Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế Công Cộng - Pdf 41

MỤC LỤC
Ký hiệu viết tắt .............................................................................................................. iii
Mục Lục................................................................................................................................iii
Mở Đầu ...................................................................................................................................1

1. Lý do chọn đề tài........................................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu: ................................................................................................ 3
4. Đối tượng nghiên cứu: ............................................................................................... 3
5. Các nhiệm vụ nghiên cứu: ........................................................................................ 3
6. Giả thuyết khoa học: ................................................................................................. 4
7. Phạm vi nghiên cứu: .................................................................................................. 4
8. Phương pháp nghiên cứu: ......................................................................................... 4
9. Cấu trúc của luận văn: .............................................................................................. 5
Chương 1: Cơ sơ lý luận về quản lý hoạt động dạy - tư học
............................................................................................................................................... 6

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề tự học ......................................................................... 6
1.1.1. Trên thế giới ....................................................................................................... 6
1.1.2. ở Việt Nam ......................................................................................................... 8
1.2. Cơ sở lý thuyết hoạt động dạy - tự học ................................................................. 9
1.2.1. Hoạt động dạy-học ............................................................................................. 9
1.2.2 Hoạt động dạy - tự học ..................................................................................... 11
1.2.2.1. Khái niệm tự học ....................................................................................... 11
1.2.2.2. Hoạt động dạy - tự học: ............................................................................ 13
1.2.3. Hoạt động dạy - tự học ngoại ngữ ................................................................... 17
1.2.4. Vị trí vai trò tự học của sinh viên trong quá trình đào tạo ở trường đại học ... 18
1.3. Quản lý hoạt động tự học ..................................................................................... 20
1.3.1. Khái niệm quản lý, chức năng quản lý ............................................................ 20
1.3.2. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường.............................................................. 25
1.3.3. Quản lý quá trình dạy-học và quản lý quá trình dạy-tự học: ........................... 26
1.3.4. Quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên ......................................... 27

của sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trường ĐHYTCC ................................ 68
2.4.1. Những điểm mạnh trong công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của
sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trường ĐHYTCC .................................... 68
2.4.2. Những điểm hạn chế trong công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của
sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trường ĐHYTCC .................................... 69
2.4.3. Nguyên nhân của thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của
sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trường ĐHYTCC .................................... 69
2.4.4. Những vấn đề đặt ra cho công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của
sinh viên ở trường ĐHYTCC........................................................................ 71
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường đại
học y tế công cộng ..................................................73

3.1. Định hướng chung cho việc xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động tự học
ngoại ngữ của sinh viên cử nhân trường ĐHYTCC ........................................ 73
3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cử nhân
YTCC hệ chính quy trường ĐHYTCC ............................................................. 74
3.2.1 Nhóm biện pháp thứ nhất: Nâng cao nhận thức về vai trò và kỹ năng tự học
ngoại ngữ trong học tập, và công tác thuộc lĩnh vực YTCC ........................... 74
v


3.2.2. Nhóm biện pháp thứ hai: Xây dựng động cơ tự học ngoại ngữ cho sinh viên cử
nhân YTCC nhà trường. .................................................................................. 76
3.2.3. Nhóm biện pháp thứ ba: Xây dựng và hoàn chỉnh nội quy, quy định hoạt động
tự học và tự học ngoại ngữ cho sinh viên: ....................................................... 77
3.2.4. Nhóm biện pháp thứ tư: Hướng dẫn xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tự
học ngoại ngữ cho sinh viên ............................................................................ 78
3.2.5. Nhóm biện pháp thứ năm: Tăng cường tổ chức thực hiện dạy- tự học ngoại
ngữ cho sinh viên cử nhân YTCC ................................................................... 79
3.2.6. Nhóm biện pháp thứ sáu: Đảm bảo cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ hoạt

phi

Ký hiệu viết tắt

BGH

Ban giám hiệu

CBQL

Cán bộ quản lý

CBQLYT

Cán bộ quản lý y tế

CLB

Câu lạc bộ

D

Dạy

ĐHYTCC

Đại học Y tế Công cộng

GV


1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang cùng nhân loại bước vào nhữmg năm đầu của thế kỷ XXI,
thế kỷ với đặc trưng là sự phát triển của nền kinh tế tri thức trên phạm vi toàn
cầu, thế kỷ của sự bùng nổ thông tin và khoa học công nghệ. Nền kinh tế tri thức
đòi hỏi con người phải có nhiều kiến thức, kỹ năng mới và một thái độ tích cực
để làm chủ cuộc sống. Với sự bùng nổ của thông tin và khoa học công nghệ, kiến
thức của nhân loại ngày càng tăng nhanh. Kiến thức con người được học ở nhà
trường luôn có nguy cơ bị lạc hậu, và hơn thế nữa thời gian học ở nhà trường là
có hạn, không thể đủ để học tất cả kiến thức ngày càng gia tăng của nhân loại.
Để giải quyết mâu thuẫn trên, theo giáo sư Phan Trọng Luận thì chỉ có cách tự
học. Theo ông, tự học là con đường khắc phục nghịch lý: Học vấn thì vô hạn mà
tuổi học đường thì có giới hạn.
Việt Nam mới bước vào sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hóa, nghĩa
là phải thực hiện hai cuộc cách mạng cùng một lúc để từ nền văn minh nông
nghiệp tiến lên văn minh công nghiệp rồi tiến thẳng luôn đến nền văn minh trí
tuệ. Rõ ràng dân tộc ta đang phải giải quyết một bài toán cực kỳ khó là làm sao
trong một thời gian lịch sử độ 20 năm sẽ phải thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu,
sánh vai với các cường quốc năm châu. Theo Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, một
trong những cách để giải bài toán này là tự học.
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước đặt ra nhiệm vụ cho
ngành giáo dục - đào tạo là phải đào tạo ra con người có sức khoẻ, có đạo đức,
có tri thức và trình độ chuyên môn sâu, có năng lực học tập thường xuyên và học
tập suốt đời, năng động, tự chủ, sáng tạo để thực hiện tốt công cuộc xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.
1


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai

nhập hiện nay. Tuy nhiên với thời gian học ngoại ngữ trên lớp có hạn theo
2


chương trình quy định của Bộ Giáo dục - Đào tạo, thì chỉ có tự học ngoại ngữ
mới giúp sinh viên có đủ trình độ để học tập tốt các môn chuyên môn khác.
Trường ĐHYTCC rất quan tâm đến việc học ngoại ngữ (tiếng Anh) của sinh
viên cử nhân YTCC. Việc phát triển năng lực tự học ngoại ngữ, quản lý hoạt
động tự học ngoại ngữ do vậy đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất
lượng đào tạo của nhà trường.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, người nghiên cứu chọn đề tài:
“Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường
Đại học Y tế Công Cộng” với mong muốn xây dựng được các biện pháp khả thi
và hiệu quả trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn nhằm nâng câo chất lượng
quá trình đào tạo cử nhân YTCC của nhà trường.

2. Mục đích nghiên cứu:
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ (tiếng Anh) của
sinh viên ở trường Đại học Y tế Công cộng nhằm nâng cao chất lượng quá
trình đào tạo cử nhân y tế công cộng của nhà trường.

3. Khách thể nghiên cứu:
- Quá trình quản lý sinh viên trong trường Đại học Y tế Công cộng.

4. Đối tƣợng nghiên cứu:
- Biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học
Y tế Công cộng.

5. Các nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên.

- Các phương pháp nghiên cứu lý luận: Bao gồm các phương pháp phân tích,
tổng hợp, hệ thống những vấn đề lý luận có liên quan đến nhiệm vụ nghiên
cứu của đề tài qua hệ thống sách, báo, và tài liệu tham khảo.
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng các phương pháp điều tra
bằng phiếu hỏi, phỏng vấn, tọa đàm đối với sinh viên, giảng viên, cán bộ
quản lý để thu thập thông tin về thực trạng tự học ngoại ngữ của sinh viên và
thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ.

