Tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng từ sơ sinh đến 45 ngày tuổi tại một số trang trại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị - Pdf 41

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------

NINH HỒNG THỦY
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH
LỢN CON PHÂN TRẮNG TỪ SƠ SINH ĐẾN 45 NGÀY TUỔI TẠI
MỘT SỐ TRANG TRẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ
BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khoá học

: Chính quy
: Chăn nuôi - Thú y
: Chăn nuôi - Thú y
: 2013 – 2016

Thái Nguyên, năm 2016


i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------




ii

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, rèn luyện tại trƣờng Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, em đã nhận đƣợc sự dạy bảo tận tình của các thầy, cô giáo. Nhờ vậy,
em đã đƣợc các thầy cô giáo trang bị những kiến thức khoa học kỹ thuật cũng
nhƣ đạo đức tƣ cách ngƣời cán bộ tƣơng lai. Thầy cô đã trang bị cho em đầy
đủ hành trang và một lòng tin vững bƣớc vào đời, vào cuộc sống và sự nghiệp
sau này.
Để có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng
của bản thân. Em đã nhận đƣợc sự chỉ bảo tận tình của thầy, cô giáo trong
khoa Chăn nuôi Thú y, sự giúp đỡ của thầy giáo hƣớng dẫn TS. Đỗ Quốc Tuấn,
cùng với sự giúp đỡ của đội ngũ công nhân, kĩ thuật viên tại một số trại lợn thuộc
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã giúp em hoàn thành khóa luận này.
Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trƣờng
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, các
thầy cô giáo đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trƣờng.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, sự quan tâm giúp đỡ của
thầy giáo hƣớng dẫn TS. Đỗ Quốc Tuấn đã trực tiếp hƣớng dẫn để em hoàn
thành khóa luận này.
Em xin kính chúc toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y
cùng Ban lãnh đạo, các anh chị tại trại lợn một số trại lợn thuộc huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên sức khỏe, hạnh phúc và thành công trong cuộc sống.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày … tháng 6 năm 2016
Sinh viên
Ninh Hồng Thủy



: Thể trọng

E. Coli

: Escherichia coli


iv

DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Số lƣợng đàn gia súc gia cầm của huyện Đồng Hỷ trong 03 năm. 25
Bảng 4.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 30
Bảng 4.3. Kết quả điều tra tình hình bệnh lợn con phân trắng ....................... 31
Bảng 4.4. Kết quả theo dõi tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo độ tuổi ............. 33
Bảng 4.5. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tháng .................................... 34
Bảng 4.6. Hiệu quả điều trị bệnh phân trắng lợn con bằng hai loại thuốc
floxacin và fatra............................................................................................... 36


v

MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa trong khoa học ........................................................................... 2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn. .................................................................................... 2
2.1. Cơ sở khoa học ........................................................................................... 3
2.1.1. Đặc điểm sinh lý của lợn con .................................................................. 3

và fatra ............................................................................................................. 36
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ................................................................. 37
4.1. Kết luận .................................................................................................... 37
4.2. Đề nghị ..................................................................................................... 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 39


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nƣớc ta vốn là một nƣớc nông nghiệp, trong đó chăn nuôi là một ngành
nghề rất quan trọng và thu hút đƣợc nhiều lao động. Chăn nuôi lợn cung cấp
một nguồn thực phẩm tƣơi ngon có giá trị dinh dƣỡng cao, nhƣ thịt, trứng,
sữa...cho con ngƣời, cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt, các phụ phẩm
da, lông, sừng, tiết…, cho công nghiệp chế biến. Chính vì thế tại các địa
phƣơng ngày càng đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, tạo điều kiện cho các hộ
chăn nuôi nhỏ lẻ, tự túc truyền thống chuyển sang mô hình chăn nuôi trang
trại theo hƣớng công nghiệp hiện đại.
Cùng với việc chăn nuôi lợn ngày càng đƣợc mở rộng và phát triển
mạnh mẽ theo hƣớng công nghiệp hóa thì tình hình dịch bệnh xảy ra cũng rất
phức tạp, làm ảnh hƣởng rất lớn đến năng suất, chất lƣợng hiệu quả kinh tế
của ngành chăn nuôi lợn. Do điều kiện thời tiết nƣớc ta mang tính chất khí
hậu nhiệt đới gió mùa, nên tình hình dịch bệnh thƣờng hay xảy ra và lây lan
nhanh cho đàn lợn. Một trong những bệnh mà lợn con hay mắc phải là bệnh
phân trắng ở lợn con giai đoạn từ 01 đến 45 ngày tuổi.
Bệnh phân trắng ở lợn con là bệnh truyền nhiễm cấp tính. Lợn con mắc
bệnh này sẽ bị ỉa chảy, bệnh do vi khuẩn E.coli gây nên, khi lợn con mắc
bệnh nếu điều trị không kịp thời sẽ dẫn đến còi cọc, chậm lớn, làm ảnh hƣởng

