Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc (LV thạc sĩ) - Pdf 41

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------------

NGUYỄN MẠNH HOÀN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀNHUYỆN
TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

THÁI NGUYÊN - 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------------

NGUYỄN MẠNH HOÀN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀNHUYỆN
TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ

tận tình và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn của
mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo
trong Bộ môn khoa Quản lý Tài nguyên, Trường Đại
học Nông Lâm, cán bộ, lãnh đạo phòng Tài nguyên
và Môi trường, phòng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn huyện Tam Dương và một số các đơn vị,
cá nhân có liên quan khác đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực
hiện luận văn này.
Để hoàn thành luận văn, tôi còn nhận được sự
động viên, khích lệ của bạn bè và những người
thân trong gia đình. Tôi xin chân thành cảm ơn
tất cả những tình cảm cao quý đó.
Vĩnh Phúc, ngày 19 tháng
8 năm 2015
Tác giả

Nguyễn Mạnh Hoàn


iii


iv

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................... ii



v

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

19

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ......................................................................... 19
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 19
2.2. Nội dung nghiên cứu

19

2.2.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan đến sử dụng
đất đai nói chung sản xuất nông nghiệp nói riêng ......................................... 19
2.2.2. Đánh giá thực trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ....................... 19
2.2.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp .......................... 19
2.2.4. Định hướng và các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng đất
sản xuất nông nghiệp của huyện Tam Dương ............................................... 19
2.3. Phương pháp nghiên cứu

20

2.3.1. Chọn điểm điều tra nghiên cứu ........................................................... 20
2.3.2. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp ................................................. 20
2.3.3. Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp ...................................... 20
2.3.4. Các phương pháp khác ....................................................................... 22
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................... 23
3.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................... 79
1. Kết luận

79

2. Kiến nghị

8079


vii

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
TT

Chữ viết tắt

Chữ viết đầy đủ

1.

CLĐ

Công lao động

2.

CPSX

Chi phí sản xuất


8.

GTGT

Giá trị gia tăng

9.

GTSX

Giá trị sản xuất

10.

IRRI

11.



12.

LUT

Loại hình sử dụng đất

13.

USD

51

Bảng 3.6 . Biến động diện tích đất sản xuất nông nghiệp 2010-2014 (ha)

52

Bảng 3.7: Cơ cấu sử dụng đất của các xã, thị trấn

53

Bảng 3.8: Các loại hình sử dụng đất chính của Tiểu vùng 1

54

Bảng 3.9: Các loại hình sử dụng đất chính của Tiểu vùng 2

56

Bảng 3.10: Các loại hình sử dụng đất chính của Tiểu vùng 3

57

Bảng 3.11: Hiệu quả sử dụng đất của một số cây trồng chính vùng 1

58

Bảng 3.12: Hiệu quả sử dụng đất của một số cây trồng chính vùng 2

60



ix

DANH MỤC HÌNH
Danh mục hình
Hình 3.1. Cơ cấu sử dụng các loại đất năm 2014

Trang
50

Hình 3.2. Cơ cấu sử dụng sản xuất nông nghiệp năm 2014

51

Hình 3.3. Cơ cấu sử dụng sản xuất nông nghiệp của các vùng

54

Hình 3.4: Trồng dưa chuột trên đất 1 lúa -2 màu xã An Hoà

61

Hình 3.5: Trồng bí xanh trên đất 1 lúa -2 màu xã Vân Hội

63

Hình 3.6: Hiệu quả sử dụng đất của LUT 1 trên 3 tiểu vùng

72


Xã hội ngày càng phát triển, trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng cao, con
người tìm ra nhiều phương thức sử dụng đất có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, do có sự
khác nhau về chất lượng, mỗi loại đất bao gồm những yếu tố thuận lợi và hạn chế
cho việc khai thác sử dụng (chất lượng đất thể hiện ở yếu tố tự nhiên vốn có của đất
như địa hình, thành phần cơ giới, hàm lượng các chất dinh dưỡng, chế độ nước, độ
chua… nên phương thức sử dụng đất cũng khác nhau ở mỗi vùng, mỗi khu vực, mỗi
điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể.
Thực tế, trong những năm qua đã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng đất như: tiến hành giao quyền sử dụng đất lâu dài, ổn định cho người sử
dụng đất; hoàn thiện hệ thống thuỷ lợi; chuyển đổi cơ cấu cây trồng; áp dụng tiến
bộ khoa học mới vào sản xuất nhờ đó tăng hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông
nghiệp.
Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của loại hình sử dụng đất
sản xuất nông nghiệp không chỉ dựa vào năng suất cây trồng, mà còn vốn đầu tư,


2

giá trị gia tăng, hiệu quả đồng vốn, mức thu hút lao động,...
Tam Dương là một huyện miền trung du miền núi của tỉnh Vĩnh Phúc nằm
sát thành phố Vĩnh Yên nên quá trình đô thị hoá nhanh, đất sản xuất nông nghiệp bị

Formatted: Vietnamese

chuyển dần sang các mục đích khác. Mặc dù vậy, nông nghiệp vẫn là ngành sản
xuất chủ yếu của huyện. Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của huyện là
5.335,20ha, chiếm 49,30% tổng diện tích đất tự nhiên. Những năm gần đây, kinh tế
nông nghiệp, nông thôn tuy có những bước phát triển mới tuy vậy vẫn còn sản xuất
manh mún, nhỏ lẻ chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường dẫn đến năng suất lao
động và hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất thấp.


