ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------------------
TRẦN VIỆT HÙNG
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TẠI THỊ XÃ SÔNG CÔNG
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên – 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------------------
TRẦN VIỆT HÙNG
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TẠI THỊ XÃ SÔNG CÔNG
TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý Đất đai
Mã số ngành: 60 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Duy Lam
cứu đề tài.
Thái Nguyên, ngày
tháng
Tác giả luận văn
Trần Việt Hùng
năm 2015
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..........................................................................................1
2. Mục đích, yêu cầu nghiên cứu ................................................................................2
2.1. Mục đích...............................................................................................................2
2.2. Yêu cầu.................................................................................................................2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn nghiên cứu ..............................................................3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................................4
1.1. Cơ sở pháp lý .......................................................................................................4
1.2. Cơ sở khoa học .....................................................................................................5
1.2.1. Khái niệm Quy hoạch sử dụng đất ....................................................................5
1.2.2. Những vấn đề chung về quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới.....................8
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...........................27
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................................27
2.2. Địa điểm và thời gian tiến hành .........................................................................27
2.3. Nội dung nghiên cứu ..........................................................................................27
3.3.2. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn
thị xã Sông Công đến năm 2020 ...............................................................................71
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .....................................................................................78
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................80
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Nghĩa
Từ viết tắt
NTM
:
Nông thôn mới
GTVT
:
Giao thông vận tải
THCS
:
Trung học cơ sở
TDTT
:
Thể dục thể thao
UBND
:
Ủy ban nhân dân
QHSDĐ
:
Quy hoạch sử dụng đất
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Bảng tổng hợp giá trị sản xuất và cơ cấu kinh tế giai đoạn 2012-2014 ...35
Bảng 3.2: Dân số trung bình phân theo xã trên địa bàn thị xã ..................................40
Sông Công qua các năm 2012 - 2014 .......................................................................40
Bảng 3.3: Hiện trạng lao động thị xã Sông Công đến năm 2014 ..............................41
Bảng 3.4: Đánh giá của người dân về cách thức triển khai xây dựng NTM ............46
Bảng 3.5: Kết quả thực hiện quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới ......................48
của thị xã Sông Công ................................................................................................48
Bảng 3.6. Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch so với tiêu chí NTM
mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.
Thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới có vai
trò quan trọng trong sự phát triển của nông thôn nói riêng và sự phát triển của quốc
gia nói chung. Xây dựng nông thôn mới nhằm phát triển toàn diện: Hệ thống cơ sở
hạ tầng ngày càng toàn diện tạo điều kiện phát triển kinh tế, giao lưu hàng hóa; cơ
cấu kinh tế hợp lý, thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng
cao; môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; xây dựng nếp sống văn hóa...
thay đổi bộ mặt nông thôn, góp phần xây dựng đất nước giàu đẹp.
Bên cạnh đó để thực hiện nhiệm vụ mà Nghị Quyết 26-NQ/TW đề ra, Chính
phủ đã có quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 Ban hành bộ tiêu chí quốc gia
về nông thôn mới và Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 phê duyệt trương trình
Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới 2010 - 2020.
Thực hiện quyết định 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 về việc phê duyệt Chương
trình Mục tiêu Quốc Gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 UBND
tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Chỉ thị số 30- CT/TU ngày 3/02/2010 về việc chỉ đạo
thực hiện Nghị quyết TW 7( khoá X) về xây dựng nông thôn mới; Quyết định số
1282/QĐ-UBND ngày 25/5/2011 của UBND tỉnh Thái Nguyên phê duyệt chương
trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015 định hướng
đến 2020.
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là một chương
trình tổng thể phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng ở địa phương.
2
Chương trình đã thể hiện sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước để phát triển
khu vực nông thôn. Do đó thị xã Sông Công đã tiếp nhận và triển khai chương trình
xây dựng nông thôn mới một cách đồng bộ, có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị
và sự tham gia của người dân, giúp người dân nhận thức rõ nhiệm vụ và quyền lợi
của mình trong xây dựng nông thôn mới.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học:
Việc nghiên cứu các văn bản pháp luật liên quan đến xây dựng nông thôn mới
tạo điều kiện cho bản thân trưởng thành hơn trong việc quán triệt về đường lối, chủ
trương và chính sách của Đảng và Nhà nước với việc sử dụng nguồn tài nguyên đất đai
có hiệu quả nhất. Ngoài ra, báo cáo thực tập này cũng cung cấp một vấn đề cơ bản cho
tất cả cá nhân, tổ chức quan tâm đến vấn đề này.
