ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------
PHẠM VĂN HÙNG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ
NGUỒN TÀI NGUYÊN SỐ NỘI SINH TẠI
TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Hà Nội – 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------
PHẠM VĂN HÙNG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ
NGUỒN TÀI NGUYÊN SỐ NỘI SINH TẠI
TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
Chuyên ngành Khoa học Thư viện
Mã số: 60 32 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Viết Nghĩa
2.2.5. Công tác tuyên truyền, giới thiệu nguồn tài nguyên số nội sinhError! Bookmark not defi
Chương 3.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TỐI ƯU HOÁ CÔNG TÁC XÂY DỰNG
VÀ QUẢN LÝ NGUỒN TÀI NGUYÊN SỐ NỘI SINH TẠI TRUNG TÂMError! Bookmark
3.1. Đảm bảo tính pháp lý cho nguồn tài nguyên số nội sinhError! Bookmark not defined.
3.2. Đảm bảo nguồn nguyên liệu đầu vào........................ Error! Bookmark not defined.
3.3. Nâng cao chất lượng nguồn tài nguyên số nội sinh .. Error! Bookmark not defined.
3.3.1. Tối ưu hoá công tác số hoá tài liệu truyền thốngError! Bookmark not defined.
3.3.2. Hoàn thiện công tác biên mục.......................... Error! Bookmark not defined.
3.3.3. Tối ưu hoá quá trình trao đổi và lưu dữ liệu giữa các bộ phậnError! Bookmark not define
3.4. Tổ chức lại các bố sưu tập số .................................... Error! Bookmark not defined.
3.5. Hoàn thiện hệ thống phần mềm ................................ Error! Bookmark not defined.
3.6. Một số giải pháp khác ............................................... Error! Bookmark not defined.
3.6.1. Tăng cường chia sẻ nguồn tài nguyên số nội sinhError! Bookmark not defined.
3.6.2. Đảm bảo an toàn cho dữ liệu số ....................... Error! Bookmark not defined.
3.6.3. Xây dựng cơ chế truy cập phù hợp .................. Error! Bookmark not defined.
3.6.4. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giới thiệu nguồn tài nguyên số nội sinhError! Bookmark
3.6.5. Phát triển đội ngũ cán bộ ................................. Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN…………………...………………………………….......................117
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………….……….…....118
PHỤ LỤC…………………………………………………………………………...……121
2
Nhân loại đang bước vào kỷ nguyên mới – “kỷ nguyên thông tin”, trong đó
thông tin là nhân tố quyết định mọi hoạt động kinh tế xã hội của con người. Vì thế
xây dựng cơ sở dữ liệu,... Tuy nhiên, các công trình trên mới chỉ dừng lại ở mức
khái quát hoặc nghiên cứu từng khía cạnh của vấn đề hoặc không còn phù hợp với
hoàn cảnh hiện tại. Thấy được tầm quan trọng của vấn đề xây dựng và quản lý
nguồn tài nguyên số nội sinh và sự thiếu vắng các nghiên cứu có tính hệ thống về
vấn đề này, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Nghiên cứu xây dựng và quản lý
nguồn tài nguyên số nội sinh tại Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc
gia” làm đề tài cho luận văn của mình.
Mục đích nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu xây dựng và quản lý nguồn
tài nguyên số nội sinh tại Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia”
là nhằm hoàn thiện các quy trình xây dựng và quản lý nguồn tài nguyên số nội sinh
tại Trung tâm bao gồm:
- Quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu
- Quy trình quản lý, tổ chức khai thác nguồn tài nguyên số nội sinh
Bên cạnh đó, tác giả cũng hy vọng những kinh nghiệm này có thể áp dụng cho
các đơn vị khác trong hệ thống, đồng thời góp phần hoàn thiện về mặt lý luận cho
công tác phát triển nguồn tài nguyên số trong các cơ quan thông tin – thư viện nói
chung.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
- Khảo sát toàn bộ quy trình số hoá tài liệu gồm (khung khổ pháp lý cho công
tác số hoá, thiết bị và phương pháp số hoá)
- Nghiên cứu quy trình xây dựng các cơ sở dữ liệu gồm (các phần mềm, các
chuẩn và những công cụ được sử dụng và quy trình kỹ thuật trong xây dựng cơ sở
dữ liệu)
- Nghiên cứu công tác tổ chức khai thác nguồn tài nguyên số gồm (các hình thức
cung cấp thông tin, cơ chế quản lý người dùng tin và hiệu quả khai thác nguồn tài
nguyên số)
- Phân tích những thế mạnh, khả năng, thuận lợi, khó khăn và những hạn chế
trong từng quy trình.
Cấu trúc của luận văn gồm: Phần mở đầu, phần nội dung và kết luận, trong
đó phần nội dung gồm có 3 chương:
Chương 1 giới thiệu khái quát về Trung tâm Thông tin Khoa học và Công
nghệ Quốc gia; trình bày vị trí, vai trò của nguồn tài nguyên số nội sinh đối với sự
phát triển của Trung tâm đồng thời đưa ra khái niệm tài nguyên số nội sinh và các
khái niệm liên quan.
5
Chương 2 tập trung tìm hiểu và đánh giá toàn bộ quy trình phát triển nguồn tài
nguyên số nội sinh tại Trung tâm bao gồm: Quy trình số hoá tài liệu, xây dựng các
cơ sở dữ liệu, lưu giữ tài liệu số và tổ chức khai thác, quảng bá nguồn tài nguyên số
nội sinh tại Trung tâm
Chương 3 đề xuất một số giải pháp tối ưu hoá công tác xây dựng và quản lý
nguồn tài nguyên số nội sinh tại Trung tâm như giải pháp cho vấn đề bản quyền
trong công tác số hoá tài liệu; vấn đề đảm bảo nguồn nguyên liệu phục vụ số hoá;
công tác tổ chức, lưu giữ và phổ biến nguồn tài nguyên số nội sinh…
6
Chương 1. VAI TRÒ CỦA NGUỒN TÀI NGUYÊN SỐ NỘI SINH
ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
1.1. Giới thiệu chung về Trung tâm Thông tin Khoa học và
Công nghệ Quốc gia
Lịch sử phát triển
Trung tâm TTKH&CNQG trực thuộc Bộ KH&CN được thành lập ngày 24
tháng 9 năm 1990 theo Quyết định số 487/TCCB của Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học
nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, giáo dục, đào tạo, sản xuất, kinh doanh;
Xuất bản “Sách KH&CN Việt Nam”; Tạp chí “Thông tin và Tư liệu”, ấn
phẩm thông tin; công bố danh mục các nhiệm vụ KH&CN trong nước đang tiến
hành và kết quả thực hiện các nhiệm vụ KH&CN nói trên;
Phát triển Mạng thông tin KH&CN Việt Nam (VISTA), Chợ ảo Công nghệ
và Thiết bị Việt Nam;
Tổ chức và thực hiện công tác thông tin tuyên truyền KH&CN, đưa tri thức
khoa học đến với mọi người, đặc biệt là thông tin KH&CN phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội nông thôn, miền núi, phục vụ các doanh nghiệp nhỏ và vừa;
Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, áp dụng các chuẩn trong lĩnh
vực thông tin, thư viện KH&CN;
Phối hợp tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ thông tin
KH&CN;
Phối hợp thực hiện các nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thông tin
KH&CN;
Được thực hiện các dịch vụ trong lĩnh vực thông tin KH&CN theo quy định
của pháp luật;
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ KH&CN giao.
Cơ cấu tổ chức
Theo Điều lệ, cơ cấu tổ chức của Trung tâm có Ban Giám đốc và 15 đơn vị
trực thuộc:
1.
Phòng Phát triển hoạt động thông tin KH&CN
2.
Phòng Phát triển nguồn tin
10. Phòng Tin học
11. Phòng Hợp tác quốc tế
12. Phòng Thông tin tuyên truyền KH&CN
13. Phòng In – sao
14. Trung tâm Infoterra Việt Nam
15. Văn phòng
Nguồn nhân lực:
Tổng số
165
100%
Trình độ đại học và trên đại học
120
72,72%
Tiến sỹ
7
4,24%
Thạc sỹ
22
1987; Book (Sách tại Thư viện Khoa học Kỹ thuật Trung ương); KQNC (Báo cáo
kết quả nghiên cứu khoa học),…
- Các CSDL KH&CN thế giới:
Trên 10 CSDL, trong đó có các CSDL nổi tiếng như IEEE/IEE Fulltext (Thư
viện điện tử về CNTT, điện và điện tử) Chemical Abstracts (Tạp chí tóm tắt về hoá
học); PASCAL (CSDL đa ngành về KH&CN), đặc biệt là các CSDL trực tuyến như
ScienceDirect, EBSCO, WEB OF SCIENCE, EBRARY,…
- Mạng Vista
Mạng Thông tin KH&CN Việt Nam (Vietnam Information for Science and
Technology Advance) bao gồm nhiều dịch vụ về KH&CN như:
+ Các dịch vụ thư viện thông qua Web site Thư viện Khoa học và Kỹ thuật
Trung ương (www.clst.ac.vn)
+ Khai thác thông tin KH&CN trên các CSDL thư mục và toàn văn của Trung
tâm TTKH&CNQG
+ Khai thác các thông tin trong chợ ảo về công nghệ và thiết bị Việt Nam
thông qua web site www.techmartvietnam.com.vn
+ Cung cấp các dịch vụ Internet (World Wide Web, Truyền tệp, Thư điện tử,
Dịch vụ Web hosting...)
