Tạo hứng thú cho học sinh lớp 3 trong tiết luyện từ và câu thông qua trò chơi
PHẦN THỨ NHẤT
ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong giai đoạn đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay, đổi
mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của học sinh, giúp học sinh học tập một cách tích cực, chủ động, tự giác là một
yêu cầu cấp thiết đối với ngành giáo dục. Chính vì vậy đòi hỏi người thầy cũng
phải đổi mới phương pháp học tập để giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức trong
giờ học.
Trong quá trình dạy học, việc rèn luyện tư duy thích hợp được chú trọng ở
tất cả các môn học. Môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học được xác định là một môn
học công cụ bởi mục tiêu quan trọng của nó. Phân môn Luyện từ và câu lớp 3 có
nhiệm vụ cung cấp cho học sinh một số tri thức sơ giản về từ, câu và dấu câu.
Học sinh được lĩnh hội kiến thức thông qua một hệ thống bài tập. Như vậy sách
giáo khoa tạo điều kiện để giáo viên và học sinh thực hiện phương pháp tích cực
hóa hoạt động của người học, trong đó giáo viên đóng vai trò là người tổ chức
hoạt động cho học sinh, mỗi học sinh đều được hoạt động, được bộc lộ mình và
được phát triển.
Để có một câu nói và viết ngắn gọn, diễn đạt đủ ý, gây hứng thú với
người nghe hoặc một bài văn hay, ta cần phải có một vốn từ ngữ phong phú, biết
viết câu đúng ngữ pháp. Vậy từ ngữ ở đâu, luyện viết như thế nào, đó là nhiệm
vụ của thầy và trò, phải dạy và học thế nào để tích lũy vốn từ qua từng bài học.
Phân môn Luyện từ và câu trực tiếp cung cấp cho các em vốn từ phong phú
nhất, giúp các em củng cố, làm giàu vốn từ để viết câu, hình thành văn bản hoàn
chỉnh. Dùng từ đúng, phù hợp với văn cảnh giúp các em thể hiện ý văn sáng sủa,
rõ ràng, mặt khác giúp người đọc hiểu nội dung bài văn, câu văn một cách rõ
ràng, chính xác.
Có nhiều yếu tố góp phần quyết định sự thành công của việc đổi mới
phương pháp dạy học. Trò chơi học tập là một hình thức tích cực hỗ trợ đắc lực
- Học sinh lớp 3C năm học 2014 – 2015.
- Học sinh lớp 3C năm học 2015 – 2016
2. Phạm vi nghiên cứu
- Phân môn Luyện từ và câu lớp 3.
3. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp sư phạm
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
4. Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu nội dung dạy học Luyện từ và câu, chương trình SGK, để
đưa ra những trò chơi phù hợp, hiệu quả để gây hứng thú cho học sinh trong giờ
học Luyện từ và câu.
PHẦN THỨ HAI
NỘI DUNG
2/50
Tạo hứng thú cho học sinh lớp 3 trong tiết luyện từ và câu thông qua trò chơi
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN
Dạy học môn Tiếng Việt chỉ có hiệu quả cao khi trở thành quá trình tổ
chức và điều khiển hoạt động giao tiếp. Trong điều kiện dạy học ở Tiểu học hiện
nay, việc sử dụng các loại trò chơi ngôn ngữ vào hoạt động học tập đã là một
phương pháp dạy học có hiệu quả, được các thầy, cô giáo xem như một hình thức
tổ chức dạy học mới, tích cực, cần phát huy thường xuyên trong các bài giảng
Tiếng Việt của mình. Việc xây dựng và tổ chức một số trò chơi vui và nhẹ nhàng
về Tiếng Việt theo yêu cầu kiến thức và kĩ năng sử dụng Tiếng Việt ở bậc Tiểu
học là một việc cần thiết để học sinh có thể tự học hoặc tham gia vào các trò chơi
Tạo hứng thú cho học sinh lớp 3 trong tiết luyện từ và câu thông qua trò chơi
của mình phục vụ những nhiệm vụ nào đó, kiên trì phấn đấu đạt tới những kết
quả và những thành tựu nhất định” (A, V. Daparogiet - Tâm lí học).
