Dạy học “nguyễn du và truyện kiều” theo định hướng phát triển năng lực học sinh - Pdf 41

Dạy học “Nguyễn Du và Truyện Kiều” theo định hướng phát triển năng lực học sinh

MỤC LỤC

1


Dạy học “Nguyễn Du và Truyện Kiều” theo định hướng phát triển năng lực học sinh

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài

Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Văn trong nhà trường phổ
thông hiện nay đã trở thành một vấn đề cấp thiết. Chúng ta đang sống
trong những năm đầu của thế kỉ XXI, thế kỉ của khoa học kĩ thuật, của công
nghệ thông tin phát triển như vũ bão khắp toàn cầu. Con người đã và đang
được hưởng thụ những thành tựu của khoa học kĩ thuật có thể nói là cao nhất
từ trước đến nay.
Chất lượng cuộc sống có liên quan mật thiết và đòi hỏi một cách khắt
khe đến chất lượng con người. Nền giáo dục Việt Nam hiện nay đang đứng
trước một thách thức lớn: làm sao đào tạo được những con người phát triển
toàn diện, có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ để đáp ứng được yêu cầu
của thời đại khoa học kĩ thuật phát triển cao.
Đảng và nhà nước ta luôn xác định "Giáo dục là quốc sách hàng đầu"
trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đảng ta đã chỉ đạo: "Đổi
mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục; chuyển từ việc truyền đạt tri thức
thụ động: thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy
trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự
thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp ...".
Nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo của giáo dục trong thời kỳ mới, môn Văn
cũng như các môn học khác trong nhà trường THPT đã và đang đứng trước

Trong thực tiễn dạy học hiện nay, không ít thầy cô vẫn quen lối dạy đọc
chép, cung cấp kiến thức sẵn có cho học sinh, dạy học đồng loạt với những
nhiệm vụ học tập không có tính phân hóa, ít chú ý tới năng lực học tập của
từng đối tượng học sinh. Lối dạy học xưa cũ này dẫn đến hiện tượng học sinh
lĩnh hội kiến thức một cách thụ động, phụ thuộc vào thầy cô, không biết cách
xử lý khi gặp một vấn đề mới, một tác phẩm mới. Giờ học trở nên nhàm chán
khi học sinh chỉ biết ngồi nghe và ghi chép lời giảng của thầy cô. Dạy học
không có sự phân hóa nhiệm vụ theo từng đối tượng khiến học sinh hoặc quá
khó tiếp nhận, hoặc chán nản.
Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học
sinh là lấy học sinh làm trung tâm, mục đích của giờ học không chỉ là cung
cấp kiến thức mà còn là phát huy năng lực học sinh, giúp học sinh phát huy
hết khả năng của mình, chủ động lĩnh hội kiến thức. Khi đó, thầy cô là người
định hướng, dẫn dắt, giúp học sinh có được phương pháp tiếp cận tốt nhất,
hiệu quả nhất chứ không phải là người đọc cho học sinh ghi chép kiến thức.
Phương pháp dạy học này sẽ khiến học sinh phải vận động trí não nhiều hơn,
giờ học sẽ không nhàm chán, học sinh hứng thú với bài học. Đổi mới phương
pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh còn là dạy học có
tính phân hóa. Trong một lớp, mỗi học sinh sẽ có sự khác nhau về năng lực,
trình độ, khả năng tiếp thu, lĩnh hội kiến thức. Giáo viên cần phân nhóm để có
những phương pháp khác nhau với từng đối tượng khác nhau. Việc làm này sẽ
phát huy tối đa năng lực của học sinh, khiến giờ học hiệu quả, không quá cao
với học sinh này hay quá thấp với học sinh kia.
1.2.

Những năng lực nào của học sinh cần được phát huy trong giờ
học?

Mỗi học sinh đều có năng lực nhất định trong việc kiếm tìm và lĩnh hội
tri thức. Xã hội ngày càng phát triển thì năng lực của học sinh cũng phát triển

thành và phát triển ở học sinh.
- Xác định được phương pháp dạy học, các kĩ thuật dạy học phù hợp
với đối tượng học sinh.Giáo viên phải quan tâm tới việc phát huy tính tích
cực, chủ động, tự giác của học sinh, phân nhóm học sinh để có phương pháp
phù hợp. Đối với mỗi phân môn Ngữ Văn, thấm chí mỗi bài dạy chỉ tích ứng
với một số phương pháp, kĩ thuật dạy học nhất định nên giáo viên phải căn cứ
vào đối tượng học sinh và nội dung bài học để có lựa chọn phù hợp.
- Chuẩn bị các phương tiện dạy học. Ngoài việc nhắc nhở học sinh
chuẩn bị sách giáo khoa, các đồ dùng dạy học tối thiểu, giáo viên cần chuẩn bị
6


Dạy học “Nguyễn Du và Truyện Kiều” theo định hướng phát triển năng lực học sinh

máy chiếu, máy tính, bảng phụ, bút mực viết bảng, phiếu học tập, tranh ảnh...,
bố trí không gian lớp học cho phù hợp với kĩ thuật dạy học đã lựa chọn.
- Thiết kế giáo án. Đây là một bước rất quan trọng. Giáo án cần thể hiện
được giáo viên đã sử dụng các phương pháp, kĩ thuậ dạy học tích cực nào và
hình thành được ở học sinh những năng lực gì.
- Giáo viên giao việc và kiểm tra công tác chuẩn bị của học sinh. Dựa
vào nội dung bài học và phương pháp, kĩ thuật dạy học đã lựa chọn, giáo viên
giáo việc cho tập thể lớp, cho nhóm học sinh, cá nhân học sinh một cách phù
hợp. Giáo viên cũng cần lưu ý việc kiểm tra tiến độ chuẩn bị và chất lượng
công việc của các em.Sự chuẩn bị tốt của học sinh là yếu tố quyết định sự
thành công của giờ học.
Chuẩn bị của học sinh.
- Đọc, tìm tài liệu liên quan.
- Thực hiện công việc giáo viên yêu cầu.
2. Thực trạng dạy và học “Nguyễn Du và Truyện Kiều” trong nhà trường


hầu như không thắc mắc ở học sinh trong các giờ học. Giờ học vì thế khá đơn
điệu và tẻ nhạt, hầu như chỉ có giáo viên hoạt động. Chính vì không có hứng
thú, chưa có tâm thế học tập mà phần đông học sinh thiếu tích cực và tự giác
trong học tập. Ở nhiều em, việc học và soạn bài tác giả Nguyễn Du và các
đoạn trích Truyện Kiều" chỉ là để đối phó với giáo viên và các kì kiểm tra.
Đây cũng là tình trạng chung trong học Văn hiện nay ở nhiều học sinh. Trả lời
phỏng vấn của chúng tôi, không ít học sinh đã thú nhận rằng "Vì không có
thời gian, vì bài soạn khó quá nên chép trong các sách học tốt cho nhanh" mà
không tự mình soạn. Có những em dù có chuẩn bị bài nhưng lại không thực
hiện đầy đủ những yêu cầu cần thiết như phải đọc các chú thích vốn rất quan
trọng trong SGK... Rất ít học sinh thuộc lòng cả đoạn trích Trao duyên hay
Nỗi thương mình. Một số em thừa nhận đã học được một đoạn thơ dài (vì giáo
viên yêu cầu) nhưng lại "quên mất vì khó nhớ quá".
c. Học sinh chưa vượt qua được "rào chắn" của từ ngữ, vì thế chưa thực

sự hiểu và rung cảm với bài học.
Sau khi đã học xong những bài học về Nguyễn Du và Truyện Kiều trên
lớp, vẫn còn rất nhiều học sinh thừa nhận rằng mình chưa hiểu nhiều từ ngữ
trong bài học. Những kiến thức mà học sinh có được sau giờ học phải chăng là
những kiến thức bị áp đặt ? Quá trình cảm thụ văn học phải là quá trình đi từ
hiểu đến cảm. Lẽ đương nhiên muốn lĩnh hội được nội dung tác phẩm, trước
hết phải hiểu cho được lớp từ ngữ vốn là thứ công cụ vô cùng quan trọng để
nhà văn thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình. Các em còn chưa hiểu một
cách thấu đáo từ ngữ trong tác phẩm thì làm sao có thể hiểu thấu đáo nội dung
của nó? Giờ dạy của giáo viên trên lớp cũng đã bộc lộ điều này: hầu hết giáo
8