+ Quảng cáo trên mạng VISTA
- Chợ Công nghệ và Thiết bị Việt Nam trên mạng (Techmart ảo)
Chợ công nghệ ảo có chức năng giới thiệu công nghệ, thiết bị cần mua và chào
bán trong và ngoài nước đồng thời là sàn giao dịch về công nghệ, thiết bị và tư vấn
KH&CN.
- Xuất bản phẩm
Hiện Trung tâm có hàng chục xuất bản phẩm dạng in như Sách KH&CN Việt
Nam; Tạp chí Thông tin & Tư liệu; Tổng luận Khoa học - Công nghệ - Kinh tế và
hàng chục bản tin điện tử như Nông thôn đổi mới; Khoa học công nghệ và môi
trường; Vietnam infoterra newsletter,…
- Các chương trình phim KHCN
KH&CN trong mạng lưới. Đặc biệt, nội dung đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ được
chú trọng hướng vào các vấn đề ứng dụng CNTT và các tiêu chuẩn quốc tế vào hoạt
động TT-TV.
Hợp tác quốc tế
Trung tâm TTKH&CNQG trao đổi thông tin, tài liệu với hơn 50 tổ chức của
35 nước trên thế giới; hợp tác song phương, đa phương với các thư viện và các
trung tâm thông tin của hơn 70 nước trên thế giới.
- Trung tâm TTKH&CNQG là thành viên của
11
+ UNESCO/IFA, Chương trình Thông tin cho mọi người (Trụ sở tại Paris,
Pháp)
+ IFLA - Hiệp hội Thư viện Quốc tế (Trụ sở tại Hague, Hà Lan)
+ ICSTI - Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc tế
- Trung tâm TTKH&CNQG là đầu mối quốc gia của:
+ INFOTERRA- Mạng Thông tin Môi trường Toàn cầu
+ APIN - Mạng Thông tin châu Á - Thái Bình Dương (Trụ sở tại New Delhi,
ấn Độ)
+ Trung tâm ISSN Quốc tế (Trụ sở tại Pari, Pháp)
+ Mạng thông tin khoa học công nghệ ASEAN
+ Mạng Nghiên cứu và đào tạo Á-Âu (TEIN2, TEIN3)
Quá trình ứng dụng công nghệ thông tin và những thành tựu đạt được
Trung tâm TTKH&CNQG là một trong những đơn vị đi tiên phong và đạt
được nhiều thành quả trong việc ứng dụng CNTT. Từ những năm 80 của thế kỷ XX
Trung tâm đã triển khai nghiên cứu áp dụng CNTT vào hoạt động. Quá trình này
được chia thành những giai đoạn sau:
nhuận, chính thức khai trương trên toàn quốc ngày 27/3/2008, do Trung tâm phát
triển và quản lý. Mục tiêu của VINAREN là xây dựng và phát triển Mạng nghiên
cứu và đào tạo Việt nam kết nối với các mạng nghiên cứu và đào tạo của các nước
trong khu vực và trên thế giới nhằm nâng cao hiệu quả, thúc đẩy hợp tác và hội
nhập quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo thông qua TEIN2, TEIN3 với tốc
độ từ 45 đến 155 Mbps. Thành viên VINAREN bao gồm các viện nghiên cứu,
trường đại học, bệnh viện và trung tâm thông tin hàng đầu trong nước. VINAREN
kết nối các nhà nghiên cứu và đào tạo Việt Nam với cộng đồng 30 triệu nhà khoa
học ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, châu Âu và các khu vực khác.