Ý nghĩa thực tiễn:
Đánh giá kết quả thực hiện chương trình nông thôn mới trên địa bàn thị xã
Sông Công. Góp phần tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng và đưa ra các giải
pháp, định hướng cho thị xã Sông Công.
Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở giúp thị xã Sông Công có những
định hướng phát triển phù hợp với điều kiện của địa phương. Giúp địa phương nhìn
nhận lại những yếu kém và phát huy những điểm mạnh, khắc phục những hạn chế
nhằm thực hiện tốt hơn chương trình xây dựng nông thôn mới để từng bước cải
thiện đời sống nhân dân.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở pháp lý
- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 của ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa X “Về nông nghiệp-nông dân-nông thôn”.
- Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành
chương trình hành động của Chính phủ thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ 7 ban
chấp hành Trung ương khóa 10 về nông nghiệp-nông dân-nông thôn.
- Quyết định số 491/QĐ-TTG ngày 16/04/2009 về ban hành kèm theo bộ tiêu
chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
Những nội dung chính về quy hoạch và quy hoạch sử dụng đất được tác giả
Lê Quang Trí (2007) [10] tổng hợp và tóm tắt như sau:
Về mặt thuật ngữ, "Quy hoạch” là việc xác định một trật tự nhất định bằng
những hoạt động như: phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức... Đất đai là một phần lãnh
thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạc đất, mảnh đất, miếng đất ...) có vị trí, hình
thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng,
điều kiện địa hình, địa chất thuỷ văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực
vật, các tính chất lý hoá tính ...), tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng
theo các mục đích khác nhau. Vì vậy, để sử dụng đất đạt hiệu quả cao cho các mục
đích kác nhau, phù hợp với những điều kiện nhất định đem lại lợi ích cả về kinh tế,
xã hội và môi trường của mỗi vùng, mỗi lãnh thổ, mỗi đơn vị hành chính thì cần
phải có quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm xác định ý nghĩa, mục đích
của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định.
Xét về mặt bản chất, đất đai là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong
lĩnh vực sử dụng đất đai (người ta gọi đó là các mối quan hệ đất đai: quan hệ giữa con
người với đất đai, quan hệ giữa đất đai với phương thức sản xuất xã hội, quan hệ giữa
đất đai với điều kiện kinh tế - xã hội. Như vậy, quy hoạch sử dụng đất đai là một hiện
tượng kinh tế xã hội, là một môn khoa học tổng hợp của rất nhiều chủ thể khác nhau
thể hiện được đồng thời cả ba tính chất: kinh tế (bằng hiệu quả sử dụng đất); kỹ thuật (
các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh
6
định, xử lý số liệu ... ) và thể hiện tính pháp chế cao (xác định tính pháp lý về mục đích
và quyền sử dụng đất nhằm quản lý và sử dụng đất đai theo pháp luật).
Xét trên quan điểm đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt thì QHSDĐ là một
phạm trù kinh tế - xã hội và có thể xác định khái niệm QHSDĐ là hệ thống các biện
pháp của Nhà nước, quản lý và tổ chức sử dụng đất hợp lý, hiệu quả thông qua việc
phân bố đất đai cho các mục đích sử dụng đất và định hướng tổ chức sử dụng đất
việc bảo vệ và cải tạo loại tài nguyên này thông qua việc áp dụng các thành tựu
khoa học kỹ thuật và các biện pháp tiên tiến nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trên
cả ba lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường.
Quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định, các
phương án tổ chức và tổ chức lại việc sử dụng đất đai theo pháp luật và pháp lệnh
của Nhà nước bằng các phương pháp phân tích tổng hợp, phân bố địa lý các điều
kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội với những đặc trưng của tính phân dị giữa các cấp,
các vùng lãnh thổ theo quan điểm tiếp cận hệ thống nhằm tạo điều kiện đưa đất đai
vào sử dụng hiệu quả và bền vững để đem lại lợi ích cao nhất.
Quy hoạch sử dụng đất đai được nghiên cứu theo các chu kỳ phù hợp với
yêu cầu và nhiệm vụ phát triển của đất nước. Theo đó tự nó có tính chất riêng của
mình như là một biện pháp để không ngừng phát triển, sử dụng quỹ đất đai theo
nghĩa tạo ra giá trị sử dụng ngày càng cao của đất đai. Quy hoạch sử dụng đất đai
theo các chu kỳ tiếp nối và xen nhau về thời gian, tôn trọng nguyên tắc kế thừa, tích
tụ và phát triển.
