HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
PHẠM VĂN GIANG
SỰ BIẾN ĐỔI CỦA GIAI CẤP
CÔNG NHÂN VIỆT NAM DƯỚI TÁC ĐỘNG
CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ
CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2017
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
PHẠM VĂN GIANG
SỰ BIẾN ĐỔI CỦA GIAI CẤP
CÔNG NHÂN VIỆT NAM DƯỚI TÁC ĐỘNG
CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ
CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
Mã số: 62 22 03 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS.TS. TRẦN VĂN PHÒNG
2. PGS.TS. NGUYỄN VĂN LÝ
6
6
17
26
Chương 2: SỰ BIẾN ĐỔI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM DƯỚI
TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
29
2.1. Giai cấp công nhân và giai cấp công nhân Việt Nam
2.2. Hội nhập quốc tế và sự biến đổi của giai cấp công nhân Việt Nam
29
51
Chương 3: SỰ BIẾN ĐỔI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM DƯỚI
TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ
VẤN ĐỀ ĐẶT RA
70
3.1. Thực trạng biến đổi của giai cấp công nhân Việt Nam dưới tác động của hội nhập
quốc tế hiện nay
70
3.2. Một số vấn đề đặt ra từ sự biến đổi của giai cấp công nhân Việt Nam dưới
tác động của hội nhập quốc tế hiện nay
CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ
121
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Dân số và lực lượng lao động trong các doanh nghiệp (2000 - 2014)
72
Bảng 3.2: Thu nhập bình quân của công nhân trong các doanh nghiệp (2005 - 2014)
83
Bảng 3.3: Lộ trình tăng lương tối thiểu vùng (2013 - 2017)
88
Bảng 3.4: Tình hình đình công, ngừng việc tập thể (2008 - 2015)
90
Bảng 3.5: Thu nhập giữa lao động quản lý, kỹ thuật viên so với công nhân sản xuất
95
1
2
Quá trình hội nhập quốc tế đã thúc đẩy giai cấp công nhân nước ta phát triển
nhanh về số lượng, chất lượng được nâng cao, đa dạng về cơ cấu, đời sống vật chất
và tinh thần ngày càng được cải thiện. Mặt khác, hội nhập quốc tế cũng đang làm
cho giai cấp công nhân nước ta có nhiều biến động, không còn thuần nhất. Số lượng
công nhân trong thành phần kinh tế nhà nước ngày càng giảm, số lượng công nhân
trong các thành phần kinh tế ngoài nhà nước tăng nhanh. Sự phân tầng, phân hóa
trong nội bộ giai cấp công nhân ngày càng sâu sắc và có những biểu hiện phức tạp.
Bên cạnh xu hướng phân tầng, phân hóa về số lượng và chất lượng, thì các xu
hướng phân tầng, phân hóa về thu nhập, điều kiện việc làm đã và đang tác động khá
mạnh đến quá trình phát triển của giai cấp công nhân nước ta.
Kết quả phân tầng, phân hóa về việc làm và thu nhập của giai cấp công nhân
nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế cũng cho thấy, bên cạnh đời sống của một
bộ phận công nhân đã được cải thiện đáng kể, thì còn có một bộ phận không nhỏ
công nhân chưa được thụ hưởng tương xứng với những thành tựu của công cuộc đổi
mới và những đóng góp của chính mình. Việc làm, đời sống vật chất và tinh thần
của một bộ phận công nhân đang có nhiều khó khăn. Quan hệ lao động trong các
doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài có biểu hiện bức xúc và diễn biến phức tạp.
Trước yêu cầu của hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng chúng ta đang thiếu
nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề.
Tác phong và kỷ luật lao động của công nhân còn nhiều hạn chế, một bộ phận công
nhân chậm thích nghi với quá trình hội nhập. Địa vị chính trị của giai cấp công nhân
chưa được thể hiện đầy đủ. Sự giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị của công nhân
không đều, sự hiểu biết về chính sách, pháp luật còn nhiều hạn chế. Trong khi đó,
vai trò của tổ chức cơ sở đảng, tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội
khác trong các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài đang ngày càng giảm sút nghiêm trọng.
Sự biến đổi đó của giai cấp công nhân nước ta trong điều kiện hội nhập quốc
3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự biến đổi của giai cấp công nhân Việt
Nam dưới tác động của hội nhập quốc tế hiện nay.