- Qua điều tra nắm bắt đƣợc tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn con từ sơ
sinh đến 45 ngày tuổi
- Xác định đƣợc hiệu lực điều trị của 2 loại thuốc, từ đó có thể khuyến cáo
ngƣời dân sử dụng hai loại thuốc floxacin và fatra điều trị phân trắng cho lợn
con, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn.


3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Đặc điểm sinh lý của lợn con
Nguyễn Đức Lƣu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), [19] khi nghiên cứu về sinh
trƣởng ta không thể không đề cập đến quá trình phát triển. Sự phát dục của
gia súc là quá trình tăng thêm, hoàn chỉnh thêm về chức năng của từng cơ
quan, bộ phận để cơ thể có thể phát triển sinh trƣởng và phát dục, là 2 mặt của
quá trình phát triển của cơ thể. Hai mặt này không có ranh giới, có phát dục
đồng thời có sinh trƣởng và ngƣợc lại.
Lợn con ở giai đoạn này có khả năng sinh trƣởng, phát dục rất nhanh.
So với khối lƣợng sơ sinh thì sau 10 ngày tuổi trọng lƣợng lợn con tăng gấp 2
lần, lúc 21 ngày tuổi thì tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi thì tăng gấp 5 - 6 lần,
lúc 40 ngày tuổi thì tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi thì tăng gấp 10 lần và
lúc 60 ngày tuổi thì tăng gấp 12 - 14 lần.
Do sinh trƣởng phát dục nhanh nên khả năng đồng hóa và trao đổi chất
của lợn con rất mạnh, lợn con sau 20 ngày tuổi, mỗi ngày cần tích lũy 9 - 14
gram protein/1kg khối lƣợng cơ thể, trong khi đó lợn trƣởng thành chỉ tích
đƣợc 0,3 - 0,4 gram/1kg khối lƣợng cơ thể (Hà Thị Hảo và Trần Văn Phùng,
2003) [7]. Điều đó cho thấy, nhu cầu dinh dƣỡng của lợn con cao hơn lợn
trƣởng thành rất nhiều, đặc biệt là protein. Mặt khác, ta biết lợn con trong thời

dày tiêu hoá tiếp.
Dạ dày tiết ra các dịch vị , các men tiêu hóa , khi thƣ́c ăn xuố ng da ̣ dày ,
cơ trơn co bóp nhào trô ̣n thƣ́c ăn , cùng với đó các men tiêu hóa đƣơ ̣c thêm
vào thức ăn . Men tripsinogen nhờ tác du ̣ng của HCl chuyể n thành tripsin có
tác dụng thủy phân protit , peptit. Dịch vị tiêu hóa trong dạ dày lợn là khác
nhau: ở lợn con bú sữa dịch vị tiết ra ban ngày là 31%, ban đêm là 69%, trong
khi đó ở lơ ̣n trƣởng thành lƣơ ̣ng dich
ngày tới 62%, ban đêm chỉ 38%.
̣ vi ban
̣


5

Nguyễn Thiê ̣n và cs (1998) [29] thì hàm lƣợng HCl của lợn con là 0,05
- 0,15%, ở lợn 90 ngày tuổi là 0,2 - 0,25%, lợn trƣởng thành 0,35 - 0,40%. Số
lƣơ ̣ng và chấ t lƣơ ̣ng thƣ́c ăn tố t sẽ làm tăng tính ngon miê ̣ng

, dịch vị tiết ra

nhiề u, tỷ lệ tiêu hóa cao . Ban đêm tỷ lê ̣ tiêu hóa cao hơn ban ngày , ban ngày
dịch vị lại tiết ra nhiều hơn.
Ở lợn từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn ở
trạng thái sinh lý bình thƣờng nữa (Đào Trọng Đạt và cs., 1986) [4]. Vì vậy,
việc tập cho lợn con ăn sớm đã rút ngắn đƣợc giai đoạn thiếu HCl, giúp hoạt
hóa hoạt động tiết dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh chóng các đáp ứng
miễn dịch của cơ thể.
Lợn con dƣới 1 tháng tuổi trong dịch vị không có HCl, vì lúc này lƣợng
axit tiết ra rất ít và nó nhanh chóng liên kết với niêm dịch. Hiện tƣợng này
đƣợc gọi là hypoclohydric, là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hóa ở dạ

Trong bào thai, dinh dƣỡng chuyển qua hệ tuần hoàn nhau thai, khi đẻ
nguồn dinh dƣỡng đó mất đột ngột. Vì vậy, trong vòng 30 phút đầu tiên, thân
nhiệt lợn con giảm đột ngột từ 38,9 - 39,10C xuống còn 36,7 - 37,10C. Sau khi
đẻ 1 giờ nếu lợn con đƣợc bú sữa đầu thì 8 - 12 giờ sau thân nhiệt ổn định.
Nếu 4 giờ sau đẻ, lợn con mới đƣợc bú sữa đầu thì phải mất 18 - 24 giờ thân
nhiệt mới đạt mức bình thƣờng.
Các kết quả nghiên cứu của Cù Xuân Dần và cs. (1996) [3] về lợn con
trong những năm qua đều cho thấy thân nhiệt của lợn nội từ khi mới đẻ đến
khi cai sữa là:
Tuổi (ngày)

Thân nhiệt (ºC)

Sơ sinh

38,3 ± 0,6 ºC

10

39,6 ± 1,0 ºC

21

39,7 ±0,9 ºC

30

39,3 ±0,6 ºC



8

Lợn con hấp thụ globulin bằng con đƣờng ẩm bào, 24 giờ sau khi đựơc
bú sữa đầu hàm lƣợng globulin trong máu đạt tới 20,3 mg/100ml máu. Sau 24
giờ, sự hấp thụ globulin kém dần hàm lƣợng globulin trong máu lợn tăng lên
chậm hơn, đến 3 ngày chỉ đạt 2,4 mg/100ml máu. Do đó, lợn con càng đƣợc
bú sữa đầu càng sớm càng tốt.
Trong sữa đầu của lợn mẹ có hàm lƣợng protein chiếm tới 18 - 19%, trong
đó lƣợng globulin chiếm số lƣợng khá lớn 30 - 35%, globulin có tác dụng tạo sức
đề kháng, cho nên sữa đầu có vai trò quan trọng với khả năng miễn dịch của lợn
con. Do đó, lợn con cần đƣợc bú sữa đầu càng sớm càng tốt. Nếu lợn con không
đƣợc bú sữa đầu thì trong 20 ngày đầu lợn không có kháng thể, vì lợn con chỉ có
kháng thể lúc 20 - 25 ngày tuổi. Vì vậy, những lợn không đƣợc bú sữa đầu thì sức
đề kháng rất kém và tỉ lệ chết rất cao.
2.1.2. Căn bệnh
Trực khuẩn ruột già Escherichia coli thuộc họ Enterobacteriaceae,
giống Escherichia. Trong số các vi khuẩn hiếu khí trong đƣờng tiêu hoá của
động vật thì E. coli chiếm tỷ lệ nhiều nhất, khoảng 80%.
Escherichia coli còn có tên khoa học là Bacterium coli commune, hay
Bacilus coli communis do bác sỹ nhi khoa Đức Escherich phân lập từ phân
của trẻ em bị tiêu chảy năm 1885.
2.1.2.1. Đặc điểm hình thái
Hình thái: E. coli là một trực khuẩn ngắn, hình gậy, hai đầu tròn, trong
khi cơ thể động vật có hình cầu, kích thƣớc 2 - 3 x 0,6 m những loại này
thƣờng gặp trong canh khuẩn già. Trực khuẩn thƣờng đứng riêng lẻ, đôi khi
xếp thành chuỗi ngắn. Phần lớn E. coli di động có lông ở quanh thân, nhƣng
một số không thấy di động.


