BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-----------------
TRẦN THANH THẢO
NGHIÊN CỨU BỘ BA BẤT KHẢ THI
Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-----------------
TRẦN THANH THẢO
NGHIÊN CỨU BỘ BA BẤT KHẢ THI
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ HẢI LÝ
Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 17
4. Nội dung và các kết quả nghiên cứu ............................................................ 17
4.1.
Đo lường mức độ độc lập tiền tệ ............................................................... 17
4.2.
Đo lường độ ổn định tỷ giá ....................................................................... 19
4.3.
Điều hành bộ ba bất khả thi trong mối quan hệ với dự trữ ngoại hối ở Việt
Nam ................................................................................................................. 22
4.4.
Ước lượng mô hình hồi quy...................................................................... 23
4.4.1.
Kết quả ước lượng mô hình hồi quy có các biến liên quan đến dự trữ
ngoại hối ......................................................................................................... 23
4.4.2.
Kết quả ước lượng mô hình hồi quy không có các biến liên quan đến
dự trữ ngoại hối .............................................................................................. 28
ERS
Exchange Rate Stability
Ổn định tỷ giá
FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
IMF
International Montary Fund
Tổ chức Tiền tệ Quốc tế
INR
Indian Rupee
Rupi Ấn Độ
Đồng Việt Nam
WB
World Bank
Ngân hàng Thế giới
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Chỉ số độc lập tiền tệ của Việt Nam từ năm 1997 đến năm 2012 ........... 18
Bảng 4.2: Chỉ số ổn định tỷ giá của Việt Nam từ năm 1997 đến năm 2012 ............ 19
Bảng 4.3: Kết quả hồi quy của các mô hình có các biến liên quan đến dự trữ ngoại
hối ......................................................................................................................... 25
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định thừa biến Wald......................................................... 29
Bảng 4.5: Kết quả hồi quy của các mô hình không có các biến liên quan đến dự trữ
ngoại hối ............................................................................................................... 31
v
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 4.1: Chỉ số độc lập tiền tệ của Việt Nam từ năm 1997 đến năm 2012 ............ 18
Hình 4.2: Chỉ số ổn định tỷ giá của Việt Nam từ năm 1997 đến năm 2012 ............ 19
Hình 4.3: Độ dao động tỷ giá hàng tháng của Việt Nam từ tháng 01 năm 1997 đến
1. Giới thiệu mục tiêu nghiên cứu và vấn đề cần nghiên cứu
Việc nghiên cứu về bộ ba bất khả thi đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu trong hơn 50 năm qua; từ những lý thuyết cơ bản về bộ ba bất khả thi
của Robert Mundell và Marcus – Fleming trong những năm 1960, cho đến những
nghiên cứu của Aizenman, Chinn và Ito trong thời gian gần đây.
Theo lý thuyết về bộ ba bất khả thi, một quốc gia không thể đồng thời đạt được
ba mục tiêu chính sách sau: độc lập tiền tệ, tỷ giá linh hoạt và hội nhập tài chính. Cụ
thể hơn, nếu một quốc gia chọn độc lập tiền tệ và tỷ giá linh hoạt thì phải đánh đổi
mục tiêu hội nhập tài chính, và ngược lại. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về bộ ba bất
khả thi hiện nay không chỉ tập trung vào ba chiều của nó, mà có thêm vào tác động
của dự trữ ngoại hối. Theo Aizenman, Chinn và Ito (2008), xu hướng gần đây của
đa số các quốc gia mới nổi là “hội tụ” ba chiều của cấu hình bộ ba bất khả thi tại
một “điểm trung gian” với tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý, và mức độ độc lập tiền
tệ và hội nhập tài chính trung bình, được củng cố bằng việc nắm giữ lượng dự trữ
ngoại hối lớn. Bên cạnh đó, việc nắm giữ lượng dự trữ ngoại hối lớn có thể tạo cho
những nền kinh tế mới nổi nhiều điều kiện để kết hợp các chính sách hơn
(Aizenman và Ito, 2012).
Việc điều hành bộ ba bất khả thi trong mối quan hệ với dự trữ ngoại hối của Việt
Nam từ sau khủng hoảng Châu Á 1997 đến nay như thế nào? Dự trữ ngoại hối có
phải là một “tấm đệm” giúp Việt Nam có thể kết hợp nhiều lựa chọn chính sách hơn
không? Có tồn tại mối quan hệ giữa các chỉ số bộ ba bất khả thi, tỷ lệ dự trữ ngoại
hối và sự tương tác của chúng với tăng trưởng kinh tế và lạm phát của Việt Nam
hay không? Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này là để trả lời những câu hỏi trên.