Sau một năm hoạt động, đến năm 2008 quy mô của VINAREN đã vươn tới
hơn 50 trung tâm nghiên cứu và đào tạo quan trọng của đất nước thuộc 11 tỉnh,
thành phố. Năm 2008 cũng là năm thử nghiệm việc truy cập, khai thác các nguồn
tin số hoá, trực tuyến trong nước và quốc tế giữa các thành viên của VINAREN ở cả
trong và ngoài nước. Lần đầu tiên các CSDL KH&CN trong nước do Trung tâm
Thông tin KH&CN Quốc gia xây dựng được đưa lên mạng VINAREN để truy cập
và khai thác theo chế độ mạng.
Tóm lại, có thể thấy quá trình ứng dụng CNTT tại Trung tâm TTKH&CNQG
đã diễn ra rất sớm, nhanh chóng và hiệu quả. Tuy nhiên, các giai đoạn phát triển
phụ thuộc vào sự phát triển chung trong lĩnh vực CNTT. Để có được những thành
quả trên là nhờ có sự quan tâm ngày càng tăng của Nhà nước đến lĩnh vực TT-TV.
Bên cạnh đó cũng phải kể đến những nỗ lực không mệt mỏi của các thế hệ cán bộ
của Trung tâm trong việc thúc đẩy phát triển ứng dụng CNTT vào hoạt động. Với
những điều kiện về công nghệ hiện nay, trong một thời gian không xa nữa Trung
14
tâm TTKH&CNQG có thể trở thành một Trung tâm thông tin/TVS tầm cỡ quốc tế.
Để nắm bắt những cơ hội này, đòi hỏi phải có những nghiên cứu mang tính toàn
diện và tuân theo xu hướng chung của thế giới, đó là tập trung nghiên cứu phát triển
+ Triển khai dịch vụ thông tin cảnh báo cạnh tranh và cảnh báo chiến lược
nhằm hỗ trợ phát triển các ngành hàng chủ lực của Việt Nam.
+ Triển khai các dịch vụ tra cứu - chỉ dẫn thông tin theo yêu cầu của các doanh
nghiệp.
+ Hình thành và phát triển Mạng thông tin KHCN phục vụ các doanh nghiệp.
- Hiện đại hoá và nâng cao chất lượng hoạt động của Thư viện Trung ương của
cả nước về KHCN với các nội dung:
+ Tổ chức và triển khai Dịch vụ cung cấp tài liệu theo yêu cầu
+ Phát triển liên kết bổ sung và chia sẻ nguồn tin KHCN (Vietnam Consortium
on STI Resources).
- Hoàn thiện và phát triển Mạng thông tin KHCN Việt Nam - Trung tâm liên kết
mạng lưới các tổ chức dịch vụ thông tin KHCN theo hướng:
+ Hoàn thiện và nâng cấp hệ thống phần mềm theo hướng một Cổng thông tin
tổng hợp về KHCN của Việt Nam.
+ Phát triển các nội dung số hoá theo hướng chuyên nghiệp và hiện đại.
+ Thường xuyên nâng cấp năng lực truy cập, lưu giữ, xử lý, an ninh và phổ
biến thông tin trên mạng.
- Triển khai Trung tâm đăng ký, lưu giữ và phổ biến các kết quả nhiệm vụ KHCN
trong đó tập trung vào việc:
+ Xây dựng và vận hành CSDL toàn văn về các đề tài, dự án.
+ Tổ chức phổ biến, cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ về các đề tài, dự án
KHCN đang tiến hành và thông tin về kết quả các nhiệm vụ KHCN đã hoàn thành.
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu và phân tích thông tin phục vụ lãnh đạo, quản lý
với các nội dung:
+ Thực hiện tốt nhiệm vụ đầu mối cung cấp thông tin phân tích cho các cơ
quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước.
+ Thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp nội dung về KHCN trên Website của
Chính phủ.
- Xây dựng Thư viện điện tử quốc gia về KHCN trong đó tập trung vào việc xây
1.3.1. Một số khái niệm
Để tìm hiểu khái niệm nguồn TNSNS, cần có cách hiểu đúng đắn về TNS,
TLS và BSTS. Trong đó cần phân biệt rõ khái niệm TLS và TNS.
Tài nguyên số
Hiện tại vẫn chưa có khái niệm rõ ràng về TNS. Tuy nhiên, TNS được hiểu
là toàn bộ thông tin do con người tạo ra dưới hình thức số hoá nhằm mục đích phục
17
vụ cho những lợi ích của con người. Nguồn TNS có thể tồn tại dưới nhiều dạng
khác nhau (dạng văn bản, dạng hình ảnh và âm thanh hoặc kết hợp hai hay ba dạng
trên). Nguồn TNS cũng có thể tồn tại dưới dạng thư mục hay dạng toàn văn.