4


- Phân tích sử lý số liệu: dùng phương pháp thống kê toán học để xử lý những
số liệu thu được từ khảo sát thực trạng hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh
viên và công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ.
- Các phương pháp bổ trợ khác: trò chuyện, trao đổi, phỏng vấn, quan sát sinh
viên, giảng viên, các cán bộ khác của nhà trường để tìm hiểu nhận thức, thái
độ của họ về hoạt động tự học ngoại ngữ và công tác quản lý hoạt động tự
học ngoại ngữ ở nhà trường.
- Phương pháp hỏi ý kiến các chuyên gia.

9. Cấu trúc của luận văn:
-

Ngoài phần mở đầu (5 trang), phần kết luận (4 trang), luận văn được cấu trúc
thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy - tự học;

( 26 trang)


hoạt động tự học (HĐTH), tự nghiên cứu tìm tòi, khám phá của bản thân người
học, nó là cơ sở cho mọi sự thành công trong học tập.
Khổng Tử (551-479 trước công nguyên) rất quan tâm đến việc kính thích
sự suy nghĩ, sáng tạo của học trò. Cách dạy của ông là gợi mở để học trò tìm ra
chân lý. Theo ông, thày giáo chỉ tìm ra cho học trò cái mấu chốt nhất, còn mọi
vấn đề khác học trò phải từ đó mà tìm ra, người thầy giáo không được làm thay
hết cho học trò. Ông đã từng nói vói học trò của mình rằng: “Không giận vì
muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thì không bầy vẽ
cho. Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc, mà không suy ra ba góc kia thì không
dạy nữa”. [12, 55].
Socrate (469-390 trước công nguyên) đã từng nêu khẩu hiệu “Anh hãy tự
biết lấy anh” qua đó ông muốn học trò phát hiện ra „chân lý‟ bằng cách đặt câu
hỏi để dần dần tìm ra kết luận [12, 55].
J.A. Comenxki (1592 - 1670), ông tổ của nền giáo dục cận đại, người đặt
nền móng cho sự ra đời của nhà trường hiện nay, nhà giáo dục lỗi lạc của
Slovakia và nhân loại cũng đã nêu ra các nguyên tắc, phương pháp giảng dạy
trong tác phẩm “Phép giảng dạy vĩ đại” nhằm phát huy tính tích cực chủ động
6


của học sinh và ông cương quyết phản đối lối dạy học áp đặt giáo điều làm cho
học sinh có thói quen không tự giác trong học tập [8].
Thế kỷ XVIII-XIX, nhiều nhà giáo dục nổi tiếng như J.J. Rousseau (17121778); Pestalogie (1746-1827); Distecvec (1790-1866); Usinxki (1824-1873) ...
đều có chung quan điểm cần hướng cho học sinh tự nắm bắt kiến thức bằng cách
tự tìm tòi và sáng tạo.
Những năm gần đây, trên cơ sở kế thừa có phê phán các tư tưởng của các
tác giả đi trước, các nước phương Tây nổi lên cuộc cách mạng để tìm phương
pháp giáo dục mới dựa trên tiếp cận “lấy người học làm trung tâm” để phát huy
năng lực nội sinh của con người. Đại diện cho tư tưởng này John Dewey (18591952), ông phát biểu “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương
tiện giáo dục”. Một loạt các phương pháp dạy học theo tư tưởng quan điểm này

