đồ chơi mới, từ đó giới thiệu thêm
một số thực phẩm mới cho trẻ biết về tên gọi các chất có trong các loại thực
phẩm đó giúp trẻ có thêm kiến thức về các loại thực phẩm mà địa phương không
có.
Ví dụ: Ở chủ đề “Thế giới động vật” tôi cho trẻ làm quen với đồ chơi mới
do bản thân tôi tự làm về các loại cá nước lợ, nước mặn mà ở địa phương tôi
không có. Như cá chim, cá thu, cá hồi ... Sau đó tôi giới thiệu về tên gọi của
từng loại cá cho trẻ biết các loại cá này sống ở biển và vùng gần biển nên ở địa
phương không có các loại cá này là thực phẩm chứa nhiều chất đạm...
Ngoài ra tôi còn cho trẻ kể tên các món ăn mà trẻ biết và để trẻ tự kể mình
thích ăn món gì nhất, qua đó tôi cũng tranh thủ giới thiệu thêm các món ăn khác
để góp phần làm tăng vốn hiểu biết phong phú về các món ăn cho trẻ.
7
2.2. Hoạt động học có chủ định.
Tổ chức giờ hoạt động có chủ định là hoạt động chủ đạo để giúp tôi lồng
ghép, tích hợp giáo dục dịnh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ một
cách tốt nhất. Bởi vậy, căn cứ vào nội dung cụ thể của từng hoạt động mà tôi
tiến hành lồng ghép phù hợp như sau:
* Với hoạt động khám phá môi trường xung quanh :
Đây là hoạt động chính giúp trẻ tiếp thu những kiến thức cơ bản về các loại
sau khi đọc thơ cô hỏi: gạo dùng để làm gì? gạo được chế biến thành những món
gi?
Gạo cung cấp chất gì? tôi thiết nghĩ giáo dục dinh dưỡng lúc này là không
phù hợp vì: Bài thơ nói về nỗi vất vả của Người lao động một nắng hai sương
mới làm nên hạt gạo, nếu ta lồng ghép như vậy sẽ làm mất đi ý tưởng của bài
thơ.
Để lồng ghép phù hợp tôi đã đưa giáo dục dinh dưỡng vào phần giới thiệu
bài: cô cho trẻ nghe bài hát “ Hạt gạo làng ta” sau khi cho trẻ nghe xong cô hỏi:
+ Bài hát nói về hạt gì?
+ Ai đã làm ra hạt gạo?
+ Gạo cung cấp chất gì ?
9
Từ đó giaó dục các cháu biết gạo giàu chất bột đường cung cấp năng lượng
giúp cơ thể khoẻ mạnh, gạo còn được chế biến ra nhiều món ăn khác nhau. Rồi
sau đó cô cho trẻ quan sát một loại gạo và sau đó dẫn dắt vào bài , làm như vậy
thì ý tưởng của bài sẽ không bị mất đi.
* Với hoạt động tạo hình
Thông qua hoạt động tạo hình tôi cũng khéo léo lồng ghép giáo dục dinh
dưỡng: Giúp trẻ biết thêm về các thực phẩm, tên thực phẩm, đặc điểm thực
phẩm, các chất có trong thực phẩm đó. Trẻ được trực tiếp tham gia hoạt động
như vẽ, nặn, cắt, xé dán từ đó giúp trẻ nhớ lâu các loại thực phảm đó .
Ví dụ:Với hoạt động vẽ “ Vườn cây ăn quả” tôi cho trẻ gọi tên các loại
qủa, mầu sắc của các loại quả, giáo dục trẻ ăn quả cung cấp cho ta nhiều
vitamin, giáo dục vệ sinh cho trẻ trước khi ăn quả phải rửa sạch gọt vỏ bỏ hạt,
sau khi ăn phải bỏ vỏ hạt vào thùng rác khi rửa quả phải biết tiết kiệm nước .....