9


Trên môi trƣờng gelatin, vi khuẩn mọc theo vết cấy trên mặt ống thành
một lớp bựa xám.
Nuôi cấy trên môi trƣờng levin: E. coli mọc thành khuẩn lạc có màu
tím thẫm hoặc đen.
2.1.2.4. Cấu trúc kháng nguyên
Vi khuẩn E. coli đƣợc chia thành 3 nhóm kháng nguyên là O, H, K.
- Kháng nguyên O là kháng nguyên thân, chịu nhiệt khi đun ở 100 0C
trong 2 giờ 30 phút vẫn giữ đƣợc kháng nguyên, khả năng ngƣng và kết hợp.
- Kháng nguyên H: là kháng nguyên không có tính chịu nhiệt cao, vì
vậy khi đun ở nhiệt độ 1000C trong 2 giờ 30 phút thì tính kháng nguyên, khả
năng ngƣng kết, kết tủa đều bị phá hủy. Tất cả các kháng nguyên O khác nhau
thuộc E. coli đều có một loại type kháng nguyên tốt.
- Kháng nguyên K: Là kháng nguyên bề mặt (hoặc kháng nguyên vỏ,
hoặc kháng nguyên bao) chúng có 3 loại đƣợc ký hiệu là L, B, A.
+ Kháng nguyên L: Không chịu đƣợc nhiệt, bị phân hủy ở nhiệt độ
1000C/1 giờ. Trong điều kiện đó, kháng nguyên mất khả năng ngƣng kết, kết
tủa và không giữ đƣợc tính kháng nguyên.
+ Kháng nguyên B: Là kháng nguyên chịu đƣợc nhiệt, bị phá hủy với
nhiệt độ 1000C/1 giờ, nhƣng khác với kháng nguyên L khi bị đun kháng
nguyên B chỉ bị mất tính kháng nguyên nhƣng vẫn giữ đƣợc khả năng ngƣng
kết và kết tủa. Kháng nguyên này rất đặc hiệu cho các type trong các nhóm
trực khuẩn đƣờng ruột.
+ Kháng nguyên A: Là kháng nguyên vỏ chịu đƣợc nhiệt, không bị
phá huỷ khi đun sôi ở 1000C, nhƣng khi đun sôi trong thời gian 2 giờ 30 phút
thì kháng nguyên bị phá huỷ.


11



những xuất hiện vào những ngày đầu tiên mới đẻ mà còn vào những giờ đầu
tiên sau khi sinh. Điều đó cho thấy đã có sự nhiễm bệnh cả bào thai ngay từ
khi còn trong bụng mẹ, do đó con vật đẻ ra là con vật bệnh. Đây là vấn đề có
ý nghĩa quan trọng trong việc kịp thời đề xuất những biện pháp nhằm phòng
trừ có hiệu quả ngay từ khi con vật còn trong bụng mẹ (Đào Trọng Đạt và
cs. 1995) [5].
Nguyễn Đức Lƣu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [20] cho biết, khả năng
gây bệnh ở các vi khuẩn này phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ: lợn con mới
sinh chƣa có hệ thống phòng vệ hoàn chỉnh, chăm sóc nuôi dƣỡng lợn mẹ
chƣa phù hợp, chuồng trại ẩm ƣớt, vệ sinh kém, không thông thoáng, thiếu sắt
và một số vitamin A, PP, B5. Bội nhiễm vi khuẩn Salmonella cholelasuis,
Staphylococus, Clostridium virus, cầu trùng, giun, sán, cùng những tác nhân
gây bệnh cho lợn con trong giai đoạn này. Sau khi bám dính vào thành ruột
non, vi khuẩn tăng sinh và sản sinh độc tố hƣớng ruột, những độc tố này tác
động trực tiếp lên tế bào thƣợng bì ruột non gây ra rối loạn chức năng nhƣ:
không hấp thu đƣợc các chất dinh dƣỡng, mất nƣớc của các chất điện giải
quan trọng dẫn đến các triệu chứng lâm sàng, tiêu chảy trầm trọng mất nƣớc,
giảm thể tích máu.
2.1.3.2. Cơ chế sinh bệnh
Phạm Ngọc Thạch (2006) [26] khi bị bệnh, đầu tiên dạ dày giảm tiết
dịch vị, nồng độ HCl giảm, làm giảm khả năng diệt trùng và khả năng tiêu
hóa protein. Khi độ kiềm trong đƣờng tiêu hóa tăng cao, tạo điều kiện cho các
vi khuẩn trong đƣờng ruột phát triển mạnh, làm thối rữa các chất chứa trong
đƣờng ruột và sản sinh nhiều chất độc. Những sản phẩm trên kích thích vào
niêm mạc ruột làm tăng nhu động ruột, con vật sinh ra ỉa chảy. Khi bệnh kéo
dài, con vật bị mất nƣớc gây nên rối loạn trao đổi chất trong cơ thể nhƣ nhiễm