Trò chơi là chiếc cầu nối môn Tiếng Việt với thực tiễn, bởi vì thông qua
trò chơi các em thấy ứng dụng quan trọng của môn Tiếng Việt trong thực tiễn.
Và như vậy là đã phát huy được tính tích cực nhận thức của các em.
2. Trò chơi học tập Tiếng Việt là một trong những phương tiện hình
thành các năng lực trí tuệ
Hoạt động vui chơi ảnh hưởng mạnh tới sự hình thành tính chủ định của
quá trình tâm lí. Trong trò chơi, ở trẻ bắt đầu hình thành sự chú ý có chủ định và
ghi nhớ có chủ định. Khi chơi trẻ tập trung chú ý hơn và ghi nhớ được nhiều
hơn. Bởi vì bản thân trò chơi đòi hỏi trẻ phải tập trung vào những dữ kiện và đối
tượng được đưa vào tình huống của trò chơi cũng như nội dung của trò chơi.
Nếu đứa trẻ không chú ý và nhớ những điều kiện của trò chơi, thì sẽ hành động
một cách tự phát và không đạt được kết quả chơi. Bởi vậy, để trò chơi được
thành công buộc các em phải tập trung chú ý và ghi nhớ một cách chủ động.
Trò chơi học tập Tiếng Việt đẩy mạnh sự phát triển năng lực trí tuệ và
phục vụ cho mục đích ấy vì đôi khi trò chơi đề ra cho các em “bài toán” trí tuệ,
và việc giải quyết các “bài toán” này đòi hỏi phải thể hiện những hình thức hoạt
động trí tuệ muôn hình, muôn vẻ. Trong khi tham gia trò chơi, để giành phần
thắng, các em phải linh hoạt, tự chủ, phải độc lập suy nghĩ, phải sáng tạo và có
lúc phải tỏ ra quyết đoán. Việc xây dựng và tổ chức các trò chơi đã giúp các em
vận dụng, sáng tạo cách tìm “chiến lược” giành phần thắng trong trò chơi ban
đầu và các tình huống mới, trò chơi mới.
Đồng thời những kinh nghiệm được rút ra từ các mối quan hệ qua lại
trong lúc chơi cho phép đứa trẻ đứng trên quan điểm của những người khác để
phán đoán hành vi sắp xảy ra của bạn, trên cơ sở đó mà lập kế hoạch hành động
và tổ chức hành vi của bản thân mình sao cho phù hợp.
Như vậy, trò chơi học tập Tiếng Việt tạo khả năng phát triển trí tưởng tượng,
tập thực hành
Trò chơi học tập Tiếng Việt thực hiện chức năng của hoạt động thực hành
vì các em có điều kiện vận dụng những kiến thứuc đã học khi tham gia vào trò
chơi. Các em được hình thành những kĩ năng phân biệt được bản chất trong các
kiến thức Tiếng Việt ở mỗi trò chơi, hiểu được sâu sắc và đầy đủ hơn các tri
thức đã học. Với các trò chơi Thi viết câu gồm các chữ giống nhau ở chữ cái
đầu, Thi đặt câu theo mẫu, Thi tìm từ ghép có cùng một tiếng… các em hiểu rõ
hơn về cấu tạo của từ, của câu Tiếng Việt, góp phần hình thành và rèn luyện kĩ
năng đặt câu, viết đoạn văn. Qua đó, những thiếu sót trong hoạt động trí tuệ và
trong tri thức của các em cũng được phát hiện. Từ đó giáo viên có biện pháp bổ
sung và điều chỉnh kịp thời cho các em.
