1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển của đất nước, sự phát triển về lĩnh vực giáo dục cần
phải được chú trọng và quan tâm đúng mức. Vì vậy, việc đổi phương pháp dạy
học đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ thị cho Sở Giáo dục các tỉnh thực hiện.
Đối với việc dạy học phân môn Tập làm văn, nếu giáo viên thực hiện tốt các
phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh sẽ giúp các
em phát huy cao độ trí tuệ, cảm xúc, sự năng động, sáng tạo trong học tập và
giao tiếp. Trên thực tế, nhiều giáo viên ở nhiều nơi, do chưa vận dụng thành
công các phương pháp dạy học tích cực, học sinh còn bị đặt ở thế thụ động lĩnh
hội tri thức nên hiệu quả dạy học chưa khả quan. Cụ thể là, học sinh chưa nói,
viết theo cách cảm, cách nghĩ của văn chương.
Hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy học là nhằm phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của người học. Đổi mới phương pháp dạy học là vừa kế thừa
và phát huy những mặt tích cực của những phương pháp dạy học quen thuộc,
vừa áp dụng hiệu quả những phương pháp dạy học mới. Việc lựa chọn phương
pháp dạy học phải căn cứ vào từng loại bài học, từng nội dung dạy học ở từng
lớp, phải căn cứ vào điều kiện, phương tiện dạy học ở từng vùng, từng trường.
Phân môn Tập làm văn là phân môn đòi hỏi học sinh phát huy cao độ trí tuệ và
cảm xúc để thực hiện các yêu cầu bài học. Vì vậy, việc rèn kĩ năng viết văn (đặc
biệt là văn miêu tả) cho học sinh là điều rất quan trọng và hết sức cần thiết. Vấn
đề đặt ra là rèn kĩ năng viết văn cho học sinh như thế nào cho hợp lí, hiệu quả,
1
m bo khoa hc ; phỏt huy c tớnh tớch cc, ch ng ca hc sinh, phỏt
huy cao trớ tu v cm xỳc ca cỏc em thc hin tt cỏc yờu cu ca bi
hc ? tr li cho vn ny, tụi ó mnh dn a ra ti: Mt s bin
phỏp rốn k nng vit vn miờu t cho hc sinh lp 4B Trng TH Qung Tiờn
vi mong mun gúp phn nh bộ cụng sc ca mỡnh vo s nghip o to th
h tr, gúp phn c th hoỏ nh hng i mi phng phỏp dy hc nh
Lớp
4B
0
2
3
1
2
4
5
3
6
5
7
6
2
8
(7, 8)
SL
%
(5, 6)
SL
%
(1, 2, 3, 4)
SL
%
chú
Lớp
4A
1
3,8
5
19,2
14
53,8
14
sinh
22
Lỗi dùng từ
11
Bảng 4 : Thống kê tỉ lệ phần trăm mắc lỗi của HS lớp 4A
Lỗi
Lỗi viết
Lỗi chính tả
Lớp
4A
50,0
Lỗi dùng từ
42,3
Tỉ lệ (%)
câu
53,8
100
Nhận xét:
Bảng thống kê cho thấy : Nhiều học sinh đều mắc các loại lỗi văn viết nêu
học ở lớp hay ở nhà của em chứ không phải là tả những cái bàn học khác. Đây là
bước rèn cho học sinh kĩ năng phân tích đề bài.
- Bước tiếp, giáo viên có thể đưa ra một số đề bài tương tự yêu cầu học sinh
nhận diện thể văn và phân tích đề bài để xác định yêu cầu: Tả cái gì ?
Ví dụ: Đề bài Tả chiếc cặp sách của em hay Đề bài Tả chiếc áo em mặc đến
lớp hôm nay, ...)
5
Với các đề bài này, học sinh phải xác định được: thể văn là văn miêu tả (tả đồ
vật) và các em tả chiếc cặp của mình chứ không phải tả chiếc cặp của bạn; tả
chiếc áo mà các em mặc đến lớp hôm nay chứ không phải chiếc áo nào khác.
Ví dụ: Đề bài Tả một cây có bóng mát (SGK TV4 T2, trang 92)
Học sinh phải xác định được những cây nào là cây có bóng mát (cây có tán xòe
rộng, lá dày có thể che bóng mát như cây bàng, cây cổ thụ, cây đa, ...)
Học sinh xác định được đối tượng miêu tả tức là đã có kĩ năng phân tích đề
bài.
2. Biện pháp 2 : Đưa ra các gợi ý dưới dạng mở nhằm cung cấp cho học
sinh một số đặc điểm, công dụng, tính cách ... liên quan đến đối tượng cần
tả ; chú ý những nét riêng, đặc sắc của đối tượng được tả nhằm rèn kĩ năng
tìm ý.
Với đề bài Tả một cây có bóng mát (SGK TV4 T2, trang 92), GV có thể đưa
ra các gợi ý: Về hình dáng của cây (to lớn, cành lá xum xuê; cây như một chiếc
ô xanh hay ngọn tháp xanh khổng lồ, ...). Về màu sắc của lá (xanh đậm, xanh
nhạt, xanh non tơ, ...); kích thước, hình dáng của chiếc lá (lá hình bầu dục, hình
chiếc quạt; tán lá xòe rộng, lá dày đan xen nhau kín khít, mỗi chiếc lá như một
chiếc quạt xanh, ...). Về công dụng (che bóng mát, tạo cảnh quan cho trường, ..);
cây có bóng mát các em tả có điều gì đặc biệt so với những cây có bóng mát hay
những loại cây khác: cây đã được trồng lâu năm, cành lá xum xuê, gốc cây to, ...
miêu tả. Để làm được điều này, giáo viên cần phải chuẩn bị một hệ thống câu
hỏi để dẫn dắt học sinh tự mình tìm ra kiến thức.