Công cuộc xây dựng đất nước đã đặt ra những yêu cầu mới cho giáo dục đào tạo, đỏi hỏi giáo dục - đào tạo phải đổi mới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Cách học tập:... lấy tự học làm cốt
...” [22, 18] Người còn nhấn mạnh: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học” và
Người khuyên “Không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự
học tập” [30, 39].
Trong khoa học, đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu về vấn đề tự
học như: “Quá trình dạy - tự học” của giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, Giáo sư Vũ
Văn Tảo; “Luận Bàn và kinh nghiệm về tự học: của Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn,
“Tự học - chìa khoá vàng của Giáo dục” của Giáo sư Phan Trọng Luận, và nhiều
công trình nghiên cứu về tự học của các Giáo sư, các nhà giáo dục học như Hà
Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức, Thái Duy Tuyên và
rất nhiều luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục trong những năm gần đây đề cập
đến nhiều khiá cạnh về hoạt động tự học và các biện pháp quản lý, tổ chức hoạt
động tự học với mục đích nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên, góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục đào tạo.
Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu về tự học như đã khái quát ở trên,
song hoạt động tự học, đặc biệt là hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cử
8


nhân trường Đại học Y tế công cộng vẫn còn là một vấn đề bỏ ngỏ, chưa có một
công trình nào nghiên cứu. Vì vậy trong luận văn này, tác giả tập trung vào việc
xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cử
nhân trường Đại học Y tế công cộng để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tự
học và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đội ngũ cán bộ y tế công cộng của
nhà trường.

1.2. Cơ sở lý thuyết hoạt động dạy - tự học
1.2.1. Hoạt động dạy-học
Dạy là sự điều khiển tối ưu hoá quá trình học sinh chiếm lĩnh khái niệm

Khái niệm Khoa học

Dạy

Học

Truyền đạt

Lĩnh Hội
Cộng tác

Điều khiển

Tự điều khiển

Sơ đồ 1: Cấu trúc của quá trình dạy học
Quá trình dạy- học là một hệ thống toàn vẹn, các thành tố của nó luôn luôn
tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn
nhau để tạo nên sự thống nhất biện chứng:
- Giữa dạy với học;
- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy; và
- Giữa lĩnh hội và với tự điều khiển trong học.

10


1.2.2 Hoạt động dạy - tự học
1.2.2.1. Khái niệm tự học
Thông thường tự học được hiểu là tự mình học lấy cho mình. Tuy nhiên
chuyện tự học không phải là chỉ hiểu một cách đơn giản như vậy.


thực sự nắm vững tri thức, làm chủ tri thức và vận dụng những tri thức đó vào
thực tiễn cuộc sống.
Hoạt động tự học diễn ra dưới ba hình thức chính sau:
- Hình thức thứ nhất: Có sách, tài liệu người học tự tìm kiếm tri thức để thoả
mãn nhu cầu nâng cao, mở rộng hiểu biết của riêng mình, bổ sung, mở rộng
kiến thức ngoài chương trình đào tạo của nhà trường. Đây là tự học ở mức độ
cao.
- Hình thức thứ hai: Có sách, tài liệu và có thêm những ông thầy ở xa hướng
dẫn tự học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin viễn thông khác.
Hướng dẫn tự học chủ yếu là hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh kiến
thức. Đó là tự học có hướng dẫn.
- Hình thức thứ ba: Có sách và có thầy giáp mặt một số tiết trong ngày, trong
tuần. Tự học diễn ra dưới sự điều khiển, chỉ đạo hướng dẫn trực tiếp của thầy
và các phương tiện kỹ thuật trên lớp. Đây là học giáp mặt trên lớp và về nhà
tự học có hướng dẫn.
Tự học có thể tóm tắt lại như sau: Trò học, cốt lõi là tự học, học cách học,
cách tư duy. Thầy dạy cốt lõi là dạy cách học, cách tư duy. Tác động dạy của
thày là ngoại lực đối với sự phát triển của người học. Theo quy luật phát triển
của sự vật, ngoại lực dù quan trọng đến đâu, lợi hại đến mấy cũng chỉ là nhân tố
hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện. Nội lực mới là nhân tố quyết định phát triển bản
thân sự vật. Sự vật phát triển đó đạt trình độ cao khi nội lực và ngoại lực cộng
hưởng được với nhau.
Hoạt động tự học có thể tiến hành ở mọi nơi, mọi lúc, mọi người, bằng
mọi cách và qua nội dung nói như Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn là thực hiện “năm
mọi” trong học tập. Trong đề tài này, do mục đích và phạm vi nghiên cứu, tác
12


