Phân tích điểm mới của BLDS 2015 về biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ - Pdf 41

MỤC LỤC

1


LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường Việt Nam hội nhập ngày càng sâu
rộng với nền kinh tế quốc tế thì các giao dịch dân sự, thương mại được xem như
một công cụ hữu hiệu giúp cho các chủ thể tìm kiếm được lợi ích của mình. Một
nền kinh tế năng động luôn chứa đựng những yếu tố rủi ro và việc nhận biết chúng,
khắc phục và ngăn chặn những rủi ro ngay từ chính những giao dịch được ký kết là
một cách làm khôn ngoan và chủ động mà các nhà làm luật đã dự phòng thông qua
việc thiết kế kế quy định pháp luật về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sư. Và Bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Thực tiễn xét xử các vụ án dân sự, kinh tế tại tòa án cũng thể hiện sự bất nhất
trong áp dụng cácqui định pháp luật về bảo đảm. Nhiều bản án sơ thẩm về các giao
dịch vay mượn trong dân sự, tín dụng ngân hàng có liên quan đến bảo lãnh, thế
chấp, cầm cố bị kháng cáo, kháng nghị để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, bản án
đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Trong số đó
không ít các vụ án bị Toà phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm; Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm chấp nhận kháng cáo kháng nghị, tuyên huỷ, trả lại cấp sơ thẩm xét xử lại.
Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ đưa ra những suy nghĩ về các qui
định pháp luật liên quan đến các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong sự .
Trên cơ sở đó đề cập đến một vài vấn đề cần xem xét, nghiên cứu để sửa đổi bổ
sung BLDS.
2. Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu các quy định hiện hành về những vấn đề
chung và những điểm mới của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
năm 2015. Bên cạnh đó còn một mục tiêu hướng đến là tìm ra những điểm chưa
hợp lý và đề xuất, kiến nghị ý kiến điều chỉnh.


- Về mặt khách quan là sự quy định của pháp luật, cho phép các chủ thể trong giao
dịch dân sự hoặc các quan hệ dân sự khác áp dụng các biện pháp mà pháp luật cho
phép để bảo đảm cho một nghĩa vụ chính được thực hiện đồng thời xác định và đảm

-

bảo quyền, nghĩa vụ của các bên trong các biện pháp đó.
Về mặt chủ quan là việc thỏa thuận giữa các bên nhằm qua đó đặt ra các biện pháp
tác động mang tính chất dự phòng để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ đồng
thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc không thực hiện hoặc thực

hiện không đúng nghĩa vụ gây ra.
• Đặc điểm
- Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đều có những đặc điểm chung
như sau:
+ Các biện pháp bảo đảm mang tính chất bổ sung cho nghĩa vụ chính: Các
biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự không tồn tại độc lập mà luôn phụ
thuộc và gắn liền với một nghĩa vụ nào đó. Sự phụ thuộc thể hiện ở chỗ: khi có
quan hệ nghĩa vụ chính thì các bên mới cùng nhau thiết lập một biện pháp bảo đảm.
+ Các biện pháp bảo đảm đều có mục đích nâng cao trách nhiệm của các bên
trong quan hệ nghĩa vụ dân sự. : Thông thường khi đặt ra biện pháp bảo đảm, các
bên hướng tới mục đích nâng cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của người có
nghĩa vụ. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, các bên còn hướng tới mục đích nâng
cao trách nhiệm trong giao kết hợp đồng của cả hai bên.
+ Các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ chỉ được áp dụng khi có sự vi phạm nghĩa
vụ.: Thông thường trong một quan hệ nghĩa vụ dân sự, bên có nghĩa vụ tự giác thực
hiện nghĩa vụ của họ đối với người có quyền và nếu đến thời hạn mà bên có nghĩa
vụ đã thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ của mình thì biện pháp bảo đảm nghