Hoạt động thực hiện chính sách tạo dựng việc làm cho người khuyết tật trong độ tuổi lao động (nghiên cứu trường hợp xã liên châu thanh oai hà nội) - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------------------NGUYỄN THỊ CÚC

HOẠT ĐỘNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TẠO DỰNG VIỆC LÀM
CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TRONG ĐỘ TUỔI LAO
ĐỘNG TẠI NÔNG THÔN

(Nghiên cứu trường hợp xã Liên Châu – Huyện Thanh Oai - Hà Nội)
Chuyện ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hà

HÀ NỘI – 2016


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... Error! Bookmark not defined.

1. L{ do chọn đề tài .................................................................................... 4
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu .................................................................. 7
3. Ý nghĩa của nghiên cứu. ......................................................................... 14
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu............................................................. 14
5. Đối tượng, khách thể nghiên cứu. ......................................................... 15
6. Phạm vi nghiên cứu: ............................................................................ 15
7. Câu hỏi nghiên cứu ................................................................................. 16
9 Phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 17
9.1. Phương pháp luận chung .................................................................... 17

defined.

Bookmark

not

2.3.5. Kết quả đạt được của hoạt động dạy nghề mayError! Bookmark
not defined.
2.3.6. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình giảng dạy ......Error!
Bookmark not defined.
2.4 Hoạt động dạy nghề thêu tranh truyền thống.Error! Bookmark not
defined.
2.4.1 Mục đích của hoạt động dạy nghề thêu tranh truyền thống .Error!
Bookmark not defined.
2.4.2. Đối tượng dạy nghề thêu .............. Error! Bookmark not defined.
2.4.3. Đối tượng học nghề thêu .............. Error! Bookmark not defined.
2.4.4. Nội dung giảng dạy ....................... Error! Bookmark not defined.
2.4.5. Phương pháp giảng dạy ................ Error! Bookmark not defined.


2.4.6. Hiệu quả của hoạt động dạy nghề thêuError!
defined.

Bookmark

not

2.4.7. Thuận lợi và khó khăn của xưởng dạy thêuError! Bookmark not
defined.
Tiểu kết chương 2....................................... Error! Bookmark not defined.

3.2.2. Mục đích tạo việc làm cho NKT vận động của HTX mây tre đan
................................................................. Error! Bookmark not defined.
3.2.3. Mức độ phù hợp công việc với NKT vận độngError!
not defined.

Bookmark


3.2.4. Mức độ hài lòng về môi trường làm việc và thời gian làm việc của
người khuyết tật tại HTX mây tre đan. ... Error! Bookmark not defined.
3.2.5. Đánh giá kết quả thực hiện chính sách tạo dựng việc làm cho
người khuyết tật vận động trong độ tuổi lao động xã Liên Châu-Thanh
Oai.............................................................. Error! Bookmark not defined.
Tiểu kết chương 3:................................... Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ .............................. Error! Bookmark not defined.
1. Kết luận ................................................. Error! Bookmark not defined.
2. Khuyến nghị: ......................................... Error! Bookmark not defined.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................... ….. 50
PHỤ LỤC BIỂU THU THẬP THÔNG TIN ........... Error! Bookmark not defined.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tạo dựng việc làm cho người khuyết tật ở nông thôn đang là vấn đề cấp
thiết cần giải quyết, là mục tiêu chiến lược trong phát triển kinh tế- xã hội của đất
nước. Hiện nay, số người khuyết tật ở nước ta chiếm khoảng 6% dân số trong đó
có 60% số NKT đang trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động nhất
định.Rất nhiều người khuyết tật có một phần khiếm khuyết trên cơ thể, họ vẫn
có thể làm các công việc phù hợp để nuôi sống bản thân và mang lại nhiều giá trị
cho xã hội[31]. Vì vậy, học nghề và làm việc là quyền hết sức chính đáng của NKT.
Nhằm hỗ trợ NKT phát huy khả năng của mình để đáp ứng những nhu cầu của