Bên cạnh đó, trò chơi Tiếng Việt còn là một trong những phương tiện để
khắc phục những trở ngại khác nhau trong hoạt động trí tuệ của từng em thông
qua các trò chơi cá nhân và tập thể. Bởi vì đã là trò chơi thì phải có trao đổi tư
tưởng, tri thức giữa các thành viên trong một nhóm khi tham gia trò chơi. Thông
qua trò chơi, các em có điều kiện để thể hiện mình, biết hợp tác với bạn bè để
tìm được cách trả lời tốt nhất. Và thông qua trò chơi này, giáo viên có thể tìm
5/50
Tạo hứng thú cho học sinh lớp 3 trong tiết luyện từ và câu thông qua trò chơi
hiểu được nguyên nhân yếu kém, chậm tiến của các em để có biện pháp khắc
phục, luyện tập nhiều lần cho trẻ và nâng cao dần trình độ cho các em.
5. Trò chơi học tập Tiếng Việt giúp hình thành đức tính trung thực,
có kỉ luật, tính độc lập, tự chủ, có ý thức cao
Khi tham gia trò chơi, học sinh phải tuân thủ theo những quy tắc nhất
định (đã được nêu trước trò chơi). Việc các em tiếp nhận và tuân theo những
quy tắc đó giúp các em có khả năng tự kiềm tra và kiểm tra lẫn nhau trong trò
Tạo hứng thú cho học sinh lớp 3 trong tiết luyện từ và câu thông qua trò chơi
CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trường Tiểu học nơi tôi đang công tác và giảng dạy có trên 30 giáo viên,
đa số đã đạt trên chuẩn. Chủ trương đổi mới phương pháp dạy học đã được cán
bộ, giáo viên nhà trường tiếp thu nhanh chóng và đạt hiệu quả cao. Trong quá
trình dạy học, giáo viên không đóng vai trò là người truyền đạt kiến thức sẵn có
trong sách giáo khoa mà trở thành người hướng dẫn, tổ chức quá trình dạy
học…… Giáo viên thường lấy tiêu chí phấn đấu là giờ học nhẹ nhàng, tự nhiên,
thoải mái, đạt hiệu quả cao. Chính vì vậy mà kết quả học tập của học sinh ngày
một nâng cao, số lượng học sinh đạt giải và giải cao trong các cuộc thi các cấp
ngày càng tăng, trường liên tục đạt trường tiên tiến.
Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu lớp 3 là cung cấp cho các em
vốn từ ngữ, giúp các em làm giàu vốn từ để viết câu, hình thành văn bản hoàn
chỉnh. Nhưng thực tế, vào thời điểm đầu năm học, học sinh lớp 3C do tôi phụ
trách, kĩ năng dùng từ đặt câu và vận dụng viết thành đoạn văn còn hạn chế. Qua
điều tra ban đầu, trong 43 em của lớp chỉ có 20 em viết đoạn văn hoàn chỉnh. Đa
số các em nắm kiến thức về vốn từ chưa bền vững. Mặt khác, do tình hình chung
của lớp, một số em còn rụt rè trong học tập và sinh hoạt. Trong khi đó, nội dung
chương trình phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3 rất đa dạng, phong phú. Vì vậy
cần phải được khai thác và vận dụng tối ưu về các phương pháp dạy – học, hạn
chế được sự khô khan trong tiết học, tạo cho các em không khí học tập sôi nổi.
Trên cơ sở đó củng cố kiến thức được vững chắc. Mặt khác, địa bàn tôi dạy đa
số là thuần nông, người dân rất bận rộn trên cánh đồng, kiến thức về học tập
cũng hạn chế nên các em cũng ít nhận được sự kèm cặp, hướng dẫn của gia
đình. Mọi kiến thức các em có đều được tiếp nhận trên lớp học, dưới sự
hướng dẫn của cô giáo. Do đó, giáo viên luôn phải trăn trở làm thế nào để học
sinh có thể dễ dàng nhớ ngay kiến thức trong giờ học và phát huy hiệu quả khi
nói và viết.