- Trở lại với Đề bài “Tả cái bàn học ở lớp hay ở nhà của em” (SGK TV4, T2,
trang 18), GV cần giúp học sinh biết sử dụng đúng từ ngữ để đặt câu trong
những tình huống cụ thể. Ví dụ, học sinh không thể miêu tả mặt bàn hình vuông
(vì bàn học sinh) hay bàn được làm bằng sợi ni lông tổng hợp.
- Tuỳ từng ngữ cảnh cụ thể mà GV hướng dẫn học sinh dùng nghĩa đen hay
nghĩa bóng của từ, có sự lựa chọn từ trong cùng trường nghĩa (những từ có
nghĩa gần nhau). Trong quá trình hướng dẫn học sinh đặt câu (miệng), giáo viên
cần phân tích các từ dùng sai trong ngữ cảnh câu văn để học sinh nhận biết.
Phân tích cấu trúc câu sai ngữ pháp (nếu có): Chỉ ra các thành phần câu, trật tự
của các thành phần câu, trật tự từ trong câu, cách sử dụng dấu câu, ... để học sinh
nhận biết lỗi sai trong câu và tự sửa lỗi.
Ví dụ: Trong bài viết Tả chiếc bàn học ở lớp hay ở nhà của em, em Phạm
Đoàn Minh Ngọc lớp 4B viết như sau: Bố mẹ bảo em phải dữ gìn cẩn thận và
em sẽ luôn giữ mãi đến năm lớp sáu mà em luôn giữ mãi đến khi chiếc bàn
hư.
Hay trong bài văn tả chiếc cặp, em Lê Thị Bích Hồng lớp 4B tả như sau:
Chiếc cặp em đeo trên mình một màu hồng xinh xinh.
Do các em chưa hiểu nghĩa của từ và cách dùng từ đặt câu để tạo nên một ý
nghĩa trọn vẹn nên sa vào lủng củng, rườm rà; diễn đạt sai ý.
8
- Bên cạnh đó, khi hướng dẫn học sinh đặt câu miêu tả, giáo viên cần gợi ý cho
học sinh dùng các hình ảnh so sánh, hình ảnh nhân hoá để làm nổi bật ngoại
hình hay hoạt động được miêu tả. Ví dụ: Miêu tả cây bàng: “Cây bàng như một
mà em mong chờ nhất. Trước ngày khai trường, mẹ đã mua cho em đủ sách vở
và đồ dùng học tập. Trong số đó, ấn tượng nhất là chiếc cặp sách mà mua về từ
Thủ đô Hà Nội....
* Thân bài :
- Hình dáng, kích thước: chiếc cặp hình chữ nhật, dài khoảng hai gang tay, rộng
một gang tay, ...
- Cặp vừa có quai đeo, vừa có quai xách nên rất tiện
- Màu sắc: Bao trùm chiếc cặp là một màu xanh lơ (xanh nhạt, xanh đậm, ..) với
đường viền màu đỏ (màu đỏ viền đen, ...)
- Chất liệu: Cặp được làm bằng sợi ni lông tổng hợp nên không thấm nước, bền
và đẹp
- Đường khâu đều đặn bằng chỉ dù đen (đỏ, xanh, ...) chạy vòng quanh chiếc cặp
- Cấu tạo: Cặp gồm có hai, ba, ... ngăn được ngăn cách bởi các lớp vải mềm.
Mỗi ngăn có một công dụng riêng của nó...
10
- Nắp cặp có khóa cặp bằng nhựa (sắt mạ kền, mạ vàng, ..) màu đen để chống
trộm
- Một số đặc điểm nổi bật trên chiếc cặp: mặt cặp được trang trí thêm hình chú
thỏ, tranh phong cảnh, đồng lúa vàng, ... làm tăng thêm vẻ đẹp cho chiếc cặp...
* Kết bài (mở rộng hay không mở rộng)
- Kết bài không mở rộng: Em rất vui và tự hào khi có được chiếc cặp xinh xắn
này.
- Kết bài mở rộng: Chiếc cặp là người bạn đồng hành thân thiết của em mỗi khi
đến trường. Ngày ngày, em không quên dùng một chiếc giẻ mềm lau chùi cho
chiếc cặp luôn sạch sẽ. Đối với em, chiếc cặp này thật quý biết bao!
Sau khi lập được dàn ý dưới sự hướng dẫn của GV, Gv cho hs trình bày miệng
dàn ý vừa viết nhằm rèn kĩ năng diễn đạt, liên kết câu tạo thành đoạn, bài tránh
1
Lớp
4B
2
0
3
0
0
4
5
0
3
6
7
2
8
Giỏi
Ghi
(1, 2, 3, 4)
SL
%
(5, 6)
(7, 8)
SL
%
(9, 10)
SL
%
chú
0
0
SL
%
6
Lỗi dùng từ
4
Bảng 10 : Thống kê tỉ lệ phần trăm mắc lỗi của HS lớp 4A
Lỗi
Lỗi viết
Lỗi chính tả
Lớp
4B
19,2
Lỗi dùng từ
15,4
Tỉ lệ (%)
câu
11,5
100
* Đánh giá kết quả đạt được:
Từ các bảng thống kê cho thấy: Điểm trung bình đợt 3 (7,0) tăng so với đầu
năm (5,5). Số học sinh yếu kém (điểm từ 1 đến 4) không có em nào, chiếm tỉ lệ
0% (so với đầu năm là 23,0%). Số học trung bình (điểm từ 5 đến 6) là 6 em,
chiếm tỉ lệ 23,0% (so với dầu năm là 53,8%). Số học sinh khá giỏi (điểm từ 7
14
Nguyễn Thị Kim Tiến
15