Quy hoạch sử dụng đất đai được xây dựng vì mục tiêu phát triển kinh tế, xã
hội và ổn định chính trị, nó được lập cho các mục đích sử dụng đất đai trong một
thời gian tương đối dài: 5-10 năm cho cấp huyện và cấp tỉnh. Chính vì vậy, quy
hoạch sử dụng đất đai mang một hình thái động. Vì vậy nó phải được cụ thể hoá
bằng các kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm nhằm điều chỉnh nội dung về điều
kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của vùng trong giai đoạn quy hoạch.
Vì vậy, có thể định nghĩa Quy hoạch sử dụng đất đai là sự đánh giá tiềm
năng đất nước có hệ thống, tính thay đổi trong sử dụng đất đai và những điều kiện
kinh tế xã hội để chọn lọc và thực hiện các sự chọn lựa sử dụng đất đai tốt nhất.
Đồng thời quy hoạch sử dụng đất đai cũng là chọn lọc và đưa vào thực hành những
8
sử dụng đất đai đó mà nó phải phù hợp với yêu cầu cần thiết của con người về bảo
đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu nghèo giữa nông
thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc.
Để giải quyết những tồn tại, hạn chế và yếu kém trên đây, Nghị quyết 26NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương 7, khóa X về Nông
nghiệp, nông dân và nông thôn [1] đã xác định:
- Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng
quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm
bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi
trường sinh thái của đất nước.
- Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng
bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong mối quan hệ mật
thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình
phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch
vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa
nông nghiệp là then chốt.
- Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác
tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng
sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh
đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ
tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí
nông dân.
- Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ
thống chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự
đô thị.
- Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, nhất là vùng khó khăn.
11
- Đổi mới và xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ có hiệu quả ở
nông thôn.
- Phát triển nhanh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công nghệ,
đào tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá để hiện đại hoá nông nghiệp, công nghiệp hoá
nông thôn.
- Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động cao các nguồn lực, phát
triển nhanh kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân.
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức
mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn, nhất là hội nông dân.
1.2.2.4. Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới ở nước ta
Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là chương trình
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội có quy mô rất lớn và toàn diện lần đầu tiên được
thực hiện tại nước ta trên quy mô cả nước theo tinh thần nghị quyết 26-NQ/TW của
Ban chấp hành Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Theo đó, để phát
triển nông nghiệp, nông thôn bền vững, phải xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ
tầng kinh tế- xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản
xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát
triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu
bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ: an ninh trật tự được giữ
vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên thực trạng nông thôn nước ta nói chung và của tỉnh Thái Nguyên
nói riêng hiện nay phát triển còn kém bền vững và còn nhiều hạn chế, đòi hỏi phải
có sự quan tâm đầu tư của Chính phủ, chính quyền địa phương và có sự cố gắng, nỗ
tư, giải quyết: Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo còn rất thấp, tệ nạn xã hội còn
phổ biến ở nhiều nơi, môi trường sống bị giảm cấp và ô nhiễm nghiêm trọng (70%
số hộ gia đình nông thôn chưa có nhà vệ sinh đạt chuẩn, trên 80% số xóm chưa có
khu thu gom, xử lý rác thải).
+ Hệ thống chính trị cơ sở còn yếu (nhất là trình độ năng lực quản lý, điều
hành) cán bộ chủ yếu là trình độ trung cấp và sơ cấp.
13
- Do kết cấu hạ tầng nông thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi, còn
nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ) nhiều hạng mục công trình đã xuống
cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hóa thấp, giao thông nôi đồng ít được
quan tâm đầu tư, hệ thống thủy lợi ít được đầu tư nâng cấp, chất lượng lưới điện
nông thôn chưa thự sự an toàn, cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hóa còn rất hạn
chế, mạng lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, nhà văn hóa xóm nhiều
nơi xuống cấp. Mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đạt chẩn quốc gia rất
khó khăn, dân cư phân bố rải rác, kinh tế hộ kém phát triển.
- Do sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn
chế, chưa gắn chế biến với tiêu thụ sản phẩm; chất lượng nông sản chưa đủ sức
cạnh tranh trên thị trường. chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học công
nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỉ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp,
cơ giới hóa chưa đồng bộ.
- Do thu nhập của nông dân còn thấp, số lượng doanh nghiệp đầu tư vào
nông nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần
kinh tế khác ở khu vực nông thôn chưa chặt chẽ. Kinh tế hộ, kinh tế trang trại còn
nhiều yếu kém. Tỷ lệ lao động nông gnhiệp còn cao, cơ hội có việc làm mới tại địa
phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo thấp; tỷ lệ hộ
nghèo còn cao.