13

14

Erwyn R. Miler (2001) [38] cũng nêu ra một số nguyên nhân gây bệnh: một
số các yếu tố môi trƣờng và ký chủ ảnh hƣởng tới tỷ lệ nhiễm E. coli ở lợn sơ
sinh. Dạ dày và ruột của lợn con nhanh chóng bị tràn ngập vi trùng, ngay sau
khi sinh, rất nhiều trong số chúng “bất hại” nhƣng nếu xuất hiện với số lƣợng
lớn E. coli lợn con có thể bị nhiễm bệnh sau khi sinh.
Số lƣợng lớn E. coli thƣờng hiện diện ở ngay môi trƣờng nếu ẩm ƣớt,
bẩn và thông thoáng kém. Tuy nhiên, nguồn nhiễm bệnh quan trọng nhất là
lợn con khác mắc bệnh tiêu chảy E. coli. Những con này sẽ thải ra tới 1 tỷ
E. coli/1cc phân lỏng.
Trong các tài liệu của các tác giả Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân,
(1995) [16]; Nguyễn Huy Hoàng (1996) [10]; Phạm Sỹ Lăng và cs. (2003)
[17]; Trƣơng Lăng (2004) [15] cũng có nhận xét chung về nguyên nhân gây
bệnh nhƣng chủ yếu do 2 nguyên nhân chính là do vi khuẩn và các nguyên
nhân không phải vi khuẩn.
Lợn con không đƣợc bú sữa đầu dẫn đến sức đề kháng yếu, làm tăng
khả năng cảm nhiễm bệnh; thời tiết nóng, lạnh đột ngột, độ ẩm môi trƣờng
cao cũng làm lợn con dễ mắc bệnh lợn con phân trắng.
Đào Trọng Đạt và cs. (1995) [5] bệnh lợn con phân trắng do E. coli gây
ra, là bệnh truyền nhiễm cấp tính ở dạng nhiễm trùng huyết hoặc nhiễm độc
đƣờng ruột, viêm ruột ở lợn con, nhất là sau khi sinh, thậm chí chỉ vài giờ. Có
đến 48% trƣờng hợp bị tiêu chảy ở lợn con là do E. coli gây ra.
Số lƣợng lớn E. coli thƣờng hiện diện ở ngay môi trƣờng nếu ẩm
ƣớt, bẩn và thông thoáng kém. Tuy nhiên, nguồn nhiễm bệnh quan trọng
nhất là lợn con khác mắc bệnh tiêu chảy E. coli. Những con này sẽ thải ra
tới 1 tỷ E. coli/1cc phân lỏng.


