MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt............................................................................iii
Danh mục các bảng....................................................................................................iv
Danh mục các hình vẽ, đồ thị......................................................................................v
MỞ ĐẦU......................................................................................................................
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU........................................................................
1.1. Cơ sở lý luận...........................................................................................................
1.1.1. Làng nghề với phát triển kinh tế xã hội nông thôn.................................................
1.1.2. Những vấn đề về ô nhiễm môi trường làng nghề.................................................
1.2. Ô nhiễm làng nghề và xử lý ô nhiễm ở một số nước trên thế giới và Việt Nam
.....................................................................................................................................
1.2.1. Ô nhiễm làng nghề và xử lý ô nhiễm ở một số nước trên thế giới........................
1.2.2. Ô nhiễm làng nghề và xử lý ô nhiễm làng nghề ở Việt Nam................................
CHƯƠNG II. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
.....................................................................................................................................
2.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................................
2.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu..............................................................................
2.3. Nội dung nghiên cứu..............................................................................................
2.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN....................................
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và hoạt động sản xuất của làng nghề..................
3.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của làng nghề..................................................
3.1.2. Những nét đặc trưng của làng nghề mộc Thái Yên..............................................
Hình 3.3. Quy trình sản xuất các sản phẩm mỹ nghệ tại làng nghề mộc Thái Yên.........
i
CTR:
Chất thải rắn
CTRSH:
Chất thải rắn sinh hoạt
CTTB:
Cải tiến thay đổi thiết bị
HTX:
Hợp tác xã
KSQT:
Kiểm soát quá trình
QCVN:
Quy chuẩn Việt Nam
QLNV:
Quản lý nội vi
SXSH:
Bảng 3.4. Cơ cấu thu nhập tại xã Thái Yên..................................................................
Bảng 3.5. Các loại nguyên vật liệu sử dụng trong quá trình sản xuất.............................
Bảng 3.6. Hiện trạng môi trường nước thải tại làng nghề Thái Yên...............................
Bảng 3.7. Bảng cân bằng vật liệu tại một hộ sản xuất..................................................
Bảng 3.8. Hiện trạng môi trường không khí tại làng nghề Thái Yên..............................
Bảng 3.9. Các loại bệnh thường mắc phải...................................................................
Bảng 3.10. Bảng tổng hợp cơ hội sản xuất sạch hơn đối với làng nghề mộc.................
Bảng 3.11. Bảng tổng hợp cơ hội sản xuất sạch hơn đối với làng nghề mộc Thái Yên. .
Bảng 3.12. Bảng phân tích nguyên nhân của dòng thải làng nghề mộc Thái Yên..........
Bảng 3.13. Bảng sàng lọc các cơ hội SXSH tại làng nghề mộc Thái Yên......................
Bảng 3.14. Đánh giá mức độ của các giải pháp............................................................
Bảng 3.15. Bảng tiết kiệm nguyên liệu đầu ra của phương án xây dựng hệ thống phun
5
6
7
13
29
33
33
36
40
41
43
45
49
60
62
65
66
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu chung
Những năm vừa qua, ở nhiều vùng nông thôn nước ta các làng nghề đã phát
triển khá mạnh và đóng góp đáng kể cho phát triển kinh tế - xã hội của các địa
phương. Song bên cạnh đó, tại đây cũng đã nảy sinh nhiều vấn đề môi trường cần
phải quan tâm giải quyết đòi hỏi sự quan tâm tháo gỡ kịp thời của các ngành, các
cấp, đặc biệt là chính quyền các địa phương nơi có làng nghề.
Việc phát triển làng nghề là một phần quan trọng của công nghiệp hoá - hiện
đại hoá nông nghiệp và nông thôn trong những năm đầu của thế kỷ 21. Phát triển
mạnh những ngành nghề, đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm truyền thống có giá trị
kinh tế cao, sử dụng được nhiều lao động là lợi thế của làng nghề địa phương. Đời
sống nông dân ở nhiều vùng nông thôn trong cả nước đã khấm khá lên do sản xuất
nông nghiệp phát triển đồng thời với việc khôi phục và phát triển các làng nghề.