tuệ 10 người, khuyết tật về thị lực là 12 người…hiện nhóm người khuyết tật vận


động nơi đây cùng chung sống với gia đình và phần lớn những gia đình có người
thân bị khuyết tật đều là những gia đình kinh tế trung bình hoặc nghèo, gặp
nhiều khó khăn. Cùng với toàn huyện đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa,
phấn đấu đạt vùng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, thì vấn đề giáo dục, đào
tạo nghề cũng như tạo việc làm cho NKT vận động nơi đây đang là vấn đề được
đặt lên hàng đầu trong mục tiêu phát triển kinh tế địa phương.[33]
Dạy nghề và tạo dựng việc làm cho NKT cũng là mối quan tâm của toàn xã
hội, là sự cấp thiết mong muốn của những người khuyết tật. Yêu cầu đặt ra là
NKT vận động họ có nhu cầu, mong muốn gì về học nghề,việc làm. Các hoạt
động dạy nghề và tạo việc làm trên địa bàn xã Liên Châu đang diễn ra như thế
nào, kết quả ra sao và cần làm gì để các hoạt động đó thực sự đem lại hiệu quả
cho NKT nơi đây. Chính vì sự cấp thiết của vấn đề này, tôi chọn lựa và nghiên cứu
đề tài: “Hoạt động thực hiện chính sách tạo dựng việc làm cho người khuyết tật
vận động trong độ tuổi lao động tại nông thôn” để thực hiện bài luận văn tốt
nghiệp của mình.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chính sách hỗ trợ học nghề và việc làm cho người khuyết tật nông thôn
trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá luôn là đề tài được nhiều nhà nghiên
cứu, nhà hoạch định chính sách quan tâm. Bởi đây là vấn đề mang tính xã hội,
ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển kinh tế-xã hội, cũng là một trong những
nhiệm vụ quan trọng trong thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo của mỗi Quốc
gia. Mỗi ngành nghề lại có những nghiên cứu với chủ đề, hướng tiếp cận và
phương pháp khác nhau. Song mục tiêu của các nghiên cứu này đều hướng đến
nâng cao khả năng tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, hỗ trợ từ cộng


đồng với người khuyết tật nhằm đảm bảo sự công bằng với nhóm đối tượng yếu

hoạt động được 3 năm, đã hoàn thành 2 trong 4 giai đoạn phối hợp với HCTĐ tại
địa bàn can thiệp như các huyện của tỉnh Hưng yên… dự án nêu lên được những
hiệu quả rõ rệt trong tạo dựng việc làm cho NKT ở những địa bàn thí điểm triển
khai dự án. NKT ở những vùng triển khai dự án trên được học nghề và có công
việc ổn định, tạo sự chuyển biến nhận thức của xã hội, gia đình và bản thân NKT,
đồng thời giúp NKT hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của bản thân. Bên cạnh sự tác
động tạo cơ hội về việc làm, thu nhập cho người khuyết tật, dự án cũng góp phần
quan trọng trong việc nâng cao năng lực cho cán bộ Hội Chữ thập đỏ các cấp
trong vùng triển khai dự án. [2]
Báo cáo khảo sát về việc làm và đào tạo nghề cho người khuyết tật ở
Việt Nam của Tổ chức lao động quốc tế ở Việt Nam xuất bản ấn phẩm (2010),
báo cáo chỉ ra rằng: “Người khuyết tật, đặc biệt là phụ nữ khuyết tật tại Việt
Nam có rất ít cơ hội được đào tạo nghề có chất lượng. Phần lớn các trung tâm
dạy nghề đều ở khu vực thành thị và thường không có nhiều trung tâm giành cho
NKT. Hầu hết các khóa đào tạo cho người khuyết tật đều được tổ chức tại các
trung tâm cứu trợ việc làm cho NKT, với các lớp học riêng hoặc thông qua các
doanh nghiệp của người khuyết tật. Báo cáo đã phân tích được thực trạng về
những hạn chế, khó khăn của NKT trong học nghề và tìm kiếm việc làm hiện
nay. Đồng thời báo cáo đã nêu ra các tổ chức xã hội đã có những hoạt động nhằm
dạy nghề và tạo việc làm cho NKT như Hội kinh doanh NKT Việt Nam và các
thành viên của Hội kinh doanh NKT Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong dạy
nghề, hàng năm đào tạo khoảng 3.000 NKT. Hội Người mù Việt Nam cũng là
một tác nhân quan trọng trong lĩnh vực dạy nghề, tuy nhiên chỉ trong một số rất