Câu hỏi nghiên cứu
-
Chỉ số độc lập tiền tệ (MI) và ổn định tỷ giá (ERS) của Việt Nam từ năm
1997 đến năm 2012 được tính theo phương pháp của Aizenman, Chinn và Ito
• biến cho thấy hạn chế về giao dịch tài khoản vãng lai (k2) ;
• biến cho thấy hạn chế về giao dịch tài khoản vốn (k3) và
• biến cho thấy các quy định của sự nộp lại (surrender) số thu xuất khẩu (k4)
Để tập trung vào hiệu quả của mở cửa tài chính - chứ không phải các biện pháp
kiểm soát – các tác giả đã nghịch đảo các giá trị của các biến nhị phân, như vậy các
biến bằng 1 khi các hạn chế tài khoản vốn không tồn tại. Hơn nữa, đối với các biện
pháp kiểm soát giao dịch tài khoản vốn (k3), Chinn và Ito sử dụng các phần của một
thời kỳ năm năm (bao gồm năm t và trước bốn năm trước đó) mà các biện pháp
kiểm soát vốn không có hiệu quả (SHAREk3).
k k3,t 1 k3,t 2 k3,t 3 k3,t 4
SHAREk3,t 3,t
5
4
Sau đó Chinn và Ito xây dựng một chỉ số về "mở cửa tài khoản vốn"
(KAOPENt), mà nó là thành phần chính đã được chuẩn hóa đầu tiên của k1t, k2t,
SHAREk3t, k4t.
Chỉ số này của một quốc gia càng cao, thì quốc gia đó càng mở cửa hơn đối với
các giao dịch vốn qua biên giới.
Các tác giả kết hợp các biến k1t, k2t, và k4t trong biến KAOPEN thay vì tập trung
vào k3 mà nó đề cập đến những hạn chế về giao dịch tài khoản vốn. Sự kết hợp của
k1t, k2t, và k4t trong chỉ số này cho phép nắm bắt chính xác hơn cường độ của các
biện pháp kiểm soát vốn.
Một trong những ưu điểm của chỉ số KAOPEN là nó cố gắng đo lường cường độ
của các biện pháp kiểm soát vốn, trong chừng mực cường độ này tương quan với sự
từ đầu những năm 1990. Trong thập niên cuối của thế kỷ XX, những nền kinh tế kế
hoạch hóa ở Đông và Trung Âu đã tự do hóa thị trường tài chính của họ với tốc độ
nhanh nhất và bắt kịp với các nước phát triển khác.
+ Hiện nay, Bắc Mỹ và Tây Âu là khu vực mở cửa về tài chính nhất, trong
khi hầu hết châu Phi, Trung Quốc, và Nam Á mở cửa ít nhất. Đông Nam Á và châu
Mỹ La tinh nằm ở giữa với các thị trường tài chính vừa mở cửa.
“Assessing the emerging global financial architecture: measuring the
trilemma’s configurations over time” (Aizenman, Chinn và Ito, 2008):
Nghiên cứu này đưa ra phương pháp đo lường mức độ linh hoạt tỷ giá (ERS),
mức độ độc lập tiền tệ (MI), và độ mở tài khoản vốn (KAOPEN), trong khi có tính
đến sự phát triển đáng kể của dự trữ ngoại hối. Đồng thời, các chỉ số này được sử
dụng để mô tả đặc điểm những lựa chọn mà các nước đã thực hiện với bộ ba bất khả
thi trong suốt giai đoạn hậu Bretton-Woods.
Mức độ độc lập tiền tệ (MI) được đo lường bằng hàm nghịch đảo của mức
tương quan hằng năm của lãi suất hàng tháng giữa quốc gia sở tại và quốc gia cơ sở.
Cụ thể, chỉ số này được xác định bằng công thức sau:
MI 1
corr (ii , i j ) (1)
1 (1)
Trong đó: i là quốc gia sở tại, j là quốc gia cơ sở.