Dạy học “Nguyễn Du và Truyện Kiều” theo định hướng phát triển năng lực học sinh


9


Dạy học “Nguyễn Du và Truyện Kiều” theo định hướng phát triển năng lực học sinh

chiều và vì học sinh không tích cực tham gia hoạt động học tập nên không
hứng thú, không thực sự hiểu bài.
b. Dạy bài nào biết bài nấy
Ít giáo viên chú ý đến những vấn đề khác có liên quan đến bài học (như
học sinh đã biết cái gì, đã được học cái gì) là một thực tế khá phổ biến ở giáo
viên dạy Văn hiện nay. Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về cuộc đời và sự
nghiệp sáng tác của Nguyễn Du, giáo viên ít chú ý tới mối quan hệ giữa nhà
thơ với thời đại mà ông sống. Đa số giáo viên chưa liên hệ, vận dụng những
kiến thức học sinh đã học - trong bài khái quát giai đoạn văn học - để giúp học
sinh khắc sâu được mối quan hệ này. Chưa chú ý đúng mức tới mối quan hệ
của Nguyễn Du với thời đại mình (bao gồm thái độ ứng xử cửa nhà thơ trong
nhiều mối quan hệ: với thời cuộc, với nhân dân và danh lợi...), người thầy như
vậy chưa khắc sâu được cho học sinh bài học về nhân cách Nguyễn Du. Với
cách dạy như thế này, học sinh mới chỉ biết Nguyễn Du với tư cách là một nhà
thơ lớn của dân tộc, là tác giả của kiệt tác Truyện Kiều. Ấn tượng về Nguyễn
Du như một nhân cách lớn - một niềm tự hào có tác dụng giáo dục đạo đức
cho thế hệ trẻ chưa thật sâu đậm trong học sinh.
c. Giờ dạy khô khan, thiếu những minh họa cần thiết
Giờ dạy về tác gia văn học là giờ dạy mà người thầy phải huy động
nhiều kiến thức cũng như năng lực sư phạm của mình. Khảo sát một số giờ
dạy tác gia Nguyễn Du, chúng tôi có cảm nhận rằng những giờ dạy này còn
khô khan, thiếu những minh họa cần thiết để cụ thể hóa những kiến thức
khái quát trong bài học. Những tư liệu về cuộc đời, về tác phẩm hoặc những
nhận định, đánh giá của các nhà nghiên cứu có uy tín về Nguyễn Du, về
Truyện Kiều chưa được giáo viên chú ý khai thác để giờ học trở nên sinh động

Giáo viên ít giảng giải từ ngữ khó

Tính chất dàn đều và sự hạn chế về thời lượng các giờ học không cho
phép giáo viên đi vào phân tích cặn kẽ tất cả những từ ngữ khó. Để giúp học
sinh vượt qua được lớp "rào chắn" từ ngữ trong các trích đoạn Truyện Kiều,
người thầy phải có một cách thức, một phương pháp nào đó. Trên thực tế, giáo
viên ít giảng giải từ ngữ khó cho học sinh cũng như không thường xuyên
kiểm tra việc đọc các chú thích trong SGK của các em. Có lẽ vì vậy mà học
sinh, với sự áp đặt của người thầy, chỉ nắm được bài học trên những nét lớn chứ
không thực sự hiểu và "cảm" được cái hay, cái đặc sắc của câu thơ Kiều.
Xuất phát từ thực tế giảng dạy bài tác giả Nguyễn Du và các đoạn trích
“Truyện Kiều” trong chương trình Ngữ Văn 10 hiện nay, chúng tôi nhận thấy
việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo định hướng phát triển năng lực học
sinh là rất cần thiết và cần thực hiện ngay, để các bài học trở nên sinh động,
truyền được cảm hứng đến học sinh, giúp học sinh chủ động tiếp nhận văn bản,
hiểu và ghi nhớ văn bản, hình thành và phát triển những năng lực cần thiết.

11


Dy hc Nguyn Du v Truyn Kiu theo nh hng phỏt trin nng lc hc sinh

3. i mi phng phỏp dy v hc Nguyn Du v Truyn Kiu

trong chng trỡnh Ng Vn 10 theo nh hng phỏt trin nng
lc hc sinh
Xut phỏt t thc trng dy hc tỏc gi Nguyn Du v cỏc on trớch
Truyn Kiu nh trờn, t yờu cu i mi phng phỏp dy hc theo nh
hng phỏt trin nng lc hc sinh, chỳng tụi ó ỏp dng cỏc phng phỏp
mi nh sau:

GV: Son giỏo ỏn v c ti liu tham kho.
HS: Chun b bi theo phiu hc tp.
Phng tin thc hin
Sỏch giỏo khoa, sỏch giỏo viờn, sỏch tham kho
Bng ph, bỳt vit bng, nam chõm, thc di, mỏy chiu, mỏy tớnh.
Phng phỏp
12


Dy hc Nguyn Du v Truyn Kiu theo nh hng phỏt trin nng lc hc sinh

E.
F.

Tho lun nhúm
Gi m, thuyt trỡnh.
Cỏc nng lc cn hỡnh thnh
Nng lc s dng cụng ngh thụng tin v truyn thụng.
Nng lc gii quyt vn .
Nng lc t hc.
Nng lc hp tỏc.
Nng lc t qun bn thõn
Nng lc sỏng to.
Nng lc thuyt trỡnh
Nng lc tng hp, khỏi quỏt
Nng lc m rng, so sỏnh.
Tiến trình lên lớp

Hot ng 1: Khi ng: GV cho HS xem 1 video v tỏc gi Nguyn Du
Hot ng 2: Hỡnh thnh kin thc

PP

dy hc
-S

nh

- GV chia lớp

I. Cuộc đời: Nguyễn Du. (15p)

dng

thành 3 nhóm, yêu

cõu hi

cầu các hóm trình

-S

bày sơ đồ t duy về nhiều phen thay đổi sơn hà:
cuộc đời Nguyễn

1.Thời đại:

Nng lc

- Có những biến cố lịch sử dữ dội, gii


-

triều đại Quang Trung và công cuộc phục Nng lc
? Hoàn cảnh hng của nhà Nguyễn.
t hc
2. Quê hơng, gia đình:
xuật thân có điều gì
- Quê cha: Hà Tĩnh. Quê mẹ: Bắc Nng lc
đặc biệt ảnh hởng
nh thế nào.

tới sáng tác của Ninh.
Nguyễn Du.

- Sinh ra trong một gia đình quí tộc,

s dng

cụng
quyền
quí,

truyền
thống
yêu
văn
chơng,
- Trình bày
ngh
nhiều

biết về cuộc sống phong lu, xa hoa của giới
GV chốt lại
quý tộc phong kiến cũng nh thân phận các Nng lc
những nội dung
thuyt
ca nhi, kĩ nữ.
chính và bổ sung
3. Những sự kiện chính trong cuộc trỡnh
kiến thức, trình
chiếu sơ đồ t duy đời.
- 1783, Nguyễn Du thi Hơng đỗ tam Nng lc
của Gv trên PP cho
trờng và đợc tập ấm một chức quan võ nhỏ m rng,
HS tham khảo.
so sỏnh
ở Thái Nguyên.
14


Dy hc Nguyn Du v Truyn Kiu theo nh hng phỏt trin nng lc hc sinh

- Kiêu binh nổi loạn, Tây Sơn ra Bắc,

-

Nguyễn Du chạy trốn -> cơ bản cuộc đời Nng lc
Nguyễn Du lại lăn lộn trong nhiều khổ đau sỏng to
và gió bụi của cuộc đời. Ông nhiều năm
phiêu bạt trên đất Bắc (1786 - 1796) rồi về
ở ẩn tại quê nhà Hà Tĩnh (1796 - 1802).


phong phú, một trái tim giàu cảm xúc, một
tài năng văn chơng kiệt xuất.

Phng
phỏp
tho

GV chia lớp

lun

thành 3 nhóm, yêu

nhúm

cầu các nhóm lập sơ

- Sáng tác chữ Hán:

đồ t duy về sự

+ Thanh Hiên thi tập (78 bài)

nghiệp sáng tác của

+ Nam trung tạp ngâm (40 bài)

Nguyễn Du.


thơmg đối với nhiều hạng ngời, đặc biệt là

GV yêu cầu những thân phận bé nhỏ);
+ Truyện Kiều: thể loại truyện thơ
HS trình bày sơ đồ
t duy trên bảng phụ, Nôm, là một kiệt tác của văn chơng dân
dán lên bảng chính. tộc.
Đại diện một nhóm

. Cốt truyện vay mợn từ Kim Vân

lên thuyết trình trớc Kiều trong của Thanh Tâm Tài Nhân.
. Sự sáng tạo mới:
lớp. Các nhóm khác
nhận xét, góp ý.