5
6
7
Cộng đồng
Quê hương
8
10
11
12
Bắc – Trung
- Nam
13
14
Anh em một
nhà
Thành thị và
nông thôn
15
16
Tên bài
- Ôn về từ chỉ sự vật – So sánh
- Mở rộng vốn từ: Thiếu nhi
Bảo vệ Tổ
quốc
Sáng tạo
19
20
21
22
23
Nghệ thuật
Lễ hội
24
25
26
28
Thể thao
Ngôi nhà
chung
Bầu trời và
mặt đất
29
30
31
32
33
Mở rộng vốn từ: Cộng đồng - Ôn tập câu Ai làm gì ? Kiến thức về từ chỉ hoạt
động, trạng thái, biện pháp so sánh trong những bài Tập đọc từ tuần 1 đến tuần
8, các em được ôn tập trong tiết Luyện từ và câu này.
Biện pháp này giúp tôi chủ động hơn trong việc thiết kế các trò chơi sao
cho phù hợp với từng tiết học.
2. Thiết kế trò chơi:
Sau khi nghiên cứu chương trình, tôi thiết kế trò chơi theo nội dung từng
bài học. Học sinh được chơi trò chơi thay cho việc làm bài tập một cách khô
9/50
Tạo hứng thú cho học sinh lớp 3 trong tiết luyện từ và câu thông qua trò chơi
khan. “Việc sử dụng trò chơi học tập trong quá trình dạy học nhằm làm cho
việc hình thành kiến thức và rèn luyện kĩ năng của học sinh bớt đi vẻ khô khan,
tăng thêm phần sinh động, hấp dẫn” (Trích: Dạy Tiếng Việt theo chương trình
và sách giáo khoa mới - Trần Thị Minh Phương). Để đảm bảo cho sự thành
công của việc sử dụng trò chơi, tôi luôn thiết kế trò chơi gắn với mục tiêu của
bài học. Các trò chơi đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, ít tốn thời gian của tiết
học. Trò chơi có sự thi đua giành phần thắng giữa các bên tham gia. Tuy nhiên,
sự đánh giá thắng, thua không quan trọng, giáo viên cần động viên cả bên thua
để các em không có sự tự ti, cảm thấy mình yếu kém. Mục đích quan trong là
tạo được không khí sôi nổi trong học tập, giúp các em học bài tốt hơn.
* Ví dụ : Bài : Mở rộng vốn từ: Quê hương
Ôn tập câu ai làm gì ?
a) Trò chơi : “Ai nhanh hơn nào”
b) Mục đích : - Củng cố về vốn từ Quê hương.
- Rèn luyện tính nhanh nhẹn, hoạt bát, chính xác.
c) Chuẩn bị :
- Thẻ từ ghi các từ: cây đa, gắn bó, dòng sông, con đò, nhớ thương, yêu
Tạo hứng thú cho học sinh lớp 3 trong tiết luyện từ và câu thông qua trò chơi
b) Mục đích :
- Củng cố và hệ thống hóa từ ngữ về bảo vệ Tổ quốc.
- Rèn khả năng ghi nhớ các anh hùng của dân tộc và giáo dục truyền
thống dân tộc.
c) Chuẩn bị :
- Bảng phụ kẻ sẵn các ô chữ :
1
A
N
H
H
Ù
N
G
2
3
4
5
6
7
d ) Cách chơi :
- Chia lớp thành 4 đội, mỗi dãy bàn một đội.
- Học sinh bốc thăm để giành thứ tự chọn ô.