6
Quốc gia cơ sở là quốc gia mà chính sách tiền tệ của quốc gia sở tại có liên kết
chặt chẽ. Cụ thể, Aizenman, Chinn và Ito xác định quốc gia cơ sở theo dữ liệu có
sẵn có Shambaugh (2004) và AREAER.
Lãi suất được sử dụng để tính toán là lãi suất thị trường tiền tệ (money market
Ngoài ra, nghiên cứu còn ước lượng mô hình hồi quy đa biến sau đây để kiểm
định những lựa chọn chính sách khác nhau sẽ ảnh hưởng đến độ biến động sản
lượng, lạm phát và độ biến động lạm phát như thế nào:
yit 0 1TLM it 2TRit 3 (TLM it TRit ) X it B Z t Di t
Với yit là độ biến động sản lượng được đo lường bằng độ lệch chuẩn trong 5 năm
của tốc độ tăng trưởng của sản lượng bình quân đầu người, hoặc độ biến động lạm
phát được đo lường bằng độ lệch chuẩn trong 5 năm của lạm phát hàng tháng, hoặc
trung bình 5 năm của lạm phát của quốc gia i trong năm t.
TLM it là một vector của 2 trong 3 chỉ số bộ ba bất khả thi.
TRit là tỷ lệ dự trữ ngoại hối (trừ vàng) so với GDP
TLM it TRit là một số hạng tương tác giữa chỉ số bộ ba bất khả thi với tỷ lệ dự
trữ ngoại hối.
X it là một vector của các biến kiểm soát vĩ mô, bao gồm thu nhập tương đối
với Mỹ, bình phương của thu nhập tương đối, độ mở thương mại (tỷ lệ phần trăm
của tổng xuất nhập khẩu trên GDP, độ biến động của tốc độ tăng trưởng M2 (như là
độ lệch chuẩn 5 năm của tốc độ tăng trưởng M2), tín dụng tư nhân so với GDP như
là thước đo của sự phát triển của hệ thống tài chính (financial development), lạm
phát, và độ biến động lạm phát.
Z t là một vector của các cú sốc toàn cầu, gồm có thay đổi trong lãi suất thực
của Mỹ, khe hở sản lượng thế giới, và các cú sốc giá dầu thực tế (được đo lường
như ln của tỷ lệ giá dầu với CPI thế giới).
Dt là một tập hợp các biến giả đặc trưng bao gồm một biến giả cho các nước
xuất khẩu dầu hỏa và một biến giả cho khu vực.
tỷ giá cao hơn có xu hướng biến động sản lượng cao hơn. Tuy nhiên, hiệu ứng này
có thể được giảm nhẹ bằng cách nắm giữ dự trữ ngoại hối cao hơn 19-22% GDP.
Kết quả này giải thích lý do tại sao nhiều thị trường mới nổi muốn giữ lượng dự trữ
ngoại hối lớn như vậy.
+ Các quốc gia tự chủ về tiền tệ cao hơn có xu hướng có lạm phát cao hơn,
điều này có thể phản ánh động cơ của các nước nhằm kiếm tiền trả nợ. Các quốc gia
với tỷ giá hối đoái ổn định cao hơn có xu hướng có lạm phát thấp hơn. Hơn nữa, mở
cửa tài chính nhiều hơn giúp một quốc gia có tỷ lệ lạm phát thấp hơn.
9
+ Có tác động tương tác giữa sự phát triển của hệ thống tài chính và mở cửa
tài chính. Nghĩa là, thị trường tài chính phát triển cao có thể giúp chính sách tự do
hóa tài chính làm giảm biến động sản lượng, trong khi thị trường tài chính kém phát
triển có thể làm trầm trọng thêm độ biến động sản lượng.
+ Cho vay ngân hàng xuyên biên giới ròng (net recipients of cross-border
bank lending) hoặc các dòng chảy danh mục đầu tư - hoặc "tiền nóng" - có xu
hướng làm tăng biến động sản lượng.
+ Một động cơ cho các nước đang giữ lượng dự trữ ngoại hối lớn là mong
muốn làm giảm tác động của bộ ba bất khả thi; việc nắm giữ lượng dự trữ ngoại hối
lớn cho phép các nước theo đuổi một mức độ ổn định tỷ giá cao hơn và bình quân
có trọng số của hai chính sách bộ ba bất khả thi còn lại cũng cao hơn, thông qua can
thiệp của hoạt động ngoại hối. Cụ thể là, giữ một mức độ dự trữ ngoại hối cao hơn
21-24% GDP có thể làm giảm hoặc thậm chí đảo ngược ảnh hưởng gia tăng độ biến
động sản lượng của chế độ tỷ giá ổn định.