* Thông qua các hoạt động khác : Am nhạc, Làm quen với toán, Làm
quen chữ cái:
Tôi cũng tìm những trò chơi phù hợp với hoạt động có lồng ghép giáo dục
dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩmm. Từ đó trẻ lĩnh hội kiến thức một
cách nhẹ nhàng, nhớ lâu. Tôi đã sử dụng các trò chơi: Bé tập làm nội trợ, thi tài
phân loại các thực phẩm theo 4 nhóm chất, tôi thích ăn món nào, cùng mẹ đi chợ
11
vườn rau sạch của bé, trang trang trại gia đình, xếp chuồng cho các con vật,
cùng chế biến món ăn...
Ngoài việc lồng ghép giáo dục dinh đưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
vào các tiết học. Việc tổ chức cho trẻ các trò chơi, tạo điều kiện để trẻ tiếp thu
và phản ánh những hiểu biết của mình về dinh dưỡng là hoạt động hết sức quan
trọng. Trẻ được tiếp xúc với các đồ vật đồ chơi tạo điều kiện để trẻ tự học hỏi
nhau. Thể hiện sự hiểu biết của mình về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực
phẩm.
Qua các trò chơi tôi tạo điều kiện để trẻ vui chơi với đồ chơi, khi trẻ gọi tên
các thực phẩm, trẻ học cách chế biến món ăn và trẻ được thực hiện các thao tác
chế biến món ăn, cách chế biến thực phẩm và vệ sinh thực phẩm, vệ sinh cá
nhân và vệ sinh chung.
2.4. Với hoạt động góc
Việc tổ chức cho trẻ hoạt động góc với tất cả các góc mở giúp trẻ được trải
nghiệm họat động của người lớn, trẻ được làm thí nghiệm, từ đó giúp trẻ hiểu
thêm về dinh dưỡng.
- Qua hoạt động góc: Trẻ gọi tên các thực phẩm, biết đặc điểm của các loại
thực phẩm, trẻ tự học cách chế biến những thực phẩm thành những món ăn. Biết
cách tạo ra những thực phẩm trong cuộc sống, biết vệ sinh cá nhân và hành vi
văn minh
12
Ở giờ ăn: Trẻ học cách tự phục vụ bản thân, lấy ghế, bát, thìa, ... trẻ còn
giúp nhau kê bàn ghế, biết vệ sinh cá nhân trước khi ăn, biết chào mời người
khác trước khi ăn, khi ăn trẻ biết giữ vệ sinh chung và những hành vi văn hóa
khác...
14
Vào giờ chia ăn tôi tranh thủ giới thiệu các món ăn cho trẻ và thành phần
các món ăn chứa nhiều chất gì? Tác dụng của chất đó đối với cơ thể của trẻ,
động viên trẻ ăn món đó tập ăn dần, lúc đầu ăn ít sau đó ăn đủ...
Ví dụ: Tôi giới thiệu: Các con ơi! Hôm nay, các cô dinh dưỡng nấu cho
các con ăn món “Cá súp cà chua,” ăn cá chứa nhiều chất đạm giúp cơ thể các
con nhanh lớn, thông minh học giỏi vì vầy các con ăn cá nhé.
2.6. Hoạt động chiều
Trong hoạt động chiều, khi trò chuyện với trẻ ở giờ trả trẻ tôi hỏi trẻ hôm
nay các con được ăn những món gì? Cung cấp chất gì? Để trẻ nhớ được tên món
ăn và chất dinh dưỡng mà món ăn đó cung cấp. Đồng thời tôi cho trẻ quan sát
tranh các loại rau củ quả, các con vật, chơi các trò chơi phân loại các chất dinh
dưỡng theo 4 nhóm bằng lô tô, trò chơi bằng nhựa...
