Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Hoàng Giang
PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Đối với Đảng và Nhà nước ta, thuế vừa là một nguồn thu chủ yếu vào ngân sách
Nhà nước, vừa là công cụ tài chính quan trọng giúp Nhà nước điều hành, quản lý, điều
tiết nền kinh tế vĩ mô nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong
điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển và ngày càng hội nhập gần hơn với nền kinh
tế thế giới thì việc quản lý để đảm bảo được nguồn thu thuế phù hợp với quy mô của
nền kinh tế là một vấn đề rất cần thiết và cấp bách.
Kiểm tra thuế là một khâu quan trọng trong việc quản lý nguồn thu thuế từ các đối
tượng nộp thuế. Mục đích của kiểm tra thuế là phát hiện các trường hợp sai phạm pháp
luật về thuế, sai sót và gian lận thuế nhằm hạn chế mức thấp nhất tình trạng thất thu về
thuế cho Nhà nước, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế cho các đối tượng nộp
thuế và cho người thi hành công vụ trong ngành thuế. Ngoài ra, việc kiểm tra còn nhằm
phát hiện các nội dung không phù hợp trong các văn bản pháp luật về thuế với thực tiễn
nhằm kiến nghị các cơ quan chức năng sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống thuế.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện đang chiếm gần 90% trong cơ cấu kinh tế
theo quy mô và có đóng góp lớn cho ngân sách Nhà nước. Mặt khác, hiện nay các
hành vi trốn thuế, lách thuế của các đối tượng sản xuất kinh doanh vẫn tiếp tục diễn ra.
Trong bối cảnh như vậy thì việc nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế đối với các
doanh nghiệp nhỏ và vừa là rất cần thiết.
Chính vì vây, em lựa chọn đề tài “ Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các
doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế” để qua đó có được những hiểu
biết về công tác kiểm tra thuế, cũng như góp phần nhỏ trong việc khẳng định vai trò
quan trọng của quy trình quản lý thuế, đặc biệt là công tác kiểm tra thuế tại Chi cục
thuế. Từ đó, đưa ra một số giải pháp và kiến nghị có tính khả thi nhằm nâng cao chất
lượng công tác này tại Chi cục thuế Thành phố Huế.
2. Mục tiêu nghiên cứu
năm để tìm ra ưu, nhược điểm của công tác này và tác động của các chính sách thuế
đến số thu NSNN và phát triển kinh tế, thực hiện công bằng xã hội. Đồng thời đề xuất
các giải pháp để thực hiện tốt công tác kiểm tra thuế và quản lý chặt chẽ đối tượng nộp
thuế là các DNNVV trên địa bàn thành phố Huế trong thời gian tới.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này được sử dụng để tổng
hợp lý luận và lý thuyết làm cơ sở để tìm hiểu thực trạng công tác kiểm tra thuế đối
với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng chủ
yếu trong chương 1.
- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu:
+ Số liệu thứ cấp: là các số liệu thu thập từ các báo cáo của Chi cục thuế, niên giám
thống kê, báo cáo tài liệu, các thông tin đã được công bố trên báo chí, tạp chí, website
ngành thuế. Các số liệu này được sử dụng chủ yếu trong chương 2 để đánh giá thực trạng
công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Huế.
SVTH: Phạm Thị Phương - Lớp: K43B - KTKT
2
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Hoàng Giang
+ Số liệu sơ cấp: Tham khảo ý kiến chuyên gia bằng cách phỏng vấn một số cán
bộ thuế có kinh nghiệm tại Chi cục thuế Thành phố Huế.
- Phương pháp xử lý số liệu:
+ Thống kê mô tả.
+ So sánh tổng hợp và phân tích.
Các phương pháp này được dùng để mô tả, phân tích các lượng chỉ tiêu liên quan
đến công tác kiểm tra thuế trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể.