- Do đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hóa truyền
và gián tiếp tới khu vực nông thôn và đời sống của người dân nông thôn. Mô hình
phát triển nông thôn liên quan đến nhiều nhóm đối tượng người dân, nhiều tổ chức
cơ quan đoàn thể. Người dân được coi là trọng tâm của phát triển nông thôn, vì vậy
các mô hình phát triển nông thôn cần tập trung vào việc cải thiện đời sống cho
người dân vùng nông thôn.
Trên thế giới vấn đề xây dựng mô hình nông thôn đã luôn là chủ đề nóng hổi
qua mọi thời đại. Trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới nhiều nước trên thế giới
đẩy mạnh các giải pháp kinh tế và công nghiệp hóa nông thôn. Ở Trung Quốc và
Ấn Độ chú trọng đến việc thúc đẩy nông nghiệp nông thôn.
Phát triển toàn diện nhằm tăng thu nhập cho nông dân, điều chỉnh mạnh cơ
cấu, bố cục khu vực nông nghiệp và kinh doanh chuyên môn hóa nông nghiệp, phát
triển chăn nuôi, thủy sản; xây dựng thể chế an ninh an toàn chất lượng nông sản và
15
hệ thống dịch vụ xã hội hóa nông nghiệp.
Xây dựng nông thôn mới là vấn đề quan tâm hàng đầu của tất cả các nước
trên thế giới và phải xác định xây dựng nông thôn mới phải có lộ trình và để làm
song nó không phải chỉ có một vài năm…, Nước Anh mất 100 năm mới làm song
nông thôn mới, nước Mỹ mất 80 năm, còn nước Nhật phải mất đến hai đời người.
1.2.2.5.2. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới từ các nước trên thế giới
Tác giả Phan Đình Hà (2011) [3] tìm hiểu về kinh nghiệm xây dựng nông
thôn mới từ các nước trên thế giới có một số nhận định: Phát triển nông nghiệp để
xây dựng một nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay, từ các góc cạnh khác nhau
đang là mối quan tâm chung của cả cộng đồng thế giới. Mỹ với phát triển ngành
“kinh doanh nông nghiệp” đã phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều doanh
nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại. sự ra đời của kinh doanh nông
nghiệp vào cuối thế kỷ XX đã tạo ra ít trang trại hơn, nhưng quy mô trang trại thì
lớn hơn rất nhiều và các trang trại này dử dụng máy móc nhiều hơn bàn tay của
Bốn là: Phát huy dân chủ để phát triển nông thôn;
Năm là: Phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng;
Sáu là: Phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh toàn dân.
1.2.2.5.3. Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Trong mục tiêu tổng quát của “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 20112020” được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua ghi rõ: phấn
đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại;
chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh
thần của nhân được nâng lên rõ rệt…”
Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW và quyết định Số 800/QĐ-TTg về xây
dựng nông thôn mới [1]:
Sau hơn 4 năm triển khai xây dựng nông thôn mới, chương trình xây dựng
nông thôn mới đã xây dựng được gần 5000 mô hình sản xuất góp phần nâng cao
hiệu quả sản xuất nên từ 20 đến 30%. Thành quả rõ nét trong việc triển khai các tiêu
chí xây dựng nông thôn mới ở các địa phương là việc dồn điền đổi thửa gắn với quy
hoạch vùng sản xuất hàng hóa ở hầu hết các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng và
xây dựng cánh đồng mẫu lớn, cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp ở các vùng Đồng
bằng sông Cửu Long. Đến năm 2014 tại 11 xã được Trung ương chọn làm thí điểm
17
đã đạt được từ 15 đến 19 tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới, trong những địa
phương có số xã đạt tiêu chí cao là Hà Nội; Quảng Ninh; Bắc Ninh; Hải Phòng; Bắc
Giang; Lào Cai; Yên Bái và Hưng Yên. Đồng thời cũng có 950 xã của các tỉnh
Đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc trung bộ đạt từ 10 tiêu chí trở lên chiếm khoảng
18%. Có thể nói từ những kết quả đạt được cho thấy chương trình đã trở thành
phong trào sâu rộng trong cả nước, huy động cả hệ thống chính trị từ Trung ương
đến địa phương vào cuộc và nhận đsợc sự hưởng ứng nhiệt tình của nông dân trong
cả nước. Chương trình bước đầu đã hình thành một số mô hình nông thôn mới.
với những cách làm sáng tạo, rút ra được một số bài học kinh nghiệm hay,