Tài liệu số
Theo từ điển giải nghĩa của Mindwrap, “Tài liệu số” là những tài liệu được
lưu giữ bằng máy tính. TLS có thể được tạo lập bởi máy tính như việc xử lý các file
văn bản, các bảng biểu hoặc chúng có thể được chuyển đổi sang dạng số từ những
tài liệu dạng khác. TLS cũng được đề cập đến như là tài liệu điện tử.
Từ định nghĩa trên cho thấy, TLS được xây dựng thông qua hai kênh:
- Kênh 1: Tạo lập tài liệu gốc bằng máy tính thông qua việc xử lý các file văn bản,
hình ảnh, bảng biểu,…
- Kênh 2: Tạo lập TLS thông qua hình thức chuyển đổi định dạng các tài liệu đã
được tạo lập ở dạng khác như (Scan, ghi âm,…)
Tóm lại có thể hiểu TLS là tất cả những tài liệu được trình bày dưới dạng số
mà máy tính có thể đọc được.
Phân biệt giữa tài nguyên số và tài liệu số
Hiện nay, vẫn chưa có sự lý giải xác đáng nào về sự phân biệt hai khái niệm
trên. Tuy nhiên có thể khẳng định rằng:
+ TLS thuộc về nguồn TNS
+ Một số dạng của TNS không phải là TLS
nhau, có thể do tập thể hoặc cá nhân tự xây dựng hoặc trao đổi, mua bán. Các BSTS
có thể được lưu giữ tại thư viện nhưng cũng có thể nằm ngoài thư viện thông qua
một kênh cung cấp từ phía đối tác (ví dụ: CSDL toàn văn mua quyền truy cập theo
thời gian như Science direct, Ebrary,…).
Phân biệt giữa BSTS và CSDL
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về BSTS, có những quan niệm cho
rằng, CSDL cũng chính là BSTS. Điều này theo chúng tôi là chưa chính xác bởi lẽ:
Theo khái niệm về tài liệu và TLS thì một biểu ghi thư mục không phải là
TLS. Trong khi đó, BSTS được định nghĩa là “một tập hợp có tổ chức nhiều tài liệu
đã được số hoá…”. Như vậy, một CSDL thư mục không thể gọi là BSTS.
Nguồn tài nguyên số nội sinh
Như trên đã trình bày, nguồn TNS có thể bao gồm nhiều BSTS/CSDL khác
nhau, trong đó có những BSTS/CSDL do chính cơ quan, tổ chức tự thiết kế xây
dựng và những bộ sưu tập được mua hoặc trao đổi từ bên ngoài. Như vậy, chúng ta
19
có thể coi nguồn TNSNS là nguồn tài nguyên do cơ quan/tổ chức, tự xây dựng dưới
dạng bộ sưu tập.
Nguồn TNSNS gồm một số đặc trưng sau:
+ Do cơ quan/đơn vị tạo ra hoặc tự thu thập, xử lý và xây dựng
+ Phải được xử lý bởi cơ quan/đơn vị sở hữu
+ Có thể được sản sinh ra trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức (các
báo cáo, thống kê, bản tin hoạt động,…)
+ Lưu giữ cục bộ trên máy tính, server riêng
+ Có thể bao gồm những tài liệu từ bên ngoài được xử lý và tổ chức lại theo
một cơ chế thống nhất.
+ Có thể truy cập từ xa thông qua mạng máy tính
Thí dụ, nguồn TNSNS tại Trung tâm TTKH&CNQG là toàn bộ những sản
học kỹ thuật, báo cáo các đề tài đang tiến hành, kết quả nghiên cứu,…. Do vậy, việc
tạo lập các điểm truy cập tới kho dữ liệu quý này thông qua nguồn TNSNS có ý
nghĩa quyết định hiệu quả khai thác kho dữ liệu truyền thống.
- Nguồn TNSNS giúp đẩy nhanh quá trình hiện đại hoá Thư viện Trung ương
Theo số liệu thống kê của Trung tâm năm 2007 và 2008 cho thấy, lượng bạn
đọc đến khai thác tài liệu dạng truyền thống tại Tung tâm ngày càng giảm đi. Nếu
như năm 2007, Trung tâm phục vụ 70.725 lượt bạn đọc thì năm 2008 con số này
giảm xuống còn 67.824 lượt, thay vào đó, số lượng NDT truy cập vào các CSDL
của Trung tâm để khai thác dữ liệu ngày càng tăng lên. Chỉ tính riêng dịch vụ “Bạn
đọc đặc biệt” trong 6 tháng đầu năm 2009 đã thu hút 28.998 lượt người truy cập với
khối lượng bài toàn văn được download lên tới 28.074 bài. Điều đó cho thấy, trong
bối cảnh hiện nay, hình thức phục vụ tài liệu dạng truyền thống đã và đang nhường
chỗ cho phương thức cung cấp tài liệu trực tuyến. Do vậy, để đẩy nhanh quá trình
hiện đại hoá và nâng cao chất lượng hoạt động của Thư viện Trung ương, Trung
tâm cần xây dựng được các BSTS đủ mạnh về khối lượng và chất lượng – đó chính
là nguồn TNSNS.
- Phát triển nguồn TNSNS giúp Trung tâm thực hiện và hoàn thành các chức
năng, nhiệm vụ, định hướng và mục tiêu đã đề ra..
+ Trong việc xây dựng CSDL đa phương tiện "Hồ sơ công nghệ" phục vụ cho
việc xúc tiến và phát triển thị trường công nghệ, nguồn TNSNS là nhân tố quyết
định toàn bộ CSDL này. Nguồn TNSNS càng lớn, chất lượng càng cao, Trung tâm
càng thu hút được nhiều NDT đặc biệt là các nhà doanh nghiệp và nhà khoa học.
21
+ Tăng cường cung cấp thông tin phục vụ phát triển nông thôn miền núi là
nhiệm vụ mang tính chiến lược của Trung tâm. Xuất phát từ nhu cầu sử dụng thông
tin ngày càng cao và mở rộng tới các vùng nông thôn, Trung tâm đã có nhiều dự án
triển khai cung cấp thông tin tới các vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, nhu cầu thông
- Hệ thống máy tính với khoảng 150 máy (đại đa số từ Pentium IV trở lên) và gần
20 máy chủ tốc độ cao, dung lượng lớn là cơ sở cho phép Trung tâm tiến hành xử
lý, lưu giữ và phục vụ một khối lượng TNSNS lớn mà ít đơn vị có khả năng thực
hiện được.
- Máy scanner Kirtas tốc độ 1200 trang/giờ, và hơn 10 máy scanner tốc độ cao
cùng với các thiết bị ghi đĩa CD, VCD cho phép Trung tâm số hoá tài liệu với khối
lượng lớn (hàng triệu trang tài liệu và hàng trăm bộ phim KHCN / năm).
- Hệ thống phần mềm đa dạng, linh hoạt (Zope, Libol, Win ISIS, SQL Server,
Oracle portal,...) là cơ sở quan trọng cho phép Trung tâm tiến hành quản lý và khai
thác nguồn TNSNS hiện có và trong tương lai.
- Mạng VINAREN với tốc độ từ 40 đến 155 Mps là điều kiện thuận lợi để Trung
tâm triển khai phục vụ trực tuyến nguồn TNSNS trên phạm vi rộng (trong nước và
quốc tế).
- Ngoài ra, nguồn kinh phí khoảng 50 tỷ đồng của Nhà Nước mỗi năm là tiền đề
quan trọng để phát triển Trung tâm nói chung và phát triển nguồn TNSNS nói riêng.
Những điều kiện trên đây cho phép Trung tâm phát triển nguồn TNSNS với
tốc độ nhanh, khối lượng lớn và chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu khai thác
TNS ngày một cao.
23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1.
Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Số 33/2005/QH11
ngày 14 tháng 6 năm 2005, Website: Cục Sở hữu trí tuệ, URL:
, Cập nhật 10/6/2009
Luật Sở hữu trí tuệ (2005), Website: Cục Sở hữu trí tuệ, URL:
, Cập nhật 25/6/2009
8.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, Website: Cục Sở hữu trí
tuệ, URL: , Cập nhật 12/6/2009
9.
Nghị định 100/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan,
Website: Bộ Thông tin và Truyền thông, URL: , Cập nhật
21/6/2009
10.
Nghị quyết số 49/CP về phát triển công nghệ thông tin ở nước ta trong những năm
90, Website: Bộ Giáo dục và đào tạo, URL:
, Cập nhật 15/6/2009
11.
Ngô Thanh Nhàn (2007), Vấn đề số hoá kho tư liệu hán – nôm theo chuẩn
Dublincore tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Website: Đại học Temple, URL:
, Cập nhật 9/6/2009
12.
Nguyễn Hữu Hùng (2003), Phát triển đào tạo cán bộ thông tin thư viện ở Việt Nam,