để chi tiêu, trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy quản lý Nhà nước; chi
cho các công việc thuộc chức năng của Nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho
xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng; chi cho các vấn đề về phúc lợi công cộng, về
sự nghiệp, về xã hội trước mắt và lâu dài.
Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, Nhà nước dùng
quyền lực chính trị buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho Ngân
sách Nhà nước. Đây chính là hình thức cơ bản nhất để huy động tập trung nguồn tài
chính cho Nhà nước. Hình thức đóng góp đó chính là Thuế. [1]
Như vậy, Thuế luôn luôn gắn chặt với sự ra đời và phát triển của Nhà nước. Bản
chất của Nhà nước quy định bản chất giai cấp của thuế.
Ở nước ta hiện nay khi hình thành quỹ tiền tệ tập trung, Nhà nước thực hiện chức
năng quản lý và xây dựng kinh tế thông qua việc kiến thiết, xây dựng, phát triển cơ sở
hạ tầng và các công trình phúc lợi xã hội khác thì người nộp thuế thông qua đó đựơc
hưởng một phần kết quả nộp thuế của mình. Như vậy thuế ở nước ta luôn luôn là một
khoản thu bắt buộc, không được hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế nhưng họ được
gián tiếp hưởng lợi do chính sách đầu tư, phát triển của Nhà nước cho các công trình
phúc lợi xã hội khác nhau.
1.1.2 Đặc điểm của thuế
Thứ nhất, tính cưỡng chế và tính pháp lý cao
SVTH: Phạm Thị Phương - Lớp: K43B - KTKT
4
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Hoàng Giang
Đặc điểm này được thể chế hóa trong hiến pháp của mỗi quốc gia.Trong các
quốc gia, việc đóng thuế cho Nhà nước được coi là một trong những nghĩa vụ bắt buộc
5
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Hoàng Giang
phận cơ bản của nền tài chính quốc gia lành mạnh. Với nền kinh tế nhiều thành phần, hệ
thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế. Thuế phải bao quát
được hầu hết các hoạt động kinh doanh, các nguồn thu nhập trong xã hội …[3]
1.1.3.2 Thuế tham gia vào việc điều tiết kinh tế vĩ mô
Thông qua việc xây dựng đúng đắn cơ cấu và mối quan hệ giữa các sắc thuế, việc
xác định hợp lý người nộp thuế, đối tượng đánh thuế, thuế suất, chế độ miễn giảm,
phương pháp quản lý thu thuế dựa trên cơ sở hạch toán kế toán đầy đủ, chính xác, thuế
là công cụ điều tiết đối với thu nhập của các tầng lớp xã hội thể hiện trên hai mặt:
khuyến khích, nâng đỡ những hoạt động kinh doanh cần thiết làm ăn có hiệu quả; đồng
thời thu hẹp, kìm hãm những ngành nghề, mặt hàng cần hạn chế sản xuất, hạn chế tiêu
dùng theo hướng tiết kiệm, chống lãng phí. Thuế còn khuyến khích việc bỏ vốn đầu tư
phát triển sản xuất, khuyến khích các cơ sở kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế
cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật... Thuế thúc đẩy mở rộng thị trường một cách
lành mạnh, vừa khuyến khích giao lưu hàng hoá, vừa đấu tranh hạn chế mua bán lòng
vòng qua nhiều khâu trung gian, đầu cơ tích trữ để hưởng chênh lệch giá.[2]
1.1.3.3 Thuế là công cụ để điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong
phân phối
Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các ngành nghề, các thành phần
kinh tế, các tầng lớp dân cư theo nguyên tắc đảm bảo công bằng và bình đẳng trong
làm nghĩa vụ và quyền lợi. Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện thông qua chính
sách động viên giống nhau (thuế suất) giữa các tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành
phần kinh tế cùng hoạt động trong một lĩnh vực, bảo đảm sự công bằng và bình đẳng
Thuế luôn luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước. Thuế là nghĩa vụ cơ bản của
công dân đã được quy định trong Hiến Pháp; thuế là một phần thu nhập của các tầng
lớp dân cư bắt buộc phải nộp cho Nhà nước; thuế là một hình thức chuyển giao thu
nhập không mang tính chất hoàn trả trực tiếp.