->Cảm hứng sáng tác trong Truyện

GV chốt lại Kiều là từ "những điều trôing thấy mà đau
những nội dung đớn lòng". Nguyễn Du đã biến câu chuyện
chính và bổ sung tình thành một khúc đoạn trờng về ngời tài
kiến thức, trình hoa mệnh bạc.
chiếu sơ đồ t duy

-> Truyện Kiều trở thành tiểu thuyết

của Gv trên PP cho bằng thơ nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí đặc
16



tạo
của rong, ngời ca nhi, ngời kĩ nữ. Đặc biệt,

GV
Din
ging
m
thoi

mạnh
sáng

Nguyễn Du trong Nguyễn Du là ngời đầu tiên trong VHTĐ
sáng tác Truyện nêu lên một cách tập trung vấn đề thân
Kiều

phận những ngời phụ nữ có sắc đẹp, có tài
năng văn chơng nghệ thuật. (Thúy Kiều,
ngời ca nữ đất Long Thành)
- Những triết lí về cuộc đời và con
ngời có sức khái quát cao và thấm đẫm cảm
xúc.
- Đòi hỏi xã hội phải trân trọng những
giá trị tinh thần (nghệ thuật, thơ ca) và chủ
nhân sáng tạo ra những giá trị đó. (Đây là một
trong những khía cạnh biểu hiện cái nhìn
nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của Nguyễn Du.)
b) Nghệ thuật:
- Sử dụng thành công nhiều thể thơ
của Trung Quốc: ngũ ngôn, thất ngôn, ca,

ông trong văn học viết lên từ tấm lòng tê tái thơng yêu và một
dân tộc ?

tài năng văn chơng lỗi lạc. Các sáng tác của
ông có giá trị và sức sống lâu bền trong
lòng bạn đọc, nh Xuân Diệu từng tâm sự:
"ánh sơng sớm của thơ Kiều ấp cho tâm
hồn tôi nở những nụ thắm đầu tiên"

Hot ng 3: Cng c v luyn tp
Cõu 1: Nhn nh no khỏi quỏt ỳng nht v cuc i Nguyn Du?
A. Cuc i quớ tc, xa hoa
B. Cuc i phong trn, giú bi
C. Cuc i nhiu thng trm, khi y , xa hoa, khi li lm than, c cc.
D. C A, B, v C

Cõu 2: Dũng no khụng phi l mt c im ni dung trong sỏng tỏc
ca Nguyn Du?
A. Tỡnh cm chõn thnh vi nhng con ngi nh bộ, bt hnh.
B. Trit lý v cuc i v con ngi cú sc khỏi quỏt v giu cm xỳc.
C. ũi hi xó hi trõn trng nhng giỏ tr tinh thn v ch nhõn sỏng to ra

nú.
D. Miờu t tõm lý nhõn vt sõu sc.

Hot ng 4: Vn dng
Vn dng kin thc v tỏc gi Nguyn Du, tr li cõu hi: Ti sao Nguyn Du
c mnh danh l bc i thi ho, danh nhõn vn húa ca nhõn loi?
Hot ng 5: M rng kin thc
18

HS: Chun b bi theo phiu hc tp.
C. Phng tin thc hin

-

Sỏch giỏo khoa, sỏch giỏo viờn, sỏch tham kho
Bng ph, bỳt vit bng, nam chõm, thc di, mỏy chiu, mỏy tớnh.
D. Phng phỏp

-

Tho lun nhúm
Gi m, thuyt trỡnh.
E. Cỏc nng lc cn hỡnh thnh

-

Nng lc s dng cụng ngh thụng tin v truyn thụng.
Nng lc gii quyt vn .
Nng lc t hc.
Nng lc hp tỏc.
Nng lc t qun bn thõn
Nng lc sỏng to.
Nng lc thuyt trỡnh
Nng lc cm nhn, thng thc vn hc
Nng lc tng hp, khỏi quỏt
Nng lc m rng, so sỏnh.
F. Tiến trình lên lớp
Hot ng 1: Khi ng
Câu 1: Đặc điểm nội dung của những sáng tác của Nguyễn Du là:


Nội dung cần đạt

và HS

hng

PP

dy hc
-S

nh
nng lc

GV chia lp thnh 3 I. Tiểu dẫn:

-

dng

nhúm, yờu cu HS tng 1. Vị trí đoạn trích:

Nng lc

cõu hi

nhúm lp s t duy th

- Từ câu 723 đến 756.