ít ngành và có những yêu cầu thấp, phù hợp với khả năng cũng như trình độ của
NKT. Báo cáo chỉ ra được những khó khăn, thách thức cho Nhà nước khi giải
quyết vấn đề việc làm với NKT hiện nay, nêu ra những hướng khắc phục mới
nhằm mục đích nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho NKT. Báo cáo mới chỉ đưa
ra được thực trạng chung về vấn đề hoc nghề và việc làm cho NKT trên cả nước

lao động nhàn rỗi và thất nghiệp ngày một tăng, trước thực trạng này tác giả chú
trọng đến các hoạt động khôi phục lại các làng nghề như đầu tư nguồn vốn phát
triển sản xuất nghề, tìm đầu ra cho sản phẩm làng nghề, có kế hoạch, chương
trình giới thiệu sảm phẩm các làng nghề ra thị trường, dạy nghề cho lao động trẻ,
khuyến khích người dân làng nghề bào tồn nghề truyền thống thông qua hỗ trợ.
Nghiên cứu cũng đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm khôi phục các làng
nghề đang có nguy cơ bị mất đi,tạo việc làm cho lao động thất nghiệp từ nghề
truyền thống. Nghiên cứu của tác giả đã có những điểm mới, hướng nghiên cứu
mới là chính là việc áp dụng những nghành nghề truyền thống ngay tại địa bàn
nghiên cứu để tạo việc làm cho lao động nông thôn, vừa giải quyết được vấn đề
việc làm, vừa bảo tồn và phát huy được nghề truyền thống, lưu giữu được nét
văn hóa dân tộc, đây sẽ là một hướng đi rất hiệu quả và thiết thực trong hoạt
động tạo dựng việc làm cho người khuyết tật gắn với môi trường kinh tế tại địa
phương, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế bền vững của địa phương*16].
PGS.TS Nguyễn Thị Hà (2014),Giáo trình công tác xã hội với người khuyết tật,
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.


Giáo trình đã khái quát những vấn đề cơ bản về NKT, các chính sách trợ giúp xã
hội với NKT và các loai hình chăm sóc trợ giúp NKT trong nước và Quốc tế. Giáo
trình cũng đã nêu rõ vai trò cụ thể của NV CTXH với NKT trong từng trường hợp
và mô hình can thiệp, trợ giúp đối tượng NKT và gia đình họ trong từng hoạt
động cụ thể. Giáo trình còn đề cập đến những kỹ năng, nguyên tắc cần thiết của
một NV CTXH khi làm việc với NKT thông qua những phương pháp cơ bản trong
CTXH khi làm việc với cá nhân, nhóm và gia đình. Giáo trình sẽ là sự định hướng
căn bản cho nghiên cứu liên quan đến vấn đề CTXH với NKT[11]
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Quễ khoa Luật “ Quyền làm việc và hòa nhập cộng
đồng của người khuyết tật Việt Nam” (2013) ở luận văn này, tác giả đã nêu ra được
những Quyền của NKT liên quan đến vấn đề việc làm, Nghiên cứu cũng đánh giá được
thực trạng về khả năng và cơ hội làm việc cũng như những vấn đề xã hội, chính sách


cũng

đã

phân

tích



làm



được

những

quy

định pháp luật hiện hành, tìm ra một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn
chế, bất cập trong chính sách pháp luật hiện nay về giải quyết việc làm cho
người khuyết tật. Trên cơ sở đó, góp phần hoàn thiện pháp luật về giải quyết
việc làm cho người khuyết tật; giúp người lao động khuyết tật có thể tiếp cận,
nắm bắt cơ hội việc làm. Tác giả luận văn cũng đã đề xuất một số giải pháp và
khuyến nghị hoàn thiện và nâng cao các hoạt động thực thi pháp luật, đảm bảo
quyền bình đẳng trong tiếp cận việc làm cho NKT, mong muốn mỗi người trong
xã hội, đặc biệt là các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp có cách nhìn tích cực hơn


tật vận động trên địa bàn nghiên cứu. Từ đó đưa ra khuyến nghị, giải pháp nhằm
nâng cao năng lực thực hiện các hoạt động tạo dựng việc làm cho người khuyết
tật trong độ tuổi lao động tại địa bàn nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu góp phần giúp cho Ban LĐ-TB&XH, cán bộ phụ
trách mảng chính sách lao động-việc làm, bảo trợ xã hội và các nhà chuyên
môn xây dựng, hoàn thiện các chương trình, hoạt động, chính sách thiết
thực nhất với nhóm NKT trong tuổi lao động có việc làm và ổn định cuộc
sống, gạt bỏ được mặc cảm bản thân, tự tin vươn lên trong cuộc sống.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu thực trạng các hoạt động dạy nghề và tạo
việc làm cho người khuyết tật vận động trong tuổi lao động tại xã Liên Châuhuyện Thanh Oai. Những kết quả đạt được, ưu điểm và hạn chế, nguyên nhân
của thực trạng này. Đánh giá được mức độ hài lòng của NKT vận động được học
nghề và tạo việc làm từ đó phát huy được vai trò của NV CTXH trong việc nâng
cao hiệu quả các hoạt động tạo dụng việc làm cho người khuyết tật xã Liên Châu
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
L{ luận chung về những khái niệm liên quan đến dạy nghề, tạo dựng việc
làm cho NKT, các l{ thuyết ứng dụng. Phân tích đặc điểm NKT vận động tại xã
Liên Châu nhằm làm sáng tỏ mức độ khuyết tật, điều kiện kinh tế, hoàn cảnh gia
đình và nhu cầu học nghề, việc làm của NKT
Nghiên cứu, phân tích các hoạt động dạy nghề cho NKT vận động thông qua
việc xác định đối tượng tham gia học nghề cũng như các hoạt động cụ thể qua