1.1.5 Chức năng của thuế
Thuế là một phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính chung vốn có của
các quan hệ tài chính. Tuy nhiên thuế cũng có những đặc trưng, hình thức vận động và
các chức năng riêng bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính.
Căn cứ vào nội dung cùng với quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế,
chúng ta thấy rằng thuế thực hiện các chức năng sau đây:
- Chức năng phân phối và phân phối lại: là chức năng cơ bản, đặc thù của thuế.
Ngay từ lúc ra đời thuế là phương tiện dùng để động viên nguồn tài chính vào ngân
sách Nhà nước (có ở tất cả các kiểu Nhà nước).Về mặt lịch sử, chức năng huy động
nguồn tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân nảy sinh ra thuế.Thông
qua chức năng này, các qũy tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo
cơ sở vật chất cho sự hoạt động thường xuyên và tồn tại của Nhà nước.
- Chức năng điều tiết đối với nền kinh tế.
Thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định các hình thức
thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế; xây
SVTH: Phạm Thị Phương - Lớp: K43B - KTKT
7
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Hoàng Giang
dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp
thuế. Trên cơ sở đó Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào qũy đạo chung
8
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Hoàng Giang
điều tiết thu nhập của người chịu thuế. Ở nước ta thuộc loại thuế này gồm: thuế thu
nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế chuyển quyền
sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp...
Sự phân loại thuế thành thuế trực thu và thuế gián thu có ý nghĩa quan trọng
trong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế.
+ Căn cứ vào đối tượng đánh thuế. Theo cách phân loại này thuế được chia
thành: Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế giá trị gia tăng,
thuế đánh vào sản phẩm hàng hoá như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt.
Thuế đánh vào thu nhập như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người
có thu nhập cao. Thuế đánh vào tài sản như thuế nhà đất, thuế đánh vào việc khai thác
hoặc sử dụng một số tài sản quốc gia như thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất, sử dụng
vốn của Ngân sách Nhà nước, thuế khác và lệ phí, phí..
1.2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa, vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc
thực hiện nghĩa vụ NSNN
1.2.1 Khái niệm
Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có đầy đủ tư
cách pháp nhân, được thành lập theo luật doanh nghiệp Nhà nước, luật Hợp tác xã, luật
Doanh nghiệp, luật Đầu tư trực tiếp của nước ngoài hoặc theo hiệp định ký kết giữa
Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài, bao gồm các loại hình doanh nghiệp
sau đây:
Doanh nghiệp Nhà nước;
Doanh nghiệp tập thể;
biến động phụ thuộc vào cung cầu của thị trường hàng hoá, vào chính sách của Nhà nước
trong việc khuyến khích hay hạn chế phát triển. Với quy mô tuy nhỏ nhưng các doanh
nghiệp nhỏ và vừa lại chiếm một số lượng lớn trong nền kinh tế, thường tập trung ở các
ngành xây dựng, thương mại, dịch vụ. Các doanh nghiệp này có tính năng động cao nên dễ
dàng chuyển hướng kinh doanh, dễ thích nghi với hoàn cảnh và yêu cầu của nền kinh tế.
Ý thức chấp hành pháp luật đối với khu vực này thường không cao, thể hiện qua
việc thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ mua bán hàng hoá chưa đầy đủ,
không theo đúng quy định của Nhà nước, nếu có chỉ mang tính chất đối phó.
1.2.2 Vai trò của doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ ngân sách
Doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động xã hội, môi trường, đảm bảo sự phát
triển bền vững của nền kinh tế. Nhờ doanh nghiệp mà của cải, vật chất và dịch vụ
trong nền kinh tế quốc dân sẽ tăng nhanh về cả số lượng lẫn chất lượng, chủng loại
hàng hoá, dịch vụ phong phú thoả mãn nhu cầu của xã hội.
Doanh nghiệp giữ vị trí quan trọng trong việc đóng góp nguồn thu cho NSNN, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có vai trò chủ chốt giải quyết việc làm cho người lao
động, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Khi các doanh nghiệp phát triển sẽ tạo nhiều cơ hội tăng việc
làm, thu hút lao động, nâng cao thu nhập của dân cư, góp phần xoá đói giảm nghèo, thực
hiện công bằng xã hội. Sự phát triển của các doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện phát huy lợi
thế kinh tế của mỗi vùng, tạo điều kiện cho cơ quan thuế nuôi dưỡng, khai thác nguồn thu.
SVTH: Phạm Thị Phương - Lớp: K43B - KTKT
10
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Hoàng Giang
1.2.3 Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với NSNN
- Thực hiện đăng ký kê khai thuế: Cung cấp đầy đủ các thông tin trong hồ sơ
11
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Hoàng Giang
- Kiểm tra thuế góp phần hoàn thiện cơ chể, chính sách pháp luật về thuế
Hệ thống thuế ở nước ta hiện nay hiện bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau. Mỗi
sắc thuế điều tiết đến một đối tượng xã hội nhất đinh và có những phương pháp quản
lý khác nhau. Về cơ bản, với mỗi sắc thuế khi được ban hành đều đã được nghiên cứu
kỹ và chuẩn bị chu đáo, nhưng do đặc điểm kinh tế của nước ta đang trong thời kỳ
chuyển đổi và hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới nên không tránh khỏi
những khiếm khuyết, bất cập. Chính vì vậy, kiểm tra thuế là công tác đi sâu nhất có
thể cung cấp các căn cứ, các bằng chứng cụ thể phản ánh một cách chân thực, sống
động các hoạt động diễn ra trong thực tế để phục vụ cho việc hoàn thiện, bổ sung các
chính sách phù hợp với thực tiễn nền kinh tế.
- Kiểm tra là phương tiện phòng ngừa, răn đe các hành vi vi phạm pháp luật thuế
và tội phạm phát sinh trong việc thực hiện pháp luật thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ
và vừa.
Hoạt động kiểm tra chủ yếu được thực hiện dựa trên cơ sở phân tích thông tin
liên quan đến NNT, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuếTheo đó,
vừa phòng ngừa các vi phạm về thuế; vừa sử dụng các biện pháp xử lý để răn đe hành
vi vi phạm pháp luật của NNT.
- Kiểm tra thuế có vai trò quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính thuế.
Triển khai thực hiện pháp luật thuế cũng đồng thời với việc triển khai thực hiện
các thủ tục hành chính thuế. Qua hoạt động kiểm tra, CQT có thể phát hiện những
NNT thực hiện không đúng và không đủ các thủ tục hành chính thuế để kịp thời chấn
chỉnh. Đồng thời phát hiện ra những khiếm khuyết, thủ tục không phù hợp với thực tế
- Kiểm tra một hoặc một số yếu tố liên quan đến một hoặc một số kỳ tính thuế,
kiểm tra doanh thu tính thuế, giá vốn hàng bán, khấu hao, tiền lương, tài sản ròng,…
1.3.4.3 Căn cứ theo địa điểm tiến hành kiểm tra
Căn cứ theo địa điểm tiến hành kiểm tra: căn cứ vào tiêu thức này, kiểm tra thuế
bao gồm: Kiểm tra tại trụ sở CQT và kiểm tra tại trụ sở NNT.
1.3.5 Quy trình kiểm tra thuế
Quy trình kiểm tra thuế đang được áp dụng hiện nay là quy trình được ban hành
theo Quyết định số 528/QĐ-TCT ngày 29 tháng 5 năm 2008 của Tổng cục trưởng
Tổng cục Thuế về việc ban hành quy trình kiểm tra thuế.