4
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án
- Về nội dụng: Luận án nghiên cứu sự biến đổi của giai cấp công nhân Việt
Nam dưới tác động của hội nhập quốc tế hiện nay từ góc nhìn triết học.
- Về thời gian: Nghiên cứu sự biến đổi của giai cấp công nhân Việt Nam dưới
tác động của hội nhập quốc tế hiện nay là khoảng thời gian thời kỳ đổi mới đất nước
từ năm 1986 đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận của luận án
Luận án dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cơ cấu xã hội - giai cấp, về
giai cấp công nhân và giai cấp công nhân Việt Nam.
4.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử, nghiên cứu sinh chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp
với từng nội dung của luận án, trong đó chủ yếu sử dụng: phương pháp kết hợp
lôgic - lịch sử, phân tích và tổng hợp, so sánh và đối chiếu, quy nạp và diễn dịch,
chú giải, khái quát hoá, trên cơ sở đó đưa ra nhận xét và kết luận.
5. Những đóng góp về mặt khoa học của luận án
- Phân tích làm rõ thực chất của hội nhập quốc tế và sự biến đổi của giai cấp
công nhân Việt Nam dưới tác động của hội nhập quốc tế.
- Phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra từ sự biến đổi của giai cấp công
nhân Việt Nam dưới tác động của hội nhập quốc tế từ góc nhìn triết học.
- Xác định quan điểm định hướng và đề xuất được một số giải pháp phát huy
sự biến đổi tích cực, ngăn ngừa và hạn chế biến đổi tiêu cực của giai cấp công nhân
TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ
- Trước hết, những nghiên cứu liên quan đến quan niệm về giai cấp công nhân
và giai cấp công nhân Việt Nam. Công trình “Phong trào công nhân quốc tế những vấn đề lịch sử và lý luận” [111]. Đây là một công trình được nghiên cứu
công phu của các nhà khoa học Liên Xô (gồm 8 tập), đã phân tích sự ra đời và hình
thành giai cấp công nhân, về những bước đi đầu tiên của phong trào công nhân trên
con đường trở thành lực lượng xã hội độc lập. Những điều kiện lịch sử của quá trình
trưởng thành của giai cấp công nhân và phong trào công nhân trong thời kỳ chủ
nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc. Sự phát triển của phong trào công
nhân quốc tế ở thời kỳ trước và sau cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga
vĩ đại. Sự phát triển của phong trào công nhân quốc tế ở thời kỳ sau chiến tranh thế
giới thứ hai đến những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX. Đây là thời kỳ phong
trào công nhân ở các nước phát triển không ngừng và tăng cường sự ảnh hưởng của
nó đối với tiến trình phát triển của lịch sử, tuy rằng phong trào cũng có lúc lâm vào
tình trạng khó khăn và diễn biến phức tạp. Ngoài ra, các tác giả cũng phân tích sự
phát triển phong trào cộng sản ở khu vực thế giới phi xã hội chủ nghĩa, những quy
luật và những xu hướng phát triển tiêu biểu có tính đến những điều kiện khu vực và
7
dân tộc đặc trưng cho toàn bộ phong trào. Nhìn chung, trong công trình này các tác
giả đã phân tích lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trên cơ sở những
lập luận, nhận định của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Về vị trí, vai trò của giai cấp công nhân ở các nước tư bản hiện đại được phân
tích qua các bài viết “Giai cấp công nhân vẫn là lực lượng chính trị quan trọng
nhất” của Maicen Nhepsi [89];“Triển vọng phát triển của giai cấp công nhân ở thế
kỷ XXI” của Trushkov [131] đã chỉ ra những mâu thuẫn trong chủ nghĩa tư bản,
nhất là mâu thuẫn giữa lao động và tư bản không những không được giải quyết mà
ngày càng trở nên sâu sắc. Từ đó các tác giả cho rằng, trong xã hội tư bản hiện nay
chỉ có một giai cấp duy nhất đủ khả năng lật đổ giai cấp tư sản, đó là giai cấp công
sự trao đổi và phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa. Trong quá trình đó
người lao động tự do di chuyển đến bất cứ đâu để làm việc và trở thành công dân
toàn cầu. Vì vậy, trong thời gian tới vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động,
gắn đào tạo với sử dụng, sự thích ứng và sự chuẩn bị nghề nghiệp cho thanh niên là
nhiệm vụ của mỗi quốc gia, đồng thời là vấn đề mang tính toàn cầu của thế kỷ XXI.