Hiện nay, việc khôi phục và phát triển làng nghề nông thôn đang có nhiều
thuận lợi, được Nhà nước hộ trợ kinh phí và tìm đầu ra cho sản phẩm. Tuy nhiên, do
phát triển tự phát và thiếu quy hoạch nên đã dẫn tới hậu quả là môi trường ở các
làng nghề đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Tại nhiều làng nghề hiện nay đang bị ô
nhiễm cả về: Vật lý, hóa học và sinh học. Hiện trạng về ô nhiễm biểu hiện: Không
khí thì bị ô nhiễm về nhiệt, tiếng ồn, hơi độc, bụi khói và không gian sống ngày
càng bị thu hẹp do đất phải nhường chỗ cho sản xuất công nghiệp và các công trình
khác. Đất sản xuất nông nghiệp và nguồn nước sinh hoạt nhiều nơi đang có nguy cơ
bị ô nhiễm nặng do phế thải công nghiệp và sinh hoạt. Cây xanh vốn là đặc trưng
của nông thôn Việt Nam, nhưng nay đã bị thu hẹp dần nhường chỗ cho các công
trình xây dựng [1].
Ô nhiễm môi trường đã và đang tác động xấu đến sức khoẻ con người, người
dân làng nghề đang có nguy cơ mắc bệnh mà do ô nhiễm môi trường gây nên. Ô
nhiễm môi trường nông thôn nói chung và môi trường các làng nghề nói riêng hiện
đang là vấn đề được cả xã hội quan tâm.
1
2
Đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý để cải thiện môi trường trong quá
trình sản xuất của làng nghề.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các mục tiêu nêu trên, đề tài đã tiến hành thu thập số liệu
cụ thể về tình hình phát triển làng nghề và tình trạng ô nhiễm môi trường đã được
thu thập từ các nghiên cứu liên quan và thu thập các số liệu về xã hội như tổng dân
số, tổng số lao động tham gia làng nghề, tổng sản phẩm, tổng giá trị, lượng rác thải
được thu thập từ văn phòng UBND xã Thái Yên. Bên cạnh đó, đề tài đã tiến hành xây
dựng các mẫu phiếu điều tra cho các hộ gia đình, cơ quan quản lý nhà nước cấp xã,
cấp huyện và điều tra hiện trạng, phỏng vấn các hộ, người lao động, chính quyền địa
phương để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm cho làng nghề
mộc Thái Yên.
3
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Làng nghề với phát triển kinh tế xã hội nông thôn
1.1.1.1. Khái niệm và tiêu chí làng nghề
Làng nghề được định nghĩa là một (01) hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp,
bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã,
phường, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất tiểu thủ công
nghiệp sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau [14].
Xét về mặt định tính: làng nghề ở nông thôn nước ta được hình thành và phát
Lực lượng lao động
Là người dân sống trong làng, các ngành nghề phi
nông nghiệp trong làng sẽ tạo ra sản phẩm giúp cho
người dân tăng thu nhập trong lúc nông nhàn.
2
Hộ gia đình
Là đơn vị cơ bản của sản xuất với nguồn nhân lực từ
thành viên trong gia đình và cơ sở hạ tầng tự có. Nhờ
vào nhân lực gia đình đã tạo cho các hộ gia đình khả
năng thu nhập không phân biệt lứa tuổi và giới tính vì nó
đáp ứng nhu cầu chung của các thành viên trong gia
đình. Do đó, nó có thể huy động mọi người trong gia
đình tham gia tích cực vào việc tăng sản phẩm sản xuất
của gia đình
3
Cơ sở sản xuất
dịch vụ
Là nơi có nhiểu hộ gia đình cùng tham gia. Điều này
tạo nên tính chất riêng biệt của làng nghề, dẫn đến xu thế
độc quyền những nghề nghiệp, sản phẩm.