Nội dung của quy trình được quy định như sau:
1.3.5.1 Kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế
Kiểm tra tại trụ sở CQT được thực hiện thường xuyên đối với các hồ sơ khai thuế
nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin chứng từ trong hồ sơ thuế, sự
tuân thủ pháp luật của NNT. Phân tích các biến động trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế
của NNT thông qua việc so sánh thông tin về NNT qua các kỳ với nhau và với các biến
động của ngành để xác định mức độ ổn định và tuân thủ của NNT nhằm phát hiện các
điểm bất thường gây ảnh hưởng (rủi ro) đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế, từ đó đưa ra
các biện pháp quản lý, xử lý phù hợp ( bổ sung vào kế hoạch kiểm ra ngay tại trụ sở
NNT), hạn chế các trường hợp ẩn lậu thuế, đảm bảo nguồn thu kịp thời cho NSNN.
SVTH: Phạm Thị Phương - Lớp: K43B - KTKT
13
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Hoàng Giang
Quy trình kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan thuế:
Bước công việc
hồ sơ thuế của DN đã lựa chọn theo danh sách.
3. Duyệt và giao
- Bộ phận kiểm tra thuế trình danh sách DN cần kiểm tra hồ sơ
nhiệm vụ kiểm
khai thuế theo phương pháp đánh giá rủi ro ở bước 2.
tra hồ sơ
- Thủ trưởng cơ quan thuế duyệt và giao nhiệm vụ kiểm tra hồ
khai thuế.
sơ thuế cho các bộ phận kiểm tra.
- Nhiệm vụ kiểm tra sẽ được giao cho từng cán bộ kiểm tra
cụ thể.
4. Kiểm tra
- Kiểm tra việc ghi chép phản ánh các chỉ tiêu trong hồ sơ khai
hồ sơ thuế
thuế.
- Kiểm tra các căn cứ tính thuế theo các phương pháp đối chiếu,
so sánh, phân tích và xác minh.
như kiểm tra thuế tại trụ sở CQT là công việc thường xuyên và được thực hiện đối với
tất cả các hồ sơ khai thuế thì kiểm tra thuế tại trụ sở NNT chỉ được thực hiện trong một
số trường hợp nhất định, do kết quả của quá trình kiểm tra tại trụ sở của CQT yêu cầu
phải tiến hành kiểm tra hoặc theo kế hoạch hoặc khi phát hiện có dấu hiệu gian lận,
trốn thuế, hoặc theo yêu cầu của lãnh đạo CQT các cấp….
Quy trình kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế
Bước công việc
Nội dung công việc
1. Trình tự,
- Gửi quyết định kiểm tra thuế cho NNT chậm nhất là 3 ngày làm
thủ tục kiểm
việc kể từ khi quyết định được ký.
tra thuế tại
- Nếu trước thời điểm kiểm tra mà DN chứng minh được số thuế
trụ sở NNT
kê khai là đúng thì trong thời hạn 5 ngày làm việc phải có quyết
định bãi bỏ quyết định kiểm tra thuế.
- Việc kiểm tra thuế phải tiến hành chậm nhất là 10 ngày làm việc
kể từ ngày ban hành quyết định kiểm tra.
- Thời hạn kiểm tra tại trụ sở NNT là không quá 5 ngày làm việc.
thì trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày công bố biên bản
kiểm tra, Thủ trưởng CQT phải có quyết định xử lý truy thu; xử
phạt về vi phạm hành chính về thuế hoặc kết luận kiểm tra theo
biên bản kiểm tra.
- Qua kiểm tra thuế, nếu phát hiện thấy NNT có dấu hiệu trốn thuế,
gian lận về thuế thì trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày phát
hiện, Trưởng đoàn kiểm tra thuế có trách nhiệm báo cáo Thủ
trưởng CQT để bổ sung vào kế hoạch thanh tra của Cục thuế.
1.4 Các hành vi vi phạm pháp luật về thuế và cách hình thức xử phạt pháp luật
về thuế
1.4.1 Các hành vi vi phạm pháp luật về thuế
- Vi phạm các thủ tục thuế.