Q
U
A
11/50
N
G
P
H
Ụ
C
Tạo hứng thú cho học sinh lớp 3 trong tiết luyện từ và câu thông qua trò chơi
3
N
G
2
U
C
H
Ầ
N
N
H
H
Ù
N
G
T
U
Í
N
Q
K
R
Ệ
M
G
U
I
Ắ
C
Theo kinh nghiệm của bản thân cho thấy, ở lứa tuổi tiểu học, các em rất
hay bắt chước. Như Giáo sư - Tiến sĩ Bùi Văn Huệ đã nhận xét: “Ở lứa tuổi tiểu
học, học sinh hay bắt chước. Tính hay bắt chước cũng là một đặc điểm quan
trọng của lứa tuổi tiểu học. Tính bắt chước là một “con dao” hai lưỡi. Bởi vì
các em bắt chước cái đúng cũng lắm mà cái sai cũng nhiều.” (Trích: Tâm lí học
ở tiểu học). Vì vậy, khi tổ chức trò chơi, tôi thường đảo vị trí của các câu để 2
đội không trùng nhau, học sinh không bắt chước đội bạn được.
* Ví dụ : Bài: Ôn tập về từ chỉ hoạt động, trạng thái – So sánh
Trò chơi : “Ai nhanh tay hơn nào”
Bài: Nối cột A với cột B tương ứng. Tôi viết bảng phụ cho 2 đội như sau :
12/50
Tạo hứng thú cho học sinh lớp 3 trong tiết luyện từ và câu thông qua trò chơi
Đội 1
A
B
Những ruộng lúa cấy sớm
huơ vòi chào khán giả
Những chú voi thắng cuộc
đã trổ bông
Cây cầu làm bằng thân dừa
Trả lời các câu hỏi sau. Tôi viết bảng phụ cho 2 đội như sau :
Đội A :
a) Lớp em bắt đầu vào học kì II
khi nào ?
b) Khi nào học kì II kết thúc ?
c) Tháng mấy em được nghỉ hè ?
Đội B :
a) Khi nào học kì II kết thúc ?
b) Tháng mấy em được nghỉ hè ?
c) Lớp em bắt đầu vào học kì II
khi nào ?
Nhờ sự sắp xếp không giống nhau các câu hỏi trong trò chơi, học sinh rèn
luyện được tính tự lập, không trông cậy vào người khác. Do đó, trò chơi cũng
sôi nổi hơn.
4. Một số lưu ý
Sử dụng trò chơi học tập để hình thành kiến thức, kĩ năng mới hoặc củng
cố kiến thức, kĩ năng đã học. Trong thực tế dạy học, giáo viên thường tổ chức
trò chơi học tập để củng cố kiến thức, kĩ năng. Tuy nhiên việc tổ chức cho học
13/50
Tạo hứng thú cho học sinh lớp 3 trong tiết luyện từ và câu thông qua trò chơi
sinh chơi các trò chơi để hình thành kiến thức, kỹ năng mới là rất cần để tạo
hứng thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt đầu bài học mới.
Quy trình thực hiện:
- Bước 1: giáo viên giới thiệu tên, mục đích của trò chơi.
- Bước 2: Hướng dẫn chơi. Bước này bao gồm những việc làm sau:
Tạo hứng thú cho học sinh lớp 3 trong tiết luyện từ và câu thông qua trò chơi
d) Cách chơi: Chia lớp thành 4 đội, mỗi đội 5 em. Các em tiếp sức nhau
gạch chân dưới các từ ngữ chỉ sự vật trong khổ thơ. Trong thời gian2 phút, đội
nào xác định đúng, nhiều từ ngữ nhất và nhanh nhất là thắng cuộc.
Đáp án:
Tay em đánh răng
Răng trắng hoa nhài
Tay em chải tóc
Tóc ngời ánh mai
TRÒ CHƠI SỐ 2 (Tuần 2)
Bài : Mở rộng vốn từ : Thiếu nhi ( trang 16 )
Ôn tập câu Ai là gì ?
a) Tên trò chơi : “Tìm nhanh từ cùng nhóm” – áp dụng vào bài tập 1.
b)Mục đích :
- Mở rộng vốn từ, phát huy óc liên tưởng, so sánh.