Tính chuyên môn hóa
1.1.1.3 Phân loại và đặc trưng sản xuất của các làng nghề
Làng nghề với những hoạt động phát triển đã tạo ra những tác động tích cực
và tiêu cực đến đời sống kinh tế xã hội và môi trường nông thôn Việt Nam với đặc
thù hết sức đa dạng. Cần phải nhìn nhận theo nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau
mới có thể hiểu rõ được bản chất cũng như sự vận động của loại hình kinh tế này và
5
các tác động của nó gây ra đối với môi trường. Để giúp cho công tác quản lý hoạt
động sản xuất cũng như quản lý, bảo vệ môi trường và làm cơ sở thực tiễn để thấy
được bức tranh tổng thể về làng nghề Việt Nam, có thể phân loại làng nghề theo
một số dạng được tóm tắt theo bảng 1.2 sau:
Bảng 1.2. Phân loại làng nghề Việt Nam [7]
STT
Cách phân loại
Đặc trưng
1
Phân loại theo làng
nghề truyền thống và
làng nghề mới
Dựa trên đặc thù văn hoá, mức độ bảo tồn các làng
nghề đặc trưng cho các vùng văn hoá lãnh thổ khác nhau
2
nhiên liệu
Xem xét, đánh giá mức độ sử dụng tài nguyên tại các
làng nghề, tiến tới có được giải pháp quản lý và kinh tế
trong sản xuất nhằm giảm lượng tài nguyên sử dụng
cũng như hạn chế tác động đến môi trường
6
Phân loại theo thị
trường tiêu thụ sản
phẩm, tiềm năng tồn
tại và phát triển
Xem xét tới các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và quan
trọng nhất đối với sự phát triển của làng nghề
Từ bảng 1.2 cho thấy đối với mục đích nghiên cứu về môi trường làng nghề,
thì việc phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm là phù hợp hơn cả. Vì
thực tế cho thấy nếu đánh giá được ngành sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất,
quy mô sản xuất thì sẽ đánh giá được tác động của sản xuất ngành nghề đến môi
trường.
Làng nghề nước ta phong phú về chủng loại, đa dạng về hình thức đã tạo ra
những sản phẩm đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng. Cách tiếp cận tốt
6
nhất là nhóm các làng nghề lại theo các kiểu sản phẩm và phương thức sản xuất
chính. Theo cách tiếp cận này, làng nghề được xem xét đồng thời trên các mặt: quy
trình sản xuất, sản phẩm sản xuất và quy mô sản xuất. Phân loại làng nghề theo 6
Đặc trưng của làng nghề
Có số lượng làng nghề lớn (chiếm 20% số lượng làng
nghề) phân bố đều trên cả nước, sử dụng lao động nông
Làng nghề chế biến nghiệp, không yêu cầu trình độ cao, hình thức sản xuất
lương thực phẩm
thủ công, ít có thay đổi về quy trình sản xuất, các làng
nghề này thường gắn với hoạt động chăn nuôi ở quy mô
gia đình
Đã có từ lâu đời, nhiều sản phẩm đã gắn liền với
Làng nghề thêu, dệt
truyền thống lịch sử, văn hoá đậm nét địa phương. Tại
nhuộm, ươm tơ, thuộc
các làng nghề nhóm này, lao động nghề thường là lao
da
động chính (chiếm tỷ lệ cao hơn lao động nông nghiệp).
Làng nghề sản xuất
Tập trung ở các vùng có sẵn nguyên liệu xây dựng.
vật liệu xây dựng và Lao động loại chủ yếu là thủ công, quy trình công nghệ
khai thác đá
thô sơ, tỷ lệ cơ khí hoá thấp
Mới hình thành, nên số lượng ít nhưng lại được phát
Làng nghề tái chế phế
triển nhanh về loại hình tái chế (chất thải kim loại, giấy
liệu
nhựa, vải đã qua sử dụng)
Chiếm tỷ lệ lớn về số lượng (khoảng 40%) có truyền
thống lâu đời, sản phẩm có giá trị cao, đậm nét văn hoá
dân tộc như gốm, sành sứ, thuỷ tinh mỹ nghệ, chạm khắc
Làng nghề thủ công đá, chạm mạ vàng bạc, sản xuất mây tre đan, đồ gỗ mỹ
mỹ nghệ
chế quản lý chất thải làng nghề [4].