giả chỉ đề cập đến hoạt động tự học của sinh viên dưới sự điều khiển trực tiếp

13


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

Sơ đồ 2: Chu trình tự học
* Chu trình dạy của thầy nhằm tác động hợp lý, phù hợp và cộng hưởng
với chu trình tự học của trò, cũng là chu trình ba thời tương ứng với chu trình tự
học ba thời của trò:
Thời một:

D1 - Hướng dẫn

Thời hai:

D2 - Tổ chức

Thời ba:

D3 - Trọng tài, cố vấn, kết luận và kiểm tra

14




Trọng tài, cố vấn,
kết luận và kiểm tra

tự điều chỉnh

* Tri thức qua ba thời:
Theo tam giác sư phạm: thầy - trò - tri thức, tính chất của tri thức người
học chiếm lĩnh được qua từng thời kỳ như sau:
Thời một KT1:

Tri thức mang tính cá nhân

Thời hai KT2:

Tri thức mang tính chất xã hội (xã hội lớp học)

Thời ba KT3:

Tri thức khách quan khoa học

15


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi

trên đường tròn đó là các cực „tri thức‟ của tam giác sư phạm cùng với ba tính
chất của tri thức ứng với ba thời của chu trình tự học: cá nhân => xã hội => khoa
học. (Kt1, Kt2, Kt3)

16


Các mũi tên => trong sơ đồ ở vào từng thời đều xuất phát từ cực „thầy‟:
sáng kiến điều hành chung cả chu trình dạy- tự học đều thuộc về thầy. Thầy là
người khởi xướng, người dẫn chương trình tự học của trò.
1.2.3. Hoạt động dạy - tự học ngoại ngữ
Hoạt động dạy - tự học ngoại ngữ cũng như hoạt động dạy - tự học các
môn học nói chung, đều liên quan đến chu trình dạy - tự học gồm ba thời với ba
thành tố cơ bản thày (dạy), trò (tự học) và tri thức như đã trình bầy ở phần 1.2.2.
Tuy nhiên với đặc thù của môn học ngoại ngữ, cũng có những khác biệt ở
các thành tố ở các thời của chu kỳ dạy - tự học ngoại ngữ, đặc biệt là thành tố tri
thức. Đối với môn học ngoại ngữ, tri thức không chỉ là kiến thức về ngôn ngữ,
văn hoá của thứ tiếng đó mà còn phải được hiểu là các kỹ năng ngôn ngữ người
học phải đạt được để sử dụng như một công cụ giao tiếp. Trong việc học ngoại
ngữ, người ta thường đề cập đến bốn kỹ năng ngôn ngữ là: Nghe - Nói - Đọc Viết cùng với kiến thức về ngữ âm - từ vựng - ngữ pháp và kiến thức về văn hoá,
lịch sử của đất nước có thứ tiếng đó.
Chu trình dạy - tự học ngoại ngữ gồm ba thời sau:
Thời một: Giảng viên hướng dẫn cho sinh viên về ngữ âm, từ vựng, ngữ
pháp và các bài tập luyện các kỹ năng nghe - nói - đọc - viết. Sinh viên tự nghiên
cứu, luyện tập, tự giải quyết các bài tập luyện các kỹ năng.
Thời hai: Giảng viên tổ chức tạo môi trường cho sinh viên tự thể hiện
mình trong các buổi tranh luận, trình bầy, đóng vai, trao đổi sinh viên - sinh
viên; sinh viên - giảng viên, sinh hoạt trong nhóm, theo cặp, sử dụng ngoại ngữ
đang học với bốn kỹ năng nghe - nói - đọc - viết để giao tiếp. Giảng viên là
người chỉ đạo và dẫn chương trình.