Trong công trình “Vị trí và vai trò của giai cấp công nhân đương đại” của
Liễu Khả Bạch, Vương Mai và Diêm Xuân Chi [2] đã cho rằng, trong điều kiện
phát triển mới giai cấp công nhân cần phát huy vai trò của mình trong quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc. Qua điều tra thực tế, các tác giả
đã phân tích những biểu hiện mới của giai cấp công nhân. Trong đó có sự tham gia
của công nhân trong quá trình phân chia lợi nhuận với giới chủ. Đặc biệt, điểm đáng
chú ý trong quan niệm về giai cấp công nhân, theo các tác giả khái niệm giai cấp
công nhân hiện nay đã được mở rộng, không chỉ có những người lao động trực tiếp
đứng máy, mà còn các tầng lớp lao động trong nhiều lĩnh vực khác, giai cấp công
nhân đã trở thành một khái niệm đa tầng với nội hàm rộng lớn, là tổng thể thống
nhất bao gồm công nhân phổ thông, thành phần trí thức, nhân viên kỹ thuật và
người quản lý kinh doanh.
Công trình “Giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát triển từ sau chiến
tranh lạnh đến nay - thực trạng và triển vọng” của Nguyễn Thị Quế, Nguyễn
Hoàng Giáp [99] đã phân tích quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giai cấp
công nhân, bối cảnh mới của thời đại ảnh hưởng đến giai cấp công nhân ở các nước
tư bản phát triển. Đó là sự phát triển của khoa học - công nghệ hiện đại; xu thế toàn
cầu hoá; sự phát triển nền kinh tế tri thức; những điều chỉnh của giai cấp tư sản và
9
nhà nước tư bản; sự thay đổi cục diện thế giới sau chiến tranh lạnh và sự vận động
phong trào cộng sản và công nhân ở các nước tư bản phát triển; trào lưu dân chủ xã
hội. Trên cơ sở đó, phân tích thực trạng giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát
triển từ sau năm 1991 đến nay trên những phương diện: sự thay đổi về số lượng, cơ
những điều kiện, bối cảnh khác nhau.
Các tác giả Trần Đình Huỳnh với bài viết “Giai cấp vô sản trí thức” [56]; Văn
Tạo với bài viết “Quan điểm mới về giai cấp công nhân Việt Nam qua văn kiện Đại
hội X của Đảng” [107]; Quang Cận với bài viết “Tư duy mới về giai cấp công nhân
và Đảng Cộng sản” [7]; Nguyễn Văn Huyên với bài viết “Suy nghĩ về giai cấp công
nhân và xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam” [54] đều cho rằng, giai cấp công
nhân Việt Nam hiện nay về cơ bản từng bước được trí thức hoá; công nhân đã trở
thành người làm chủ, chí ít là làm chủ đất nước; từ người vô sản, hiện nay công nhân
có sở hữu; giai cấp công nhân đưa khoa học trên đà trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp; giai cấp công nhân Việt Nam có một vị thế quốc tế mới trong quá trình hội nhập.
Trong điều kiện khoa học - công nghệ hiện đại, khái niệm lực lượng sản xuất cũng
cần được mở rộng nội hàm của nó, vì có lực lượng sản xuất bằng cơ bắp, có lực
lượng sản xuất bằng trí tuệ, chất xám. Từ đó các tác giả đều cho rằng, cần phải có
quan niệm mới về giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay theo hướng mở rộng nội
hàm, trong đó trí thức là một bộ phận của giai cấp công nhân Việt Nam.
Bàn về bản chất giai cấp công nhân Việt Nam, trong công trình“Tăng cường
bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay” của Đỗ Ngọc Ninh, Nguyễn Văn Giang [90]; trong bài viết “Để hệ giá trị của
giai cấp công nhân Việt Nam trở thành một hệ giá trị xã hội” của Nguyễn An Ninh
[91] đều cho rằng, bản chất giai cấp công nhân được biểu hiện ở giá trị phổ quát của
lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, cụ thể trên một số khía cạnh cơ bản: lao động, công
bằng, bình đẳng, sự phát triển tự do và toàn diện của công nhân, là tiền đề trở thành
hệ giá trị xã hội. Vì vậy, bản chất giai cấp công nhân gắn với vai trò của Đảng Cộng
sản, xây dựng Đảng là tăng cường bản chất giai cấp công nhân.