Các hành vi vi phạm thủ tục thuế bao gồm:
Nộp hồ sơ đăng ký thuế sau ngày hết hạn nộp hồ sơ đăng ký thuế;
Nộp hồ sơ khai thuế trong khoảng thời gian không đúng quy định.
Khai không đầy đủ các nội dung trong hồ sơ thuế, trừ trường hợp người nộp thuế
khai bổ sung trong thời hạn quy định;
Vi phạm các quy định về cung cấp thông tin liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế;
Vi phạm các quy định về chấp hành quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế,
cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.
- Chậm nộp tiền thuế.
- Khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn.
- Trốn thuế, gian lận thuế.
Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế
sau chín mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy.
SVTH: Phạm Thị Phương - Lớp: K43B - KTKT
16
phạm pháp luật về thuế như sau:
Phạt theo số tiền tuyệt đối đối với các hành vi vi phạm thủ tục thuế, mức phạt tối
đa không quá 100 triệu đồng. Khi phạt tiền, mức phạt tiền cụ thể đối với một hành vi vi
phạm thủ tục thuế là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi
đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống, nhưng không được
giảm quá mức tối thiểu đối với hành vi đó, nếu đó tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt
có thể tăng lên nhưng không vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt;
SVTH: Phạm Thị Phương - Lớp: K43B - KTKT
17
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Hoàng Giang
Phạt 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền thuế nộp chậm đối với hành vi nộp chậm
tiền thuế, tiền phạt;
Phạt 10% số tiền thuế thiếu đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế
phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn.
Phạt từ 1 đến 3 lần số tiền thuế trốn đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế.
Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về
thuế còn có thể bị áp dụng hình thức phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện
được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về thuế.[6]
1.5 Phương pháp phân tích rủi ro phục vụ công tác kiểm tra
Phân tích rủi ro là một trong những phương pháp rất quan trong được sử dụng
thường xuyên trong công tác kiểm tra thuế. Bộ phận kiểm tra sử dụng phân tích rủi ro
để lập kế hoạch, phân tích thông tin về NNT trước khi tiến hành kiểm tra và thu thập
bằng chứng để đi đến các kết luận về kiểm tra. Do vậy, việc đi sâu nghiên cứu về
phương pháp này là một việc làm hết sức cần thiết để có được một cái nhìn sâu sắc và
Phân tích theo chiều ngang thường sử dụng tỷ lệ % hoặc tỷ suất để xác định mức
độ thay đổi của từng chỉ tiêu trong 1 năm so với 1 hay nhiều năm sau. Mức độ thay đổi
được tính bằng cách chia cho các số liệu báo cáo ở kỳ trước đó. Phương pháp này chỉ
hiệu quả khi tính và so sánh các tỷ lệ phần trăm của một giai đoạn nhiều năm và sự
thay đổi tỷ lệ phần trăm của mỗi chỉ tiêu là quan trọng chứ không phải là bản thân tỷ lệ
phần trăm thực tế.
1.5.2 Phân tích tỉ suất trong báo cáo tài chính
Có thể nói kỹ thuật phân tích tài chính được sử dụng rộng rãi nhất là phân tích
các tỷ suất, phân tích mối quan hệ giữa hai hoặc nhiều mục trong báo cáo tài chính. Tỷ
suất tài chính thường được phản ánh bằng tỷ lệ phần trăm hoặc số lần. Tỷ suất thường
được sử dụng rất hiệu quả khi so sánh chính NNT này trong các thời kỳ khác nhau
hoặc so sánh cùng thời kỳ với các đối tượng NNT khác hoặc theo số liệu chuẩn của
ngành. Tỷ suất tài chính được chia thành 4 nhóm chính sau:
Các hệ số thanh khoản đo lường khả năng đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn của
công ty.
Các tỷ suất sinh lời đo lường khả năng quản lý trong kiểm soát chi phí và thu lợi
nhuận đối với các nguồn lực dành cho kinh doanh.