* Làng nghề với sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn
Điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một yếu tố cực kỳ quan trọng hỗ trợ phát
triển các làng nghề. Khả năng tiếp cận thông tin, điện, nước sạch, giao thông và các
yếu tố khác về cơ sở vật chất là rất cần thiết cho sự phát triển của các làng nghề. Phát
triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt sẽ góp phần mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống
của người dân, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo ở nước ta thông qua việc phát triển
các ngành nghề tại các làng nghề. Ngược lại, sự phát triển kinh tế của các làng nghề
cũng góp phần đổi mới bộ mặt nông thôn, cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
Hạ tầng cơ sở ở những nơi tập trung nhiều làng nghề như khu vực đồng bằng
sông Hồng, Bắc Trung bộ và Đông Nam Bộ nhìn chung phát triển khá tốt do các
làng nghề phần lớn được hình thành, phát triển ở những nơi tiếp cận thuận lợi mạng
lưới đường quốc lộ, tỉnh lộ, cùng sự hỗ trợ của các chính sách từ chính quyền địa
phương nhằm thúc đẩy mạnh mẽ phát triển làng nghề. Khu vực miền núi, cũng có
một số làng nghề phát triển, tuy nhiên điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật vẫn không
được chú trọng đầu tư do phần lớn làng nghề ở đây không nhằm mục tiêu phục vụ
thị trường mà chủ yếu sản phẩm chỉ phục vụ đời sống nhân dân khu vực lân cận.
* Làng nghề và xoá đói giảm nghèo ở nông thôn
Tại các làng nghề, đại bộ phận dân cư làm nghề thủ công nhưng vẫn tham
gia sản xuất nông nghiệp ở một mức độ nhất định. Tại nhiều làng nghề, trong cơ
cấu kinh tế địa phương, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đạt 60 - 80% và
9
ngành nông nghiệp chỉ đạt 20 - 40%. Trong những năm gần đây, số hộ và cơ sở
ngành nghề ở nông thôn đang ngày một tăng lên với tốc độ bình quân từ 8,8 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu từ các sản phẩm làng nghề không ngừng gia tăng.
Chính vì vậy, có thể thấy, làng nghề đóng vai trò rất quan trọng, trực tiếp giải quyết
việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao
chất lượng cuộc sống cho người lao động ở khu vực nông thôn [1]. Bên cạnh việc
sinh một số tác động tiêu cực đến môi trường. Những tác động xấu đến môi trường
nhiều năm qua đã làm cho chất lượng môi trường nhiều làng nghề ngày càng suy
giảm, ảnh hưởng không chỉ tới sự phát triển bền vững ở làng nghề, mà còn ảnh
hưởng đến cả tính bền vững của nhiều ngành kinh tế khác.
* Một số tồn tại của làng nghề ở Việt Nam:
Làng nghề Việt Nam trong quá trình phát triển, đến nay đã bộc lộ một số tồn
tại sau:
- Quy mô sản xuất của làng nghề nhỏ, phần lớn quy mô hộ gia đình (chiếm
72% tổng số cơ sở sản xuất) [4].
- Quy mô sản xuất tại nhiều làng nghề là quy mô nhỏ, khó phát triển vì mặt
bằng sản xuất chật hẹp xen kẽ với khu vực sinh hoạt. Sản xuất càng phát triển thì
nguy cơ lấn chiếm khu vực sinh hoạt, phát thải ô nhiễm tới khu dân cư càng lớn,
dẫn đến chất lượng môi trường càng xấu đi.
- Nếp sống tiểu nông của người chủ sản xuất nhỏ xuất thân từ nông dân đã
ảnh hưởng mạnh tới sản xuất làng nghề, làm tăng mức độ ô nhiễm môi trường.
- Người sản xuất không nhận thức được tác hại lâu dài của ô nhiễm, chỉ quan
tâm đến lợi nhuận trước mắt, các cơ sở sản xuất tại làng nghề thường lựa chọn quy
trình sản xuất thô sơ tận dụng nhiều sức lao động trình độ thấp. Hơn thế nhằm hạ
giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh, nhiều cơ sở sản xuất còn sử dụng các
nhiên liệu rẻ tiền, hóa chất độc hại (kể cả đã cấm sử dụng) không đầu tư phương
tiện, dụng cụ bảo hộ lao động không đảm bảo điều kiện lao động nên đã làm tăng
mức độ ô nhiễm môi trường.
- Quan hệ sản xuất mang đặc thù của quan hệ gia đình, dòng tộc, làng xã.