15

16

giảm dần đi. Phân có màu trắng đục, trắng vàng, nhiều con mắt có dử và vàng
thâm xung quanh. Lợn suy dinh dƣỡng, niêm mạc nhợt nhạt, nếu chữa trị
không kịp thời thƣờng chết sau một tuần bị bệnh. Lợn con từ 45 - 50 ngày
tuổi vẫn còn bú mẹ nhƣng bị phân trắng với các triệu chứng nhẹ hơn, lợn có ỉa
phân trắng nhƣng hoạt động vẫn bình thƣờng, ăn, đi lại nhanh nhẹn, phân
thƣờng đặc hoặc nát với màu xám. Lợn có thể khỏi, tỷ lệ chết thấp, nếu kéo
dài lợn gầy sút, còi cọc chậm lớn.
2.1.3.4. Bệnh tích
Những lợn khi chết mổ khảo sát thấy trong dạ dày chứa đầy hơi hoặc
sữa chƣa tiêu, mùi khó ngửi. Trong ruột rỗng, chứa đầy hơi, niêm mạc ruột
già bị tổn thƣơng rất rõ, hạch lâm ba ruột sƣng màu đỏ sẫm. Gan nhão, hơi sƣng.
Túi mật sƣng, xuất huyết, dịch mật biến đổi màu. Phổi thƣờng ứ máu, đôi khi có
hội chứng sƣng phổi nhẹ. Cơ tim nhão, lách không sƣng nhƣng bị teo.
Bên cạnh những triệu chứng bệnh tích chung thì tùy theo những nguyên
nhân khác nhau lại có những biểu hiện bệnh tích khác, dẫn đến tiêu chảy ở vật
nuôi. Xác lợn chết gầy, bụng hóp, những lợn chết qua đêm phần bụng thƣờng
có màu đen do quá trình hoại tử gây nên.
2.1.3.6. Phòng bệnh và trị bệnh
Phòng bệnh là cách chủ động để giảm thiệt hại về kinh tế do bệnh về
tiêu chảy gây ra. Các biện pháp phòng xoay quanh các vấn đề môi trƣờng, vật
chủ và mầm bệnh.
- Phòng bệnh bằng biện pháp quản lý và chăm sóc nuôi dưỡng
Sử An Ninh (1993) [21] biện pháp phòng tiêu chảy trƣớc hết là hạn
chế, loại trừ các yếu tố stress sẽ mang lại hiệu quả tích cực. Khắc phục những
bất lợi về thời tiết, khí hậu, giữ vệ sinh chuồng nuôi.


17

+ Vacxin E. coli dạng uống. Cùng đƣợc chế tạo từ các chủng E. coli
gây bệnh, phân lập từ các địa phƣơng dùng cho lợn uống 3 - 4 lần sau khi đẻ.
vacxin có tác dụng phòng bệnh đạt tỷ lệ 70%.
Ngoài ra có thể dùng thuốc nam để phòng bệnh: hái khoảng 200 gam
cây nhọ nồi cho lợn mẹ ăn sống hoặc nấu chín cùng thức ăn, cứ 2 - 3 ngày 1
lần. Nhƣ vậy, lợn con sẽ không bị ỉa phân trắng.
* Trị bệnh
Bùi Thị Tho (2003) [30] đã đƣa ra nguyên tắc khi sử dụng kháng
sinh để tránh tác dụng phụ và hạn chế hiện tƣợng kháng thuốc của vi khuẩn
nhƣ sau:
- Tiến hành làm kháng sinh đồ để chọn kháng sinh mẫn cảm.
- Dùng đúng thuốc, đúng bệnh, đúng liều lƣợng, theo kinh nghiệm cho
thấy khi sử dụng kháng sinh phải dùng liều cao ngay từ đầu, không dùng liều
tăng dần, do vi khuẩn có khả năng kháng thuốc, nếu dùng 1 loại kháng sinh
nào đó trong 3 - 5 ngày mà không đem lại hiệu quả thì cần tiến hành ngay
kháng sinh đồ chọn kháng sinh khác nhạy cảm hơn.
- Phối hợp kháng sinh: Phối hợp kháng sinh làm tăng hiệu quả sử dụng
nhƣng khi phối hợp cần lƣu ý tính tƣơng kị và tính hiệp đồng giữa các kháng sinh.
Điều trị bằng kháng sinh: Khi sử dụng kháng sinh cần tiến hành làm
kháng sinh đồ.
Điều trị bằng Đông dƣợc: Trƣơng Lăng (2004) [15] có thể điều trị theo
bài thuốc sau:
Tô mộc: 500 gam
Ngũ bột tử: 300 gam
Hai thứ sắc đặc trộn lẫn vào thức ăn cho lợn ăn. Nếu dùng viên tô mộc (do
dƣợc phẩm sản xuất), cũng trộn với thức ăn theo liều: 2 viên/ngày/con đối với lợn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status