Các tỷ suất đòn bẩy đo lường mức độ bảo hộ việc cung cấp nguồn tài chính dài
hạn và cũng là công cụ hỗ trợ cho việc đánh giá khả năng của công ty trong việc huy
động các khoản vay nợ bổ sung và năng lực trả nợ kịp thời.
Các tỷ suất hiệu quả, hoạt động hay quay vòng cung cấp thông tin về khả năng quản
lý trong kiểm soát chi phí và thu lợi nhuận từ các nguồn lực dành cho kinh doanh.
SVTH: Phạm Thị Phương - Lớp: K43B - KTKT
19
Khóa luận tốt nghiệp
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Hoàng Giang
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế của thành phố giai đoạn 2010-2012
Đơn vị tính: triệu đồng
So sánh
Chỉ tiêu
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
(2012/2010)
(+/-)
Giá trị SX CN-TTCN
(%)
3,286,000 3,752,000 4,250,000
964,000
129,34
Trong đó:Giá trị xuất khẩu
920,000 1,160,000 1,200,000
280,000
174,000
466,761
196,000
542,285
(Nguồn: Tính toán theo số liệu tại website www.thuathienhue.gov.vn)
Trong những năm gần đây, việc đầu tư phát triển CN-TTCN đã được thành phố
chú trọng đầu tư hơn, góp phần tạo được các loại hàng hóa có sức cạnh tranh cao, đáp
ứng nhu cầu trong nước và góp phần xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu ngày càng có xu
hướng tăng, với giá trị là gần 60 triệu USD trong năm 2012, đạt 100% kế hoạch được
giao. Mặc dù các ngành SX CN-TTCN còn gặp khó khăn trong do giá cả một số vật tư
nguyên, nhiên liệu sản xuất tăng ảnh hưởng đến đầu ra của sản phẩm cũng như sức
cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên sản xuất công nghiệp trên địa bàn Thành phố
vẫn tốc độ tăng trưởng vẫn tiếp tục giữ được ổn định, tốc độ tăng trưởng giá trị các
hàng hóa CN-TTCN năm sau đều cao hơn năm trước. Năm 2012 đạt 4,250,000 triệu
đồng, tăng gần 130% so với năm 2010.
Giá trị SX NN trong năm 2012 đạt 196.000 triệu đồng, tăng so với những năm
trước. Điều này có được là do trong năm 2012, điều kiện thời tiết có phần thuận lợi
cho quá trình sản xuất, lúa và các loại cây trồng khác cũng tăng trưởng tốt và cho năng
xuất cao. Công tác chăn nuôi tổ chức công tác phòng bệnh tốt nên trong những năm
2011, 2012 đã không có những thiệt hại do dịch bệnh gia súc, gia cầm gây nên, góp
phần tăng giá trị sản xuất nông nghiệp.
Thương mại – dịch vụ tiếp tục giữ được mức phát triển ổn định và đạt mức tăng
trưởng cao. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ năm 2012 ước đạt: 16.400.000 triệu
SVTH: Phạm Thị Phương - Lớp: K43B - KTKT
21
2012 là do tình hình kinh tế hiện tại, năm 2012 thực sự là một năm đầy khó khăn và
thử thách đối với các DNNVV khi mà chi phí sản xuất đầu vào như giá điện,giá
xăng, giá nguyên vật liệu, giá mặt bằng... liên tục gia tăng dẫn đến nhu cầu về vốn
cũng tăng nhanh. Nhưng việc tiếp cận được vốn vay của các DNNVV từ các ngân
hàng thương mại và các tổ chức tín dụng là một điều cực kỳ khó khăn. Chính vì vậy,
trong năm 2012, rất nhiều DNNVV đã lâm vào tình trạng phá sản, giải thể, tạm
ngưng hoạt động.