Nhiều làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống, sử dụng lao động có tính
gia đình, sản xuất theo kiểu "bí truyền", giữ bí mật cho dòng họ, tuân theo
11
"hương ước" không cải tiến áp dụng những khoa học kỹ thuật, nên đã cản trở
1.1.1.7. Xu thế phát triển làng nghề đến năm 2015
Các yếu tố chính tác động đến sự phát triển của làng nghề bao gồm các yếu
tố chủ quan như nội lực sản xuất và các yếu tố khách quan như chính sách của Nhà
nước, vấn đề thị trường [4].
Các yếu tố chính sách tác động đến sự phát triển của làng nghề: Có 5 yếu tố
chính làm cho làng nghề có thể được hình thành, phát triển hoặc bị mai một:
- Nội lực sản xuất, trong đó đóng vai trò quan trọng là: người đúng đầu cơ sở
sản xuất, cơ sở vật chất và mặt bằng, công nghệ sản xuất, nguyên nhiên liệu, bản
sắc văn hóa, vốn và năng lực kinh doanh của một cơ sở sản xuất trong làng nghề.
- Chính sách Nhà nước, bao gồm các thể chế và chính sách của các cấp quản
lý từ trung ương đến địa phương, như tổ chức hiệp hội, chính sách thuế, hỗ trợ vốn,
hậu thuẫn của các cơ quan quản lý địa phương.
- Tác động của thị trường và vấn đề hội nhập quốc tế.
- Yếu tố xã hội như tạo công ăn việc làm, đa dạng hóa loại hình kinh tế, bảo
tồn giá trị văn hóa.
- Yếu tố môi trường như tác hại của ô nhiễm tới sức khỏe cộng đồng, cảnh
quan gây tổn thất kinh tế, xã hội.
Các yếu tố này được lượng hóa bằng đánh giá của các chuyên gia trong
nhiều lĩnh vực, sẽ cho biết xu thế phát triển của các loại hình làng nghề (thể hiện
trong bảng 1.3).
Bảng 1.4. Xu thế phát triển làng nghề đến năm 2015 [4]
Vùng kinh tế
Đồng bằng sông Hồng
Đông bắc
Tây Bắc
Bắc Trung Bộ
13
Tái
chế
phế
liệu
Thủ
công
mỹ
nghệ
Sản xuất vật
liệu xây
dựng, khai
thác đá
2
0
0
1
1
0
1
2
1
1
2
2
nhiều với sản phẩm sản xuất công nghiệp. Số lượng làng nghề các khu vực đồng
bằng sông Hồng, Trung Bộ và Nam Bộ có xu hướng tăng nhiều hơn so với các khu
vực Đông Bắc và Tây Bắc
Khu vực đông bằng sông Hồng có số lượng làng nghề lớn nhất (khoảng gần
60% tổng số làng cả nước) và vẫn tiếp tục tăng trưởng nên khu vực này sẽ được coi
là đại diện cho xu thế môi trường làng nghề trong các dự báo tiếp theo và tải lượng
và mức độ ô nhiễm môi trường.
Hình 1.2. Dự đoán số lượng làng nghề khu vực đồng bằng sông Hồng đến 2015 [4]
Hình 1.2 là kết quả dự đoán số lượng làng nghề khu vực đông bằng sông
Hồng đến năm 2015. Có thể nhận thấy xu hướng phát triển của các làng nghề thay
đổi ít về số lượng. Một số làng nghề mới có thể phát triển do trở thành "vệ tinh" sản
14
xuất, gia công hoặc phục vụ cho các khu công nghiệp quanh vùng. Tuy nhiên, khi
đó có thể có sự thay đổi về chất lượng (công nghệ, kỹ thuật, quy mô, cơ sở hạ tầng
cho BVMT) làm cho môi trường làng nghề ít bị ô nhiễm hơn và sự phát triển bền
vững hơn. Duy trì và mở rộng các làng nghề truyền thống vừa làm đa dạng thị
trường cung cấp hàng hoá thủ công vừa góp phần giữ gìn và phát triển những nét
đặc sắc của nền văn hoá Việt Nam.
Các vấn đề về hiện trạng ô nhiễm và xu hướng trong tương lai, tác động của
ô nhiễm môi trường, thực trạng và những tồn tại trong quản lý môi trường làng
nghề, các giải pháp tổng hợp nhằm cải thiện môi trường làng nghề sẽ được phân
tích và làm rõ hơn trong những phần tiếp theo của báo cáo.