việc dạy nghề may và nghề thêu tranh đang được triển khai địa phương. Phát huy
được vai trò của NV CTXH trong các hoạt động hỗ trợ dạy nghề đạt hiệu quả.
Nghiên cứu, đánh giá các hoạt động tạo việc làm cho NKT vận động đã được
học nghề tại địa phương thông qua các hoạt động cho doanh nghiệp phối kết hợp
với địa phương trong đào tạo nghề và tạo việc làm cho NKT vận động vay vốn mở
rộng sản xuất, gửi người khuyết tật đã học nghề vào HTX mây tre đan làm việc .
Nâng cao vai trò của NV CTXH trong các hoạt động hỗ trợ tạo việc làm.

NKT vận động xã Liên Châu đa số nằm trong độ tuổi lao động trẻ, ở
dạng khuyết tật chân, tay do bẩm sinh và do bị tai nạn gây ra KT ở mức tật
nhẹ và trung bình, có khả năng và sức khỏe để lao động và học tập. Do điều
kiện kinh tế còn khó khăn nên đa số NKT vận động tại xã không được đi học,
trình độ văn hóa thấp, có nhu cầu mong muốn học nghề và làm việc
Xã Liên Châu thực hiện hai mô hình dạy nghề cho NKT vận động trong tuổi
lao động: Một là, lớp dạy nghề may tại xã do trung tâm dạy nghề giảng dạy. Hai
là, lớp dạy nghề thêu tranh truyền thống, do xã liên kết với doanh nghiệp sản
xuất nghề thủ công nhận NKT vận động tại xã vào học nghề . Hai mô hình này đã
được xã thực hiện hiệu quả, NKT sau khi học nghề có chứng chỉ nghề để xin việc
hay được nhận vào làm việc ngay tại cơ sở dạy nghề, một số người sau khi học
nghề đã có tìm được việc làm và có thu nhập ổn định. Tuy nhiên, nhận thức của


NKT vận động tham gia học nghề chưa đồng đều, trình độ văn hóa thấp nên cũng
ảnh hưởng đến hiệu quả dạy và học nghề.
Giáo viên dạy nghề, nghệ nhân truyền nghề, NKT tham gia học nghề và gia
đình NKT đều khá hài lòng với các hoạt động dạy nghề của chính quyền địa
phương. Đáp ứng được nhu cầu, mong muốn học nghề của NKT vận động.
Hoạt động tạo việc làm cho NKT vận động trong độ tuổi lao động tại xã Liên
Châu được thực hiện có hiệu quả tốt, thông qua kết quả sử dụng nguồn vốn vay
đã giupd doanh nghiệp mở rộng sản xuất và số lượng NKT vận động được doanh
nghiệp và HTX nhận vào làm việc. NKT làm việc tại các doanh nghiệp rất hài lòng
với công việc hiện tại của mình.Việc làm đã đem lại nguồn thu nhập vô cùng {
nghĩa cho NKT vận động nơi đây có thể tự lo cho bản thân và gia đình, giảm bớt
ghánh nặng cho gia đình và xã hội. Giúp NKT tự tin hòa nhập cộng đồng.
9. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp luận chung
Phương pháp luận là hệ thống các nguyên l{, quan điểm (trước hết là
những nguyên l{, quan điểm liên quan đến thế giới quan) làm cơ sở, có tác dụng

khuyết tật, các tài liệu nghiên cứu và phân tích trong đợt thực hành tại địa
phương. Phương pháp phân tích hệ thống cho phép đi sâu tìm hiểu những mặt
ưu điểm và hạn chế của các chính sách từ nội dung văn bản hướng dẫn đến quá
trình triển khai các hoạt động.