- Rèn tác phong nhanh nhẹn, luyện trí thông minh.
c) Chuẩn bị:
- Phấn màu
- Bảng phụ kẻ sẵn :
Chỉ trẻ em
………………………………………….
Chỉ tính nết của trẻ em
…………………………………………..
Chỉ tình cảm hoặc sự chăm sóc …………………………………………...
của người lớn đối với trẻ em
…………………………………………..
d) Cách chơi: Chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm 4 em. Sau khi nghe giải
thích, giáo viên yêu cầu các nhóm kể ra những từ thuộc nhóm đó. Từng nhóm
án, phần “đáp” thích hợp.
d) Cách chơi :
- GV chia học sinh thành 4 đội, cử 2 bạn làm thư kí.
- GV nêu lên từ ngữ chỉ đối tượng cần so sánh. Ví dụ: mắt
- GV gọi học sinh giơ tay trước trả lời (Ví dụ: sáng như sao, trong như
ngọc, đen như hạt nhãn, …..)
- GV đưa ra một số đối tượng khác (như trời, trăng, dòng sông, …..) và
cũng tiến hành tương tự.
- Sau một thời gian (khoảng 2 – 3 phút ), GV tổng kết. Đội nào đưa ra
được nhiều đáp án đúng đội đó sẽ thắng cuộc.
TRÒ CHƠI SỐ 4 (Tuần 4)
Bài : MRVT : Gia đình ( trang 33 )
Ôn tập câu : Ai là gì ?
a) Tên trò chơi: “Tìm nhanh từ cùng nhóm” – áp dụng vào bài tập 1,
b)Mục đích :
- Mở rộng vốn từ, phát huy óc liên tưởng, so sánh.
- Rèn tác phong nhanh nhẹn, luyện trí thông minh.
c) Chuẩn bị :
- Bảng phụ ghi nội dung bài tập 1:
* Viết tiếp những từ ngữ chỉ gộp những người thân trong gia đình vào chỗ
trống :
M : ông bà, chú cháu………..
d) Cách chơi : Chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm 4 em. Sau khi nghe giải
thích, GV yêu cầu các nhóm chơi kể ra những từ thuộc nhóm đó. Từng nhóm
ghi lại những từ ngữ vừa tìm được vào bảng phụ. Thời gian viết 2 hoặc 3 phút,
16/50
Tạo hứng thú cho học sinh lớp 3 trong tiết luyện từ và câu thông qua trò chơi
17/50
Tạo hứng thú cho học sinh lớp 3 trong tiết luyện từ và câu thông qua trò chơi
TRÒ CHƠI SỐ 6 (Tuần 6)
Bài : Mở rộng vốn từ: Trường học ( trang 50 )
a) Tên trò chơi: “Giải ô chữ”
b) Mục đích:
- Củng cố và mở rộng vốn từ
thuộc chủ điểm Trường học.
- Rèn luyện tinh thần tập thể,
tính nhanh nhẹn, chính xác.
c) Chuẩn bị :
- Trò chơi thiết kế trên Power
Point.
d) Cách chơi: - Chia lớp thành 4 đội, mỗi dãy bàn một đội.
- Học sinh bốc thăm để giành thứ tự chọn ô.
- Học sinh chọn câu hỏi nào, giáo viên đọc câu lệnh, các em thảo luận với
nhau tìm từ có số chữ cái tương ứng ở cột ngang, ghi vào bảng con. Thời gian
ghi đáp án là 15 giây.
- Mỗi câu trả lời đúng được cộng 10 điểm. Các đội phát hiện từ cột dọc ở
bất kì thời điểm nào sau câu hỏi thứ năm đều có quyền trả lời. Từ cột dọc là 30
điểm. Đội nào có tổng số điểm nhiều hơn là thắng cuộc.