được. Khi nói đến học, hàm ý nói đến mối quan hệ giữa nội lực của người học và
ngoại lực của người dạy, còn khi nói đến tự học thì chỉ xét riêng đến nội lực của
người học.
Chúng ta đã bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ của thời đại thông tin và nền
kinh tế tri thức. Với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công
18


nghệ, tri thức mà nhà trường cung cấp luôn luôn ở trạng thái “lạc hậu”. Trong
bối cảnh của sự thay đổi thường xuyên như vậy, nếu người học chỉ hoàn toàn lệ
thuộc vào nhà trường, không tự mình cập nhật tri thức thì sẽ bị tụt hậu, không
theo kịp được cuộc sống hiện đại. Điều này hoàn toàn đúng với sinh viên đại
học. Như chúng ta đã biết, người tốt nghiệp đại học ngày nay phải có ba năng
lực, đó là khả năng thường xuyên cập nhật kiến thức của mình; chiếm lĩnh được
những trình độ thành thạo chuyên môn mới hay còn gọi là năng lực thích ứng với
việc làm và năng lực sáng nghiệp tự tìm, tự tạo việc làm. Với những đòi hỏi như
thế, trong khoảng thời gian học tập có hạn 4 hoặc 5 năm học ở trường đại học,
nếu sinh viên không tự học, mày mò nghiên cứu, tự đào sâu suy nghĩ ngoài kiến
thức của nhà trường cung cấp thì khi ra trường họ không thể nào đáp ứng được
yêu cầu của xã hội.
Tự học sẽ giúp sinh viên nắm vững tri thức, kỹ năng kỹ xảo và nghề
nghiệp trong tương lai. Chính quá trình tự học giúp sinh viên hiểu sâu bài, mở
rộng kiến thức, củng cố ghi nhớ vững chắc tri thức, biết vận dụng tri thức vào
giải quyết các nhiệm vụ học tập mới. Tự học không những giúp sinh viên không
ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn ở nhà trường mà còn
giúp sinh viên có được hứng thú, thói quen và phương pháp tự học để thường
xuyên làm phong phú thêm, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của mình. Giúp họ
tránh được sự lạc hậu, tụt hậu trước sự „bùng nổ thông tin‟ khoa học kỹ thuật
trong thời đại hiện nay.
Như đã trình bầy ở trên, tự học là cốt lõi của việc học, tự học là phải tự lực

điều khiển hệ thống xã hội ở tầm vi mô và vĩ mô. Có tập thể, tổ chức là có quản
lý. Quản lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân
hướng tới mục tiêu chung. K. Marx đã nói đến sự cần thiết của quản lý: “Bất kỳ
lao động nào có tính xã hội và chung, trực tiếp được thực hiện với quy mô tương
đối lớn đều ít nhiều cần đến sự quản lý ... một người chơi vĩ cầm riêng rẽ thì tự
điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”. [26, 21]
Vậy quản lý là gì? Có rất nhiều định nghĩa về quản lý:

20


- Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý
(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức
nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. [6]
- Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân
làm nhiệm vụ và các mục tiêu đã định [19]
- Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể
quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng bị
quản lý) về các mặt chính trị văn hoá xã hội, kinh tế .. bằng một hệ thống các
luật lệ, các chính sách, nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể
nhằm tạo ta môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. [19]
- Quản lý là việc đảm bảo sự hoạt động của hệ thống trong điều kiện có
sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống tới trạng thái
mới thích ứng với hoàn cảnh mới. [6]
Nghiên cứu các định nghĩa trên chúng ta có thể thấy mặc dù các tác giả
có các quan niệm khác nhau về quản lý nhưng họ đều thống nhất:
- Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố
chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị
quản lý, đối tượng quản lý) gồm con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật nuôi, cây
trồng và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status