1.1.2. Những vấn đề về ô nhiễm môi trường làng nghề
1.1.2.1. Tổng quan ô nhiễm môi trường làng nghề
Các chất thải phát sinh tại nhiều làng nghề đã và đang gây ô nhiễm môi
trường và làm suy thoái môi trường nghiêm trọng, tác động trực tiếp tới sức khoẻ
xuất. Ở các làng nghề do quá trình hình thành và phát triển mang tính tự phát, thiết
bị đơn giản thủ công, công nghệ lạc hậu, hiệu quả sử dụng nguyên nhiên liệu thấp,
mặt bằng sản xuất hạn chế, việc đầu tư cho xây dựng các hệ thống xử lý nước, khí
thải hầu như không được quan tâm. Ý thức bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ
sức khỏe cho chính gia đình của người lao động còn rất hạn chế. Do đó vấn đề ô
nhiễm môi trường làng nghề nước ta trở nên bức xúc nhất hiện nay. Hiện trạng ô
nhiễm ở các làng nghề được biểu hiện như sau [8], [9]:
a) Hiện trạng phát thải ô nhiễm môi trường làng nghề chế biến nuôi trồng
thủy sản.
Ngành chế biến nông sản là ngành có nhu cầu nước rất lớn và thải ra một
lượng nước thải lớn giàu chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường. Tùy theo quy trình
chế biến, nước thải chế biến nông sản thực phẩm có BOD 5 lên tới 2500 - 5000mg/l,
COD 13.300 - 20.000mg/l (nước tách bột đen trong sản xuất tinh bột sắn). Nước
thải của các làng nghề này đều vượt quy chuẩn cho phép từ 5 - 32 lần [4],[7].
Chất thải trong nghề chế biến lương thực thực phẩm rất đa dạng. Nhìn chung
chất thải trong nghề chế biến lương thực thực phẩm là những chất hữu cơ dễ bị
phân hủy. Trong khu vực các làng nghề này thường có thêm ngành nghề chăn nuôi
gia súc, gia cầm, nuôi thuỷ sản để tận thu các nguồn nguyên liệu còn thừa ra. Chất
16
thải của ngành nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm chất thải chủ yếu là chất hữu cơ,
định mức chất thải rắn đối với gia súc, gia cầm (lợn thải ra 1,5 kg/con/ngày, gà, vịt,
ngan thải ra 0,1 kg/con/ngày, trâu, bò thải ra 3 kg /con/ngày) [7]. Chất thải ngành
chăn nuôi là những chất hữu cơ dễ bị phân hủy, gây ô nhiễm môi trường, tạo mùi
khó chịu, nếu không được xử lý tốt sẽ gây ô nhiễm cả 3 môi trường: đất, nước và
không khí.
Nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí đặc trưng nhất của các làng nghề
chế biến nuôi trồng thủy sản là mùi hôi do sự phân hủy yếm khí các chất hữu cơ
liệu tiêu thụ một lượng rất lớn nhiên liệu là than và củi. Mức độ ô nhiễm không khí
là nghiêm trọng nhất, bụi phát sinh từ quá trình khai thác, gia công nguyên liệu, vận
chuyển vào lò, ra lò và bốc dỡ sản phẩm là rất lớn. Khói độc và sức nóng toả ra từ
các lò nung, tiếng ồn do hoạt động giao thông làm cho môi trường không khí bị ô
nhiễm nặng, ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ người dân, cây cối và hoa màu. Trong quá
trình khai thác nguyên liệu cho sản xuất gạch ngói thiếu quy hoạch đã gây huỷ hoại
thảm thực vật, tạo ra các vùng trũng ảnh hưởng lớn tới quá trình tưới tiêu và làm
giảm diện tích canh tác.