Formatted: Vietnamese

1.1. Đất sản xuất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
1.1.1. Khái quát về đất sản xuất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất sản xuất
nông nghiệp
Theo Luật Đất đai năm 2013, đất đai được phân loại theo các nhóm chính
bao gồm: nhóm đất nông nghiệp; nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử
dụng [26]. Theo Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 25/5/2014 của Chính phủ về thi
hành Luật Đất đai Đất và Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường Quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản
đồ hiện trạng sử dụng đất thì nhóm đất nông nghiệp được chia thành các phân nhóm
sau:
- Đất sản xuất nông nghiệp bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu
năm.
Đất trồng cây hàng năm bao gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn
nuôi, đất trồng cây hàng năm khác;
- Đất lâm nghiệp bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc
dụng;
- Đất nuôi trồng thuỷ sản;
- Đất làm muối;
- Đất nông nghiệp khác.
Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, xã hội, khi mức sống của con người
còn thấp, công năng chủ yếu của đất là tập trung vào sản xuất vật chất, đặc biệt
trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu nhỏ lẻ, tự cung, tự cấp để phục vụ việc ăn, ở,
mặc... khi con người biết sử dụng đất đai vào cuộc sống cũng như sản xuất thì đất
đai đóng vai trò quan trọng trong hiện tại và tương lai.
Từ thế kỷ XVIII và nhất là từ thế kỷ XX, việc phát triển công nghiệp và khoa
học kỹ thuật đã đem lại thành tựu kỳ diệu là thay đổi hẳn bộ mặt trái đất và cuộc


nông nghiệp và các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân.
Theo báo cáo của World Bank (1995) [57], hàng năm mức sản xuất so với
yêu cầu sử dụng lương thực vẫn thiếu hụt từ 150-200 triệu tấn, trong khi đó vẫn có
6 - 7 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp bị loại bỏ do xói mòn. Trong 1.200 triệu ha


5

đất bị thoái hoá có tới 544 triệu ha đất canh tác bị mất khả năng sản xuất do sử dụng
không hợp lý.
Theo kết quả kiểm kê đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì tổng diện
tích đất tự nhiên của nước ta là 33.093.857 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chỉ
có 26.100.106 ha. Dân số là 87 triệu người, bình quân diện tích đất sản xuất nông
nghiệp là 3.807 m2/người (theo báo cáo của Tổng cục Thống kê năm 2010). So sánh
với 10 nước khu vực Đông Nam Á, tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam xếp thứ 2,
bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người của Việt Nam đứng vị trí thứ 9 trong
khu vực.
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho xã
hội về nông sản phẩm đang trở thành một trong các mối quan tâm lớn nhất của
người quản lý và sử dụng đất.
1.1.2. Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
* Nguyên tắc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu của con người về
các sản phẩm được lấy từ đất ngày càng tăng. Mặt khác đất sản xuất nông nghiệp
ngày càng bị thu hẹp do bị trưng dụng sang các mục đích khác. Vì vậy, sử dụng đất
sản xuất nông nghiệp ở nước ta cần hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu
cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu. Sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trong
sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh
hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho

đảm bảo nhu cầu của các thế hệ tương lai [13]. Một quan niệm khác cho rằng: Phát
triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và kỹ
thuật nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả cho hiện tại
và mai sau [55]. Để phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta cần nắm vững mục
tiêu về tác dụng lâu bền của từng mô hình, để duy trì và phát triển đa dạng sinh học.
1.2. Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp

Formatted: Portuguese (Brazil)

1.2.1. Khái quát hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất

Formatted: Vietnamese

Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả. Khi nhận thức của con người
còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả và hiệu quả là một. Sau này khi
nhận thức của con người phát triển cao hơn, người ta thấy rõ sự khác nhau giữa kết
quả và hiệu quả.
Theo Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu
của việc làm mang lại [46].