“Testing, monitoring, and dating structural changes in exchange rate
regimes” (Achim Zeileis, Ajay Shah và Ila Patnaik, 2009):
Nghiên cứu này mở rộng thuật toán hồi quy OLS thành các mô hình ML
(maximum model) và QML (quasi-maximum model) để kiểm định, giám sát, và xác
Tuy nhiên, để quản lý tất cả ba sự lựa chọn của bộ ba bất khả thi đòi hỏi phải
can thiệp vào thị trường và sự can thiệp này có cái giá của nó. Với hội nhập tài
chính gia tăng, bộ ba bất khả thi buộc đa số các quốc gia châu Á chấp nhận một sự
ổn định tỷ giá hối đoái ít hơn hoặc tiền tệ tự chủ ít hơn. Điều này càng rõ ràng hơn
trong trường hợp của Malaysia. Trong thực tế, sự sẵn sàng của NHTW Malaysia
trong việc cho phép một mức độ điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhất định để đối phó với
khủng hoảng toàn cầu hiện nay đã phản ánh rằng Malaysia không phải là một ngoại
lệ của bộ ba bất khả thi. Các tác giả cho rằng sự lựa chọn tốt nhất để thực hành
trong tương lai là tự do hóa dòng vốn, duy trì ổn định giá cả và thả nổi tỷ giá hối
đoái.
11
“Managing the impossible trinity: volatile capital flows and Indian monetary
policy” (Rakesk Mohan, Munees Kapur, 2009):
Chính sách tiền tệ ở Ấn Độ đã đối mặt với những thách thức ngày càng lớn từ
dòng vốn lớn và biến động từ 1993-1994, đặc biệt là trong thời gian 2007-2009.
Trong việc phản ứng với các dòng vốn này, một cách tiếp cận theo nhiều hướng đã
được thông qua. Các yếu tố chính của khuôn khổ này là: quản lý tích cực tài khoản
vốn, đặc biệt là dòng vốn nợ; hạn chế chặt chẽ hơn việc vay mượn nợ nước ngoài
của các tổ chức tài chính trung gian; tỷ giá biến động linh hoạt nhưng với khả năng
can thiệp nếu có quá nhiều biến động; xử lý các dòng vốn ví dụ những dòng vốn dễ
bay hơi, trừ khi đã được chứng minh ngược lại; xây dựng dự trữ đầy đủ; vô hiệu hóa
các biện pháp can thiệp trong thị trường ngoại hối thông qua nhiều công cụ, bao
gồm dự trữ tiền mặt bắt buộc; tiếp tục phát triển thị trường tài chính về vấn đề thành
viên và các công cụ, nhưng với một cách tiếp cận thận trọng với các công cụ nguy
hiểm; tăng cường lĩnh vực tài chính thông qua bảo đảm quy định an toàn đồng thời
tăng cường cạnh tranh; ưu tiên thắt chặt những tiêu chuẩn thận trọng; và cải tiến
trong khuôn khổ chính sách tiền tệ. Các chính sách hoạt động một cách đối xứng.
cho mỗi nền kinh tế từ năm 1991 đến năm 2009, và tập trung vào giá trị của 3 nền
kinh tế lớn nhất: Ấn Độ, Trung Quốc, và Hàn Quốc, các tác giả này khảo sát xem
nhóm Châu Á-11 đứng ở vị trị nào đối với ba góc của bộ ba bất khả thi.
Các kết quả nghiên cứu như sau:
+ Mặc dù châu Á tránh tự do hóa tài khoản vốn theo luật định, nhưng trên
thực tế vẫn tiếp tục hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Những nền kinh tế Châu Á-11
đã di chuyển về hướng tự do hóa khu vực tài chính trong nước. Hiệu quả của các
biện pháp kiểm soát vốn bị giảm khi hệ thống tài chính trở nên tinh vi hơn, và sự
hội nhập tài khoản vãng lai đang tăng dần tạo cơ hội cho các công ty tham gia vào
các hoạt động chuyển giao vốn bất hợp pháp. Với sự ngoại lệ của Indonesia,
Philippines, Malaysia, những nền kinh tế Châu Á-11 tăng độ mở tài khoản vốn trên
thực tế từ năm 2000-2008.