* Được học tiếp lên lớp trên (gồm 2 tiếng, bắt đầu bằng chữ L) - LÊN LỚP
* Đi thành hàng ngũ diễu hành qua lễ đài hoặc đường phố để biểu dương
sức mạnh (gồm 2 tiếng, bắt đầu bằng chữ D)- DIỄU HÀNH
* Sách dùng để dạy và học trong nhà trường (gồm 3 tiếng bắt đầu bằng
bằng chữ S) - SÁCH GIÁO KHOA
Tạo hứng thú cho học sinh lớp 3 trong tiết luyện từ và câu thông qua trò chơi
c) Chuẩn bị : Từ 2 đến 4 bộ bài, mỗi bộ từ 20 – 25 quân ghi các từ ngữ,
trong đó có 12 – 15 quân bài ghi các từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái. Các quân
bài khác ghi các từ chỉ sự vật, tính chất.(bấm bóng, hoảng sợ, cướp bóng, dẫn
bóng, chuyền bóng, dốc bóng, sút bóng, chơi bóng, sợ tái cả người, bóng đá,
cầu thủ, thủ môn, hậu vệ, tiền vệ, nhanh, hồi hộp, bình tĩnh, sân bóng, thua,
thắng, cánh trái, cánh phải, …..)
d) Cách chơi :
- Chọn 2 hoặc 4 đội chơi, mỗi đội 4 em.
- Mỗi đội chơi được phát một bộ bài (VD : Một số quân bài ghi các từ ngữ
chỉ hoạt động chơi bóng, một số quân bài ghi từ ngữ không thuộc nhóm này).
- Khi GV yêu cầu tìm nhanh các từ ngữ chỉ hoạt động chơi bóng, người
chơi gắn từng quân bài chỉ hoạt động chơi bóng xuống bảng phụ. Mỗi quân bài
xác định đúng được tính 1 điểm. Mỗi quân bài sai bị trừ 1 điểm. Sau khoảng thời
gian nhất định (2 - 3 phút), đội nào được nhiều từ ngữ đúng nhất sẽ thắng cuộc.
Những đội chơi sau sẽ được xếp thứ tự tiếp theo, dựa vào số điểm.
TRÒ CHƠI SỐ 8: (Tuần 8)
Bài : Mở rộng vốn từ: Cộng đồng
Ôn tập câu Ai làm gì ? ( trang 65 )
a) Tên trò chơi: “Ai nhanh hơn nào” áp dụng vào bài tập 1.
b) Mục đích :
- Củng cố, mở rộng vốn từ: Cộng đồng
- Rèn luyện tính linh hoạt, nhanh nhẹn, chính xác.
c) Chuẩn bị:
- Thẻ ghi các từ: Cộng đồng, cộng tác, đồng bào, đồng đội, đồng tâm,
đồng hương.
- Bảng phụ kẻ sẵn 2 cột :
- Rèn kĩ năng đoán nhanh từ khi
biết nghĩa.
- Củng cố nghĩa từ và mở rộng vốn
từ ngữ cho học sinh, đồng thời rèn trí
thông minh và khả năng phản ứng nhanh.
c) Chuẩn bị :
- Thiết kế trò chơi trên Power Point.
- Nội dung :
Ô chữ: ĐỒNG CA
Các từ hàng ngang là những từ có tiếng “cộng” hoặc tiếng “đồng” có
nghĩa chung là những hoạt động trong cộng đồng.
1. Cùng ý với nhau.
2. Cùng ý với nhau trong một
tình huống.
3. Cùng một lòng.
4. Cùng diễn một bài thể dục.
5. Cùng làm chung một việc.
6. Cùng phát ra tiếng.
d)Cách chơi: - Chia lớp thành 4 đội, mỗi dãy bàn một đội.
- Học sinh bốc thăm để giành thứ tự chọn ô.
21/50
Tạo hứng thú cho học sinh lớp 3 trong tiết luyện từ và câu thông qua trò chơi
- Học sinh chọn câu hỏi nào, giáo viên đọc câu lệnh, các em thảo luận với
nhau tìm từ có số chữ cái tương ứng ở cột ngang, ghi vào bảng con. Thời gian
ghi đáp án là 15 giây.