7

Kết quả hữu ích của một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con
người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định. Do tính chất mâu thuẫn
giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu ngày càng tăng của con người mà người
ta phải xem xét kết quả được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả đó
là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? chính vì thế khi đánh giá hoạt
động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất
lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó. Đánh giá chất lượng

hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
- Một là, mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “tiết kiệm thời
gian”.
- Hai là, hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý luận hệ
thống.
- Ba là, hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của hoạt
động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích
của con người.
Hiệu quả kinh tế phải được tính bằng tổng giá trị trong một giai đoạn, phải
trên mức bình quân của vùng, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền cho vay
vốn ngân hàng. Chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ trong, ngoài nước,
hệ thống phải giảm mức thấp nhất thiệt hại (rủi ro) do thiên tai, sâu bệnh...
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt
được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được
là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của
các nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và
tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa 2 đại lượng đó.
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả
kinh tế và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều
tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Nếu đạt được
một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiệu quả phân bổ mới có điều kiện cần
chứ chưa phải là điều kiện đủ cho đạt hiệu quả kinh tế. Chỉ khi nào việc sử dụng
nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó mới đạt
hiệu quả kinh tế.
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng bản chất của phạm trù kinh tế sử
dụng đất là: với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật
chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động tiết kiệm nhất


9



10

Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa
cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại trong các loại hình sử dụng
đất nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục
tiêu đặt ra.
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài
nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt
sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào.

1.2.2. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông
nghiệp
- Cơ sở để lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản
xuất nông nghiệp:
+ Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất
nông nghiệp.
+ Nhu cầu của địa phương về phát triển hoặc thay đổi loại hình sử dụng đất
sản xuất nông nghiệp.
- Nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất
nông nghiệp:
+ Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống.
Các chỉ tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có
thang bậc.
+ Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản biểu
hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn theo quan điểm và tiêu
chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu cơ bản, làm cho nội dung
kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn.
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp

Các nhà sản xuất và quản lý kinh tế cần phải nâng cao chất lượng các hoạt
động kinh tế nhằm đạt mục tiêu với một lượng tài nguyên nhất định, tạo ra một
khối lượng sản phẩm lớn nhất hoặc tạo ra một khối lượng sản phẩm nhất định với
chi phí tài nguyên ít nhất.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt
được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được
là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của
nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và
tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữ hai đại lượng đó. Một
phương pháp đúng hoặc một giải pháp kinh tế kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao là


12

đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí nguồn lực đầu tư.
Vì vậy bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là: Với một diện tích đất
đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng
đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về
vật chất của xã hội.
* Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết đến hiệu quả kinh tế và
thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hóa các chỉ tiêu biểu
hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu
mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xóa đói giảm nghèo,
định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân.
Trong sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu
bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Hiện nay,
việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp là
vấn đề đang được nhiều nhà khoa học quan tâm.
Theo Hội Khoa học Đất Việt Nam (2000) [20], hiệu quả xã hội được phân

nhiều lao động trí óc, tăng cường hiệu quả của lao động quản lý và tổ chức.
- Mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và môi trường.
Từ những vấn đề chung trên mỗi nước lại có chiến lược phát triển nông
nghiệp khác nhau, có thể chia thành 2 hướng:
+ Nông nghiệp công nghiệp hoá: dựa chủ yếu vào các yếu tố vật tư, kỹ thuật,
hoá chất và các sản phẩm khác của công nghiệp.
+ Nông nghiệp sinh thái: nhấn mạnh các yếu tố sinh học, các yếu tố tự nhiên,
có chú ý hơn đến các quy luật sinh học, quy luật tự nhiên. Tuy nhiên, trong nhiều
trường hợp nông nghiệp sinh thái không đảm bảo hiệu quả cao.
Gần đây nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu nền nông nghiệp bền vững. Đó là một
dạng nông nghiệp sinh thái với mục tiêu là sản xuất nông nghiệp đi đôi với giữ gìn và
bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững, lâu dài.
Trong thực tế phát triển theo những dạng tổng hợp, đan xen các xu hướng
vào nhau ở nhiều mức độ khác nhau. Cụ thể như:
- Vào những năm của thập kỷ 60, ở các nước phát triển ở châu Á, châu Mỹ La
tinh đã được thực hiện cuộc “cách mạng xanh’’. Thực chất cuộc cách mạng này dựa
chủ yếu vào việc áp dụng các giống cây lương thực có năng suất cao (lúa nước, lúa mì,
ngô...), xây dựng hệ thống thuỷ lợi, sử dụng nhiều loại phân hoá học. “Cách mạng
trắng’’ được thực hiện dựa vào việc tạo ra các giống gia súc có tiềm năng cho sữa cao,
vào những tiến bộ khoa học đạt được trong việc tăng năng suất và chất lượng các loại
gia súc, trong các phương thức chăn nuôi mang ít nhiều tổ chức công nghiệp.
- “Cách mạng nâu’’ diễn ra trên cơ sở giải quyết mối quan hệ của nông dân
với ruộng đất, trên cơ sở khơi dậy lòng yêu quý của nông dân đối với đất đai,


14

khuyến khích tính cần cù của họ để năng suất và sản lượng trong nông nghiệp [6].
Cả ba cuộc cách mạng này mới chỉ dừng lại ở việc tháo gỡ những khó khăn
trước mắt, chứ chưa thể là cơ sở cho một chiến lược phát triển nông nghiệp lâu dài




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status