+ Về trung bình, cơ chế tỉ giá hối đoái của châu Á đã di chuyển theo hướng
linh hoạt hơn. Tuy nhiên, không quốc gia nào trong số các nền kinh tế châu Á-11 có
chế độ tỷ giá thả nổi - thậm chí là Hàn Quốc, với chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt
13
nhất ở châu Á. Từ năm 2000 đến 2008, chế độ tỷ giá của Malaysia và Ấn Độ di
chuyển theo hướng linh hoạt hơn; tương tự như vậy, Trung Quốc cũng di chuyển
nhẹ theo hướng linh hoạt hơn.
+ Phần lớn các nước trong nhóm Châu Á-11 có độ mở cửa trên thực tế ngày
càng tăng, cùng với sự thiếu cải cách trong chính sách tiền tệ.
+ Việc tăng cường độ mở tài khoản vốn trên thực tế trong khi vẫn duy trì tỷ
giá hối đoái cứng nhắc có hai kết quả:
Những NHTW theo đuổi chế độ tỷ giá hối đoái cố định có thể bóp méo
chính sách để đạt được mục tiêu tỷ giá hối đoái. Trong phạm vi mà các dòng vốn
theo chu kỳ, chế độ neo tỷ giá sẽ tạo ra chính sách tiền tệ theo chu kỳ. Đặc biệt
được quan tâm là mức độ thuận chu kỳ ở Trung Quốc và Ấn Độ, nơi có hệ thống
và chưa được giải quyết trong nghiên cứu trước đây của Aizenman, Chinn và Ito
(2008).
+ Đầu tiên, nghiên cứu này kiểm tra các kênh mà thông qua đó những cấu
hình chính sách bộ ba bất khả thi ảnh hưởng đến độ biến động sản lượng. Kết quả
cho thấy rằng, dự báo về biến động sản lượng có đặc điểm tương tự với dự báo về
biến động đầu tư, nghĩa là cấu hình chính sách bộ ba bất khả thi và nguồn vốn nước
ngoài ảnh hưởng đến độ biến động sản lượng thông qua đầu tư. Cụ thể hơn, như
trong ước tính độ biến động sản lượng, độc lập tiền tệ lớn hơn giúp giảm độ biến
động đầu tư. Tuy nhiên, nếu mức độ dự trữ ngoại hối nắm giữ trên 15-23% GDP,
độc lập tiền tệ lớn hơn sẽ làm tăng độ biến động đầu tư do cung cấp quá nhiều thanh
khoản, và do đó làm cho chi phí vốn không ổn định. Trong khi một mức độ ổn định
tỷ giá hối đoái cao hơn có thể ổn định sự dao động tỷ giá hối đoái thực tế, nó cũng
có thể làm cho đầu tư biến động, mặc dù tác động tăng cường biến động của sự ổn
định tỷ giá hối đoái lên đầu tư có thể được xóa bỏ bằng cách nắm giữ lượng dự trữ
ngoại hối lớn hơn. Sự hội nhập tài chính lớn hơn có thể giúp làm giảm biến động tỷ
giá hối đoái thực. Những kết quả này chỉ ra rằng, những nhà hoạch định chính sách
trong một nền kinh tế hội nhập hơn sẽ thích theo đuổi tỷ giá hối đoái ổn định hơn
trong khi đang nắm giữ một lượng dự trữ ngoại hối lớn, bởi vì sự kết hợp chính sách
này sẽ giúp họ đạt được sự ổn định trong cả đầu tư và tỷ giá hối đoái thực. Phát hiện
này có thể giúp giải thích lý do tại sao những nền kinh tế nhỏ và mở cửa ở Đông Á
đã nắm giữ lượng dự trữ ngoại hối lớn.