Phê phán sự xuyên tạc bản chất giai cấp công nhân của Đảng, bài viết “Bàn về
cái gọi là phê phán bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam”
của Nguyễn Văn Nam [82], đã đưa ra luận cứ phê phán quan điểm sai trái, phản
khoa học của các ý kiến phản bác bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Theo tác
giả, để giữ vững và nâng cao bản chất giai cấp của Đảng cần phải kiên định mục
hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tác động đến mọi quốc gia trong phát triển kinh tế, ảnh
hưởng đến đời sống chính trị - xã hội, và một số vấn đề quốc tế nói chung. Đối với
12
Việt Nam, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế được các tác giả chia làm hai giai
đoạn: giai đoạn trước năm 1985 và giai đoạn từ 1986 đến năm 2000. Trên cơ sở
những thành tựu và hạn chế đạt được, các tác giả đưa ra những quan điểm, mục tiêu
định hướng về hội nhập cho Việt Nam trong giai đoạn mới.
Các tác giả trong cuốn sách, “Phong trào chống mặt trái của toàn cầu hoá và
vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” [98] đã phân tích khái quát về xu thế toàn cầu hoá,
tác động của toàn cầu hoá đối với các quốc gia - dân tộc. Theo các tác giả, sự ra đời
của phong trào chống mặt trái của toàn cầu hoá là hệ quả tất yếu. Vì vậy cần làm rõ
mục tiêu, tính chất, đặc điểm, nội dung và hình thức của phong trào chống mặt trái
của toàn cầu hoá. Quan điểm của Việt Nam về toàn cầu hoá và phong trào chống
mặt trái của toàn cầu hoá. Những tác động tích cực và tiêu cực của toàn cầu hoá đối
với Việt Nam được biểu hiện trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá,
phân công lao động quốc tế, an ninh quốc gia,... Trên cơ sở đó các tác giả làm rõ
những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá, đưa ra những
khuyến nghị nhằm hạn chế tác động tiêu cực của toàn cầu hoá và việc tham gia
phong trào chống mặt trái của toàn cầu hoá của Việt Nam.
Nguyễn Văn Giàu với bài viết “Hội nhập kinh tế quốc tế: tất yếu khách quan
của đổi mới” [41] đã phân tích kết quả triển khai chủ trương của Đảng về hội nhập
kinh tế quốc tế. Theo đó, hội nhập quốc tế vừa là cơ hội, vừa là thách thức. Mở ra
cơ hội phát triển quan hệ thương mại, thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế theo hướng bền
vững, tạo thay đổi về mặt tư duy phát triển kinh tế cả hai khu vực kinh tế nhà nước
và kinh tế ngoài nhà nước. Tuy nhiên, theo tác giả hiện nay còn một số vấn đề đang
đặt ra đối với Việt Nam như: tính chủ động của nền kinh tế còn hạn chế, mức độ sẵn
sàng của các doanh nghiệp là chưa cao, còn bị động trong quá trình hội nhập. Từ đó
tác giả đưa ra những kiến nghị đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt
kinh tế của Việt Nam, như đối với xuất - nhập khẩu, đầu tư nước ngoài, ổn định
kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính, hoàn thiện thể chế. Tác động đối với cộng
đồng doanh nghiệp Việt Nam, các tác giả đã làm rõ tình hình phát triển của doanh
nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010; tác động của hội nhập WTO đến năng
suất lao động của doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động và khả năng tiếp cận thị trường
của các doanh nghiệp Việt Nam. Đặc biệt, các tác giả đã phân tích hội nhập WTO
tác động đến lao động Việt Nam dưới các góc độ: dân số và lực lượng lao động,
trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật, vấn đề việc làm, tình trạng thất nghiệp và
14
thiếu việc làm, tiền lương và thu nhập, năng suất lao động, điều kiện và quan hệ lao
động, an sinh xã hội.