- Mỗi câu trả lời đúng được cộng 10 điểm. Các đội phát hiện từ cột dọc ở
bất kì thời điểm nào sau câu hỏi thứ năm đều có quyền trả lời. Từ cột dọc là 30
núi. Nương ngô đã vàng mượt. Nương lúa cũng vàng óng.
TRÒ CHƠI SỐ 10 (Tuần 11)
Bài : Mở rộng vốn từ: Quê hương
Ôn tập câu Ai làm gì? ( trang 89 )
a) Trò chơi : “Ai nhanh hơn nào” – áp dụng vào bài tập 1.
b) Mục đích :
- Củng cố về vốn từ Quê hương
- Rèn luyện tính nhanh nhẹn, hoạt bát, chính xác.
c) Chuẩn bị :
- Thẻ ghi các từ: cây đa, gắn bó, dòng sông, con đò, nhớ thương, yêu quý,
mái đình, thương yêu, ngọn núi, phố phường, bùi ngùi, tự hào.
- Bảng phụ ghi sẵn 2 cột :
a) Chỉ sự vật ở quê hương
.....................................................
...................................................
………………………………….
b) Chỉ tình cảm đối với quê
hương
.........................................................
.........................................................
.........................................................
d) Cách chơi: Chia lớp thành 2 đội, mỗi đội 5 em. Các em có nhiệm vụ
tiếp sức nhau đính những thẻ có từ trên vào hai nhóm a và b cho đúng. Chú ý :
Mỗi lần, mỗi em chỉ đính 1 từ, tiếp tục đến em khác. Cả lớp sẽ hát hai lần bài hát
“ Quê hương tươi đẹp”. Trong thời gian đó, đội nào thực hiện nhanh và chính
xác hơn là thắng cuộc.
Đáp án:
b) Chỉ tình cảm đối với
đã trổ bông
Cây cầu làm bằng thân dừa
lao băng băng trên sông
Con thuyền cắm cờ đỏ
bắc ngang dòng kênh
Đội 2 :
A
B
Cây cầu làm bằng thân dừa
bắc ngang dòng kênh
Con thuyền cắm cờ đỏ
đã trổ bông
Những ruộng lúa cấy sớm
lao băng băng trên sông
Những chú voi thắng cuộc
huơ vòi chào khán giả
TRÒ CHƠI SỐ 12 (Tuần 13)
Bài : Mở rộng vốn từ : Từ địa phương
Dấu chấm hỏi, chấm than ( trang 107 )
a) Tên trò chơi: “Tìm nhanh từ địa phương” – áp dụng vào phần củng
cố bài.
b)Mục đích :
- Nhận ra và hiểu nghĩa từ địa phương; biết được các từ phổ thông đồng
nghĩa với từ địa phương.
- Rèn luyện trí thông minh, nhanh tay, nhanh mắt.
c) Chuẩn bị :
- Phấn màu
- Một bộ quân bài dành cho người trọng tài khác màu với bộ quân bài
dành cho người chơi. Trên mỗi quân bài này có ghi từ địa phương đồng nghĩa
với từ được ghi tên quân bài của người chơi. (chén, bát, lợn, heo, cây bút, cây
viết, bao diêm, hộp quẹt, bố, ba, thế, nó, gì, tui, tôi, chi, ……….)
d) Cách chơi: Từ 2 đến 4 người chơi. Mỗi người đều có một bộ quân bài
như nhau.
- Trọng tài lật 1 quân trong bộ bài của mình (có từ thế, nó, gì, tôi, à).
Người chơi phải chọn thật nhanh quân bài của mình có từ cùng nghĩa với từ
trong quân bài của trọng tài đã đánh ra. Đánh hết bộ quân bài, ai có số lượng
quân bài được ăn nhiều sẽ thắng cuộc.
- Thời gian chọn quân bài là 5 giây.
- Thời gian chơi là 90 giây.
25/50