15
+ Thứ hai, nghiên cứu này đánh giá cấu hình chính sách bộ ba bất khả thi có
thể ảnh hưởng đến sản lượng của các nền kinh tế đang trải qua những trường hợp
nghiêm trọng như thế nào. Những "nền kinh tế khủng hoảng" có thể chấm dứt tình
trạng khủng hoảng với tổn thất sản lượng nhỏ hơn nếu họ rơi vào cuộc khủng hoảng
với tỷ giá hối đoái ổn định hơn. Hơn nữa, quốc gia khủng hoảng duy trì một mức độ
sự phân kỳ của chính sách với mức độ biến động sản lượng, những thị trường mới
nổi, với nhiều lựa chọn chính sách hội tụ hơn, có xu hướng có biến động sản lượng
nhỏ hơn trong hai thập kỷ qua. Trong một thế giới mà quá trình toàn cầu hóa về mặt
tài chính diễn ra nhanh chóng, tự do hóa tài chính có thể là một chính sách rủi ro đối
với những nền kinh tế đang phát triển, mà nó nâng cao tầm quan trọng của việc nắm
giữ một lượng lớn dự trữ ngoại hối. Các thị trường mới nổi có mức dự trữ ngoại hối
thấp có thể trải nghiệm mức độ biến động sản lượng cao hơn, khi họ chọn một sự
kết hợp chính sách với một mức độ phân kỳ lớn hơn; trong khi nó không đúng với
những nền kinh tế nắm giữ dự trữ ngoại hối lớn. Kết quả này có thể chỉ ra rằng, việc
nắm giữ một khối lượng dự trữ ngoại hối lớn có thể tạo cho những nền kinh tế mới
nổi nhiều điều kiện để kết hợp các chính sách hơn.
+ Điều khái quát này cũng đúng đối với các nền kinh tế mới nổi trong thời
gian xung quanh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-09. Trong giai
đoạn 2005-09, các nền kinh tế giữ mức độ dự trữ ngoại hối cao dường như không
phải đối mặt với mối tương quan dương giữa sự phân kỳ chính sách và biến động
sản lượng, trong khi mối tương quan này là khá rõ ràng đối với những nền kinh tế
không giữ mức độ dự trữ ngoại hối cao. Những kết quả này có thể cho thấy mức độ
dự trữ ngoại hối cao có thể là một trong những lý do giúp cho các nền kinh tế mới
nổi có thể tránh lây lan từ sự bùng nổ của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1.
Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp hàng tháng và hàng năm của lãi suất tiền gửi
(deposit rate), tỷ giá hối đoái bình quân, GDP, tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm
phát, độ mở thương mại của Việt Nam, lãi suất thị trường tiền tệ (money market
rate) của Mỹ được thu thập từ IMF và WB, và chỉ số độ mở tài chính (KAOPEN)
của Chinn và Ito (2007, 2013). Cụ thể như sau:
Sử dụng phương pháp tính chỉ số độc lập tiền tệ (MI) và ổn định tỷ giá (ERS)
của Aizenman, Chinn và Ito (2008) để đo lường mức độ độc lập tiền tệ và ổn định
tỷ giá của Việt Nam từ năm 1997 đến năm 2012.
-
Sử dụng đồ thị kim cương để nghiên cứu mối tương quan của ba hướng của
bộ ba bất khả thi với dự trữ ngoại hối trong giai đoạn 1997-2012.
-
Ước lượng mô hình hồi quy bội theo phương pháp OLS để kiểm định tác
động của các chỉ số bộ ba bất khả thi với tăng trưởng kinh tế và lạm phát trong mối
quan hệ với tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên GDP, sự tương tác giữa dự trữ ngoại hối trên
GDP và các chỉ số bộ ba bất khả thi, tốc độ tăng trưởng cung tiền và độ mở thương
mại ở Việt Nam từ năm 1997 đến năm 2012.
4. Nội dung và các kết quả nghiên cứu
4.1.
Đo lường mức độ độc lập tiền tệ
Theo phương pháp của Aizenman, Chinn và Ito (2008), chỉ số độc lập tiền tệ
(MI) được xác định bằng công thức sau:
MI 1
Trong đó:
corr (ii , i j ) (1)
1 (1)
2003
2004
0,8490 0,6147 0,9395 0,4372 0,7557 0,7163 0,1305 0,0233
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
0,0510 0,2639 0,0689 0,5635 0,8737 0,2818 0,8041 0,9042
Nguồn: Tính toán của tác giả
Hình 4.1: Chỉ số độc lập tiền tệ của Việt Nam từ năm 1997 đến năm 2012
Nguồn: Tính toán của tác giả
Kết quả trên cho thấy, mức độ độc lập tiền tệ của Việt Nam khá cao từ năm
1997 đến năm 2002, tuy nhiên, nó giảm mạnh trong khoảng thời gian từ 2003 đến