SVTH: Phạm Thị Phương - Lớp: K43B - KTKT
22
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Hoàng Giang
2.2 Một vài nét về tình hình cơ bản của Chi cục thuế Thành phố Huế
2.2.1 Quá trình hình thành
Thực hiện Nghị định 281/HĐBT ngày 07/08/1990 của Chính phủ, Quyết định
314TC/QĐ ngày 21/08/1990 của Bộ trưởng Bộ tài chính ngày 01 tháng 10 năm 1990,
Cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế được thành lập trên cơ sở sáp nhập ba tổ chức: Chi cục
Thuế Công Thương Nghiệp, Phòng thuế Nông Nghiệp và phòng thu Ngoài quốc doanh.
Tổ chức bộ máy lúc đầu của ngành gồm 9 Chi cục thuế huyện, thành phố và 8 phòng.
Tháng 01/2004, thực hiện Quyết định 218/2003/QĐ – TTG ngày 28/10/2003 của
Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 189/2003/QĐ-BTC ngày 14/11/2003 của Bộ
Tài Chính, bộ máy tổ chức Cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế gồm 9 Chi cục thuế huyện,
thành phố và 10 phòng.
Cùng với việc ra đời của Cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế, Chi cục thuế thành phố
Huế nắm một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động nghiệp vụ, là đơn vị chủ yếu
thực hiện nhiệm vụ thu nộp ngân sách. Bên cạnh việc sắp xếp các phòng ở văn phòng
Đội
Đội
Đội
11 đội
tuyên
Nghiệp
KK
QL
kiểm
H.chính-
Q.lý
thuế liên
truyền
vụ-
KTT
tin
chế
2 và
ấn chỉ
T.bạ
Đội
học
nợ
3
thu
quản lý
khác
thuế
thuế
TNCN
Đội kiểm tra số 1 chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát các DN hoạt động trong
các ngành sản xuất, ăn uống dịch vụ.
Đội kiểm tra thuế số 3 chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát các DN hoạt động
trong các ngành xây dựng, vận tải, thương nghiệp.
- Đội Nghiệp vụ - Dự toán
Giúp Chi Cục trưởng Cục thuế hướng dẫn về nghiệp vụ quản lý thuế, chính sách,
pháp luật thuế cho cán bộ, công chức thuế trong Chi cục Thuế; xây dựng và tổ chức
thực hiện dự toán thu Ngân sách nhà nước được giao của Chi cục Thuế.
- Đội Kiểm tra số 2
Đội kiểm tra thuế số 2 đảm nhiệm chức năng kiểm tra nội bộ. Thực hiện công tác
kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tính liêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế; giải
quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc chấp hành công vụ và bảo vệ sự liêm chính
của cơ quan thuế, công chức thuế thuộc thẩm quyền của Chi cục trưởng Chi cục Thuế.
- Đội Hành chính - nhân sự - tài vụ- ấn chỉ
Thực hiện công tác hành chính, văn thư, lưu trữ; công tác quản lý nhân sự; quản
lý tài chính, quản trị; quản lý ấn chỉ trong nội bộ Chi cục Thuế quản lý.
- Đội quản lý thu lệ phí trước bạ và thu khác
Giúp Chi cục trưởng Chi cục Thuế quản lý thu lệ phí trước bạ, thuế chuyển
quyền sử dụng đất, tiền cấp quyền sử dụng đất, các khoản đấu giá về đất, tài sản, tiền
thuê đất, phí, lệ phí và các khoản thu khác phát sinh trên địa bàn thuộc phạm vi Chi
cục Thuế quản lý.
- Đội quản lý thuế thu nhập cá nhân: Quản lý thuế TNCN đối với các cá nhân có
thu nhập thuộc diện phải nộp thuế TNCN thuộc phạm vi Chi cục thuế quản lý.
- Các đội thuế liên phường, xã: Chịu trách nhiệm quản lý và thu thuế 27 phường,
xã trên địa bàn thành phố Huế theo vị trí địa lý của từng khu vực được phân công.
SVTH: Phạm Thị Phương - Lớp: K43B - KTKT
25