- Đoạn 2 (còn lại): Tâm trạng bi Nng lc

cỏc nhúm khỏc so sỏnh v kịch của Kiều sau khi trao duyên.

t hc

nhn xột.

-

-GV chnh sa s II. Đọc hiểu văn bản:

Nng lc

t duy, khng nh li v 1. 14 câu thơ đầu

s dng

trớ ca on trớch, trỡnh * Li trao duyờn

cụng

chiu s t duy HS

- Mở đầu: Cậy em....sẽ tha

ngh

tham kho.

lc
không lỡ duyên.
nhận có ý nghĩa đợc hỏí ý kiến, đợc thuyt
Kiều muốn nhờ em suy tính lựa chọn, còn chịu hàm
trỡnh
thay mình trả nghĩa KT nghĩa bị gán ép, bắt buộc, nhận làm
-Nng
nhng thật khó mở lời. Tình một việc mà mình không tự nguyện
lc cm
yêu với chàng Kim vốn chỉ hoặc rất khó từ chối.
th,
mình biết, mình hay, cha
Chữ cậy ứng với chữ chịu
thng
mẹ và em đều không biết, lời đã đợc ND cân nhắc rất kĩ, khiến
thc vn
chỉ có vầng trăng làm câu mở lời của Kiều vừa là một lời hc
chứng nhng trăng chẳng ớm hỏi nhng thực chất là cầu xin, nài
thể nói lên lời. Nay muốn ép em phải nghe mình, phải nhận
nhờ cậy em, phải bộc bạch điều mà mình sắp nhờ cậy.
hết, Kiều thấy xấu hổ, ng-

+ Hành động: Kiều mở lời

Nng lc

ợng ngùng: Hở môi ra nhờ em mà kèm theo hành động m rng,
22



Cõu 1: Tỡm hiu li thụng minh, khộo lộo v rt mc
trao duyờn ca Thỳy chõn thnh ca Thỳy Kiu, t
Thỳy Võn vo tỡnh th khú cú th
Kiu
- Trc khi núi li chi t.
trao duyờn, Thỳy Kiu ó
- Kiu a ra cỏc lớ do

dựng li l nh th no

trong hai cõu th u? í thuyt phc Thỳy Võn nhn li.
+ Nhc li tỡnh yờu Kim
ngha ca cỏch dựng t
ca Thỳy Kiu?

Kiu
> Mt tỡnh yờu p nh hoa

- Thỳy Kiu ó a
ra nhng lớ do no mng
thuyt phc Thỳy Võn

K t khi..... chén thề

nhn li? Em cú nhn xột

Điệp từ Khi đứng đầu mỗi vế

gỡ v ngụn ng, ging iu
trong li núi ca Thỳy

S

õu

súng

giú

bt

sỏnh vi bi lm ca nhúm kỡ..vn hai
. Sóng gió bất kì, đó là khi
mỡnh v nhn xột, trao i.
- GV nhn xột phn gia đình gặp biến, chị khó lòng trọn
trỡnh by ca 3 nhúm, cả tình lẫn hiếu, nên đành hi sinh
chnh sa v cht li chữ tình để làm tròn chữ hiếu, tình
nhng ni dung c bn.

yêu đành đứt gánh giữa đờng:
Gia

ng

t

gỏnh

tng t
. Thành ngữ đứt gánh giữa đờng đợc Nguyễn Du sử dụng sáng
tạo, nói lên sự dở dang, nỗi bi kịch

Chị dù thịt nát xơng mòn....
.

Thịt nát xơng mòn và

Ngậm cời chín suối là những thành
ngữ gợi liên tởng đến cái chết, cũng
đồng thời cho thấy sự hài lòng, mãn
nguyện của Thúy Kiều nếu đợc
Thúy Vân nhận lời. (Em làm đợc
việc đó thay chị thì chị dù có thịt
nát xơng mòn cũng vẫn ngậm cời
nơi chín suối và thơm lây cái hành
động cao quý của em.). Kiều phải
lấy cả linh hồn của kẻ bạc mệnh là
mình để thuyết phục Vân, khiến lời
trao duyên không chỉ là sự nài ép
mà có sức nặng của một lời trăng
trối, khiến Vân không thể chối từ.
Kiều đã ghìm nén nỗi đau
xót của riêng mình, dùng lí trí để
nói một cách rõ ràng, rành mạch,
hợp lí, hợp tình và Thuý Vân hoàn
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status