Công trình “Toàn cầu hoá và tác động đối với sự hội nhập của Việt Nam”
[15] đã tập hợp các bài viết của nhiều tác giả nghiên cứu về toàn cầu hoá và tác
động của nó đến Việt Nam. Trong đó, tập trung vào mấy nhóm chủ đề chính như:
những khái niệm chung về toàn cầu hoá; toàn cầu hoá và những hệ quả của nó; toàn
cầu hoá kinh tế và sự hội nhập của Việt Nam. Ngoài những ý kiến khác nhau, thì
điểm chung mà các tác giả nhận định là toàn cầu hoá đã lan tỏa trong mọi mặt của
cuộc sống kinh tế, xã hội, đây là mối quan tâm của nhiều quốc gia trong quá trình
phát triển. Vì vậy, Việt Nam cần có lộ trình để chủ động trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế.
Nguyễn Văn Ngừng trong sách “Xu hướng phát triển kinh tế thế giới hiện nay
và tác động đối với an ninh trật tự ở Việt Nam” [86] đã phân tích xu hướng phát
triển của kinh tế thế giới hiện nay là: sự phát triển theo xu hướng toàn cầu hoá và
khu vực hoá; phát triển kinh tế thị trường theo hướng mở là xu hướng chung của
các quốc gia; phát triển kinh tế tri thức là xu hướng tất yếu; cạnh tranh kinh tế ngày
càng gay gắt, khốc liệt; chính phủ can thiệp ngày càng sâu vào hoạt động kinh tế
của các nền kinh tế và vùng lãnh thổ; sự thành lập các liên kết khu vực và liên kết
khu vực ngày càng mạnh mẽ. Từ đó, tác giả phân tích những tác động tích cực và
cuốn sách chuyên khảo “Chuyển dịch cơ cấu lao động trong xu hướng hội nhập
quốc tế” của Phạm Quý Thọ [118] cho rằng, quá trình hội nhập quốc tế tất yếu tác
động đến chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
trong quá trình đó nguồn nhân lực cũng có sự chuyển đổi để đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ mới. Do đó, cùng với quá trình hội nhập thì lao động chuyển từ sản xuất nông
nghiệp từng bước chuyển sang lao động công nghiệp là xu hướng chuyển dịch cơ
bản đối với Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó tác giả tiếp cận sự chuyển dịch cơ
cấu lao động theo lứa tuổi và giới tính, theo vùng và lãnh thổ, theo trình độ văn hoá
và chuyên môn kỹ thuật, theo ngành kinh tế và theo thành phần kinh tế. Từ thực
trạng phân tích tác giả đưa ra các giải pháp kinh tế - xã hội chủ yếu thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu lao động ở Việt Nam theo hướng bền vững.
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đây tiếp cận về giai cấp công
nhân đa chiều, dưới nhiều góc nhìn khác nhau trong quá trình phát triển, biến đổi
16
của giai cấp công nhân quốc tế, cũng như giai cấp công nhân Việt Nam. Điểm
chung của các công trình nghiên cứu trên đây là đều khẳng định trong thời đại ngày
nay mặc dù giai cấp công nhân có nhiều biểu hiện mới như: xu hướng trí thức hoá
công nhân, công nhân toàn cầu, công nhân có cổ phần, đời sống công nhân được cải
thiện và nâng cao cùng quá trình phát triển, giai cấp công nhân có sự đa dạng trong
cơ cấu thành phần và ngành nghề, thành phần xuất thân đa dạng của giai cấp công
nhân,... Nhưng về bản chất, địa vị và vai trò của giai cấp công nhân trong thời đại
ngày nay vẫn không thay đổi, vẫn đại biểu cho lực lượng sản xuất hiện đại, đi đầu
trong quá trình xây dựng xã hội giàu mạnh, dân chủ, công bằng. Cho nên, những giá
trị lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân vẫn
còn nguyên ý nghĩa.
Trước xu hướng biến đổi hiện nay của giai cấp công nhân nói chung, giai cấp
công nhân Việt Nam nói riêng, cần phải có những nghiên cứu cơ bản và hệ thống để
có cái nhìn toàn diện về giai cấp công nhân đương đại; đồng thời phát triển lý luận
Liên quan đến thực trạng, quan điểm và giải pháp đối với sự biến đổi của giai
cấp công nhân nước ta trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập
quốc tế đã được nhiều nhà khoa học tiếp cận nghiên cứu. Trong số đó có các công
trình và bài viết tiêu biểu sau:
Trong công trình “Xu hướng biến động giai cấp công nhân Việt Nam trong
những năm đầu thế kỷ XXI” của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam [128] đã tập
hợp các bài viết của nhiều tác giả bàn về xu hướng biến đổi của giai cấp công nhân
nước ta trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
Trong đó, nội dung chủ yếu tập trung vào những vấn đề như: đặc điểm, thực trạng và
giải pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay. Các nhân tố khách quan
và chủ quan tác động đến sự biến đổi giai cấp công nhân Việt Nam. Ý thức chính trị
của giai cấp công nhân nước ta - biểu hiện, thực trạng và xu hướng. Toàn cầu hoá và
xu hướng biến động của giai cấp công nhân. Những thách thức đối với xu hướng biến
đổi giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI.
Bùi Thị Thanh Hà với công trình “Công nhân công nghiệp trong các doanh
nghiệp liên doanh ở nước ta thời kỳ đổi mới” [42] đã tiếp cận dưới góc độ xã hội
học, nghiên cứu sự nghiệp đổi mới và sự hình thành nhóm công nhân công nghiệp
trong các doanh nghiệp liên doanh. Đặc điểm của đội ngũ công nhân này về cơ cấu,
điều kiện lao động, quan hệ xã hội, các hoạt động, quan hệ ngoài doanh nghiệp và
một số vấn đề liên quan. Trên cơ sở đó tác giả đưa ra kết luận công nhân trong các
18
doanh nghiệp liên doanh đa phần là lao động nữ; quan hệ giữa công nhân với nhau
có sự biến đổi theo thời gian nhằm thích ứng với cơ chế mới; về cơ bản công đoàn
phát huy được vai trò của mình; các hoạt động, quan hệ ngoài doanh nghiệp bị chi
phối bởi thời gian làm việc và thu nhập tại doanh nghiệp. Bên cạnh đó còn có
những vấn đề đặt ra như: vấn đề dịch chuyển chất lượng nguồn lao động; vấn đề
quản lý lao động; vấn đề mất cân bằng giới trong doanh nghiệp cần phải được quan
tâm tiếp cận nghiên cứu.
kiến nghị góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay.
Trần Văn Chử với bài viết “Đời sống vật chất và tinh thần của công nhân
trong các khu công nghiệp, khu chế xuất” [10] đã phân tích những khó khăn về đời
sống vật chất và tinh thần của công nhân trong các khu công nghiệp, khu chế xuất
hiện nay. Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp khắc phục là: khi cấp phép thành lập
các khu công nghiệp, khu chế xuất phải thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các điều kiện
đối với đời sống vật chất và tinh thần của công nhân; gắn quy hoạch tổng thể kinh tế
- xã hội với quy hoạch các khu công nghiệp, khu chế xuất; cải cách chế độ tiền
lương phù hợp với điều kiện sống trong cơ chế thị trường; xây dựng nhà ở cho công
nhân; đổi mới hoạt động của tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội
khác trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân.
Nguyễn An Ninh trong cuốn sách “Về xu hướng công nhân hoá ở nước ta hiện
nay” [92] đã làm rõ các đặc trưng về xu hướng công nhân hoá. Đó là sự phát triển
giai cấp công nhân chiếm số lượng lớn trong dân cư; giai cấp công nhân quyết định
sự tồn tại và phát triển của xã hội; bản chất giai cấp công nhân được biểu đạt thông
qua lối sống, nhiều giá trị trở thành hệ giá trị xã hội. Tuy nhiên, giai cấp công nhân
nước ta còn nhiều hạn chế, khó khăn và bất cập về số lượng, chất lượng và cơ cấu,
điều kiện sống và sinh hoạt, đang đối diện với hiện tượng phân tầng, phân hoá giàu
nghèo trong nội bộ. Trên cơ sở đó, tác giả đã khảo sát thực tế đời sống công nhân
Thành phố Hồ Chí Minh và phân tích những yếu tố khách quan tác động đến ý thức
chính trị của giai cấp công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Những nghịch lý trong quá trình phát triển giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay,
như: trạng thái tới hạn nguồn lực công nhân nước ta, hệ thống dạy nghề hạn chế
trước yêu cầu cao của môi trường lao động hiện đại và yêu cầu của quá trình đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước.
Trong cuốn chuyên khảo “Giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn Việt Nam
trong những năm đầu thế kỷ XXI” của Nguyễn Viết Vượng [139] đã đề cập đến sự
20