d) Hiện trạng phát thải ô nhiễm môi trường tại làng nghề tái chế phế thải
Làng nghề tái chế phế thải gồm: tái chế giấy, tái chế kim loại, tái chế nhựa...,
là một ngành mới được hình thành tuy nhiên trong những năm qua đã phát triển khá
nhanh. Tại các làng nghề tái chế phế thải ô nhiễm môi trường nước diễn ra khá
nghiêm trọng do đặc điểm sử dụng nhiều nước. Trong quá trình rửa sạch chất thải,
nước thải mang theo khá nhiều các tạp chất làm ô nhiễm môi trường. Một kết quả
nghiên cứu tại làng nghề Dương Nỗ (Bắc Ninh) nước có hàm lượng COD là 630 –
1.260 mg/l vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 2 - 12 lần, ngoài ra hàm lượng Phenol
rất cao (0.2 mg/l) vượt tiêu chuẩn cho phép 10 lần. Tại làng nghề tái chế kim loại
nước thải của quá trình tẩy rửa và mạ kim loại chứa hoá chất axit, xút, các kim loại
như: Cr2+, Pb2+..., gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước. Tại làng nghề Phước Kiều
- Quảng Nam, hàm lượng Pb 2+ là 0.6 mg /l vượt quá tiêu chuẩn cho phép 6 lần,
ngoài ra phải thường xuyên chịu nhiệt độ cao, tiếng ồn lớn, bụi và khí độc [7].
e) Hiện trạng phát thải ô nhiễm môi trường tại làng nghề dệt nhuộm
18
Trong cơ cấu làng nghề dệt nhuộm nói chung, nghề nhuộm chiếm một vị trí
quan trọng. Hoạt động của các làng nhuộm không chỉ tạo ra những giá trị về mặt
kinh tế xã hội, mà còn tạo ra những giá trị văn hóa tinh thần sâu sắc. Cũng như các
làng chế biến nông sản thực phẩm, vấn đề ô nhiễm môi trường nước là vấn đề lớn
h) Hiện trạng phát thải ô nhiễm môi trường tại làng nghề thủ công mỹ nghệ:
Các làng nghề này hiện tượng ô nhiễm môi trường nước diễn ra ít nghiêm
trọng như các làng nghề chế biến nuôi trồng thủy sản và các làng nghề tái chế. Tuy
nhiên, sản xuất tại các làng nghề này lại thường xuyên gây ra bụi và tiếng ồn lớn,
hoặc gây ra khí độc khi tẩm sấy các đồ mây, tre đan.
i) Hiện trạng phát thải ô nhiễm môi trường tại làng nghề sản xuất và cung
ứng nguyên vật liệu:
Tại các làng nghề thường tạo ra các chất thải rắn (xỉ than, gạch vỡ, gạch
phồng, đất đá thải do khai thác khoáng sản ...) và chất thải khí (bụi, SO 2, CO, NOx)
1.1.2.3 Tác động của sản xuất làng nghề tới sức khỏe cộng đồng
Chất thải trong hoạt động sản xuất của các làng nghề ảnh hưởng trực tiếp hay
gián tiếp đến sức khỏe của người sản xuất và của cộng đồng nói chung. Số liệu
thống kê của phòng y tế các huyện và trạm y tế xã về tình hình sức khỏe của nhân
dân làng nghề cho thấy ở từng làng nghề khác nhau thì các bệnh nghề nghiệp có
khác nhau: ở làng nghề cơ khí, đúc, sản xuất nguyên vật liệu do sử dụng lượng than
lớn để phục vụ sản xuất nên tỷ lệ mắc các bệnh về phổi, phế quản cao. Làng nghề
tẩy nhuộm vải sợi, tẩy mạ kim loại sử dụng nhiều hóa chất độc hại, kim loại nặng
thì tỷ lệ người bị bệnh ung thư cao. Làng nghề gây ô nhiễm nguồn nước như chế
biến lương thực, mây tre đan, chế biến gỗ thì tỷ lệ người mắc bệnh hô hấp, tiêu hóa [22].
1.2. Ô nhiễm làng nghề và xử lý ô nhiễm ở một số nước trên thế giới và Việt
Nam
1.2.1. Ô nhiễm làng nghề và xử lý ô nhiễm ở một số nước trên thế giới
Trong khu vực nhiều quốc gia có làng nghề, trong đó có có một số quốc gia
lân cận như Trung Quốc, Hàn Quốc, Triều Tiên có đặc điểm làng nghề tương tự
như ở Việt Nam nên trong phần này chủ yếu đề cập về làng nghề của Trung Quốc
và Hàn Quốc.
1.2.1.1. Trung Quốc
20