*Kết quả: Tôi đã lồng ghép giáo dục dinh dưỡng váo các môn học như:
làm quen với văn học, môi trường xung quanh, t¹o h×nh, ho¹t ®éng ngoµi trêi…,
thể hiện rõ nhất vào hoạt động vui chơi của trẻ đó chính là hoạt động: “Bé tập
làm nội trợ”. Qua hoạt động này nội dung giáo dục dinh dưỡng được thể hiện
15
một cách nhẹ nhàng nhưng đạt hiệu quả cao. Tôi đã dạy trẻ biết cách sử dụng
thành thạo các đồ dùng như: thớt, dao, muỗm….ngoài ra còn biết chế biến một
4. Tự bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền cho bản thân.
Công tác phối hợp vân động phụ huynh là đặc biệt quan trọng, vì thế để
bản thân phải có kỹ năng tuyên truyền, trình bày chuyển tải nội dung đến phụ
huynh một cách tự tin, lưu loát, thuyết phục làm cho phụ huynh hiểu vấn đề để
có thái độ hưởng ứng tốt tôi đã soạn thảo nội dung tuyên truyền sao cho ngắn
gọn, thiết thực với nhu cầu, ích lợi của phụ huynh. Muốn làm được điều đó tôi
phải vững vàng lập trường quan điểm, hiểu tường tận chính xác vấn đề mình cần
truyền đạt để có thể giải đáp thắc mắc khi phụ huynh có yêu cầu. Những nội
dung nào chưa làm cho phụ huynh thoả mãn, thì hẹn lại để giải đáp sau, đồng
thời tôi luôn lắng nghe, tiếp thu ý kiến đóng góp của phụ huynh có như thế mới
tạo được lòng tin đối với họ để họ có thái độ hợp tác với nhà trường trong công
tác chăm sóc giáo dục trẻ nói chung và vấn đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh
an toàn thực phẩm nói riêng.Các hình thức tổ chức tuyên truyền:
Tổ chức cho phụ huynh nghe báo cáo và toạ đàm về dinh dưỡng như:
“Giá trị kiến thức dinh dưỡng cho trẻ mầm non”, nấu ăn duy trì dinh
dưỡng, bệnh suy dinh dưỡng, bệnh viêm đường hô hấp, bệnh thuỷ đậu.
Ngoài ra tôi cũng tham gia hội thi hội thi nấu ăn do trường Mầm Non Nga
Thái tổ chức được phụ huynh ủng hộ nhiệt tình và tích cực.
Các hình thức tuyên truyền còn thể hiện ở bản tin phụ huynh cần biết, xem
băng hình, nghe trên loa qua giờ đón trả trẻ và đài truyền thanh của xã vào các
buổi sáng và buổi tối (phối hợp với trung tâm văn hoá xã).
Thông qua tuyên truyền cho các bậc phụ huynh, kết quả về giáo dục dinh
dưỡng được nâng lên cụ thể là:
+ Bản thân tôi đã có kỹ năng tuyên truyền tốt.
+ 90% phụ huynh đã nhận thức đầy đủ về công tác chăm sóc giáo dục trẻ
góp phần thực hiện tốt chuyên đề.
IV. KIỂM NGHIỆM:
Qua thực hiện một số biện pháp trên, bản thân được trau dồi kiến thức về
nội dung giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
42.5 17.5
7
Trẻ nhận biết
được 4 nhóm thực
phẩm
C§
T
1
16 17
K
2.5 40 42.5
TB
Trẻ kể tên các
món ăn mà trẻ
biết
Kết qủa cân đo
CHSV
T
C§
T
7
0
17.5
0
K
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT.
I. KẾT LUẬN:
Qua quá trình nghiên cứu, chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an
toàn thực phẩm thì ban giám hiệu trường mầm non Nga Thái đã có kế hoạch cụ
thể rõ ràng, triển khai chuyên đề đến từng giáo viên một cách có hiệu quả thông
qua đó bản thân tôi đã nắm chắc được mục đích, yêu cầu nội dung của chuyên
đề đã đặt ra để từ đó có phương pháp, biện pháp tổ chức một cách đồng loạt,
thiết thực. Nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực
18
phẩm cho trẻ bằng cách lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an
toàn thực phẩm qua các hoạt động trong ngày cho trẻ cũng chính là nâng cao