-

Phương pháp quan sát.
Sử dụng phương pháp quan sát để thu thập thông tin về tình hình đời sống

của người khuyết tật, thực trạng mà người nghiên cứu nhìn thấy thông qua giá trị
trên cơ sở vật chất và tinh thần của người khuyết tật từ những tác động của
chính sách tạo dựng việc làm cho NKT vận động đã mang lại.Từ đó đánh giá
được nhu cầu, mức độ, sự hài lòng của NKT vận động, cũng như gia đình họ về
các hoạt động đó, đánh giá được vai trò của nhân viên CTXH trong việc hỗ trợ
NKT vận động tiếp cận chính sách dạy nghề, tạo việc làm của địa phương
Quan sát cách thức tổ chức, triển khai các hoạt động, mô hình dạy nghề,
tạo việc làm cho NKT vận động của chính quyền địa phương, quan sát quá trình
triển khai đã thực sự mang lại hiệu quả hay chưa, còn hạn chế, vướng mắc gì.
-

Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là dạng phỏng vấn mà trong đó người ta xác định sơ bộ

những vấn đề cần thu thập thông tin cho đề tài nghiên cứu. Tuy nhiên, người
phỏng vấn tự do hoàn toàn trong cách dẫn dắt cuộc phỏng vấn, trong cách xếp
đặt trình tự các câu hỏi và ngay cả cách thức đặt câu hỏi nhằm thu thập được
thông tin mong muốn.
Địa điểm thực hiện: xã Liên Châu.



2 cuộc phỏng vấn sâu với NKT vận động đã qua đào tạo nghề và đang làm
việc để đánh giá hiệu quả hoạt động dạy nghề, tạo việc làm đang được thực hiện
tại địa phương.
Phỏng vấn sâu 03 đối tượng là người thân của người khuyết tật nhằm tìm
hiểu mong muốn của họ đối với người khuyết tật, đánh giá một cách khách quan
về những chính sách và mức độ hài lòng về những chính sách hỗ trợ người
khuyết tật học nghề, làm việc từ chính quyền địa phương, những khó khăn gặp
phải của gia đình và người khuyết tật trong tiếp cận các chính sách đó.Những
kiến nghị, đề xuất với cán bộ LĐXH và các nghành chức năng.
Đồng thời trong quá trình tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu, phỏng vấn sâu tác
gỉa đã sử dụng kỹ năng lắng nghe, quan sát, kỹ năng thấu hiểu tâm tư, nguyện
vọng của họ đối với các cấp chính quyền địa phương, trung ương khi ban hành
các chính sách và thực thi các chính sách.
-

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Bảng hỏi là công cụ quan trọng trong nghiên cứu định lượng, nó giúp thu

thập thông tin, đo lường và đánh giá về mức độ và thực trạng vấn đề trong
chương trình nghiên cứu. Bảng hỏi với hệ thống các câu hỏi đa dạng kết hợp giữa
câu hỏi đóng, câu hỏi mở, câu hỏi chức năng được sắp xếp theo một hệ thống và
trình tự logic của thông tin thu thập theo nội dung của vấn đề nghiên cứu. Nhằm
tạo điều kiện cho người được hỏi thể hiện quan điểm của mình với những vấn đề
thuộc về đối tượng nghiên cứu. Thông qua công cụ bảng hỏi nhà nghiên cứu thu
thập được các thông tin đáp ứng các yêu cầu và mục tiêu, mục đích, nội dung của
đề tài nghiên cứu đặt ra.



hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự
tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng
như những người khác trong xã hội[7].
Theo Luật NKT Việt Nam năm 2010: NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc
nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật
khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn[25].
Như vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về “NKT”, trong nghiên cứu này, tôi lựa
chọn cách hiểu về NKT theo quy định của Luật NKT của Việt Nam năm 2010.
- Phân loại khuyết tật
Theo Luật người khuyết tật số 51/2010/QH12 ngày 29/06/2010 của Quốc
hội thì có 6 dạng khuyết tật bao gồm: Khuyết tật vận động; Khuyết tật nghe, nói


(khuyết tật khiếm thính);Khuyết tật nhìn; Khuyết tật thần kinh, tâm thần ;Khuyết
tật trí tuệ; Khuyết tật khác.
Có ba mức độ khuyết tật đó là khuyết tật đặc biệt nặng, khuyết tật nặng và
khuyết tật nhẹ được hiểu như sau:
Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể
tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày.
Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực
hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày.
Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định
của hai mức độ trên[11 Tr.33,34].
-

Đặc điểm người khuyết tật vận động
Người khuyết tật vận động có hai dạng: Khuyết tật vận động do chấn

thương nhẹ hay do bệnh bại liệt gây ra làm liệt chân, tay và dạng thứ hai là do
tổn thương trung khu vận động não bộ. Đối với dạng khuyết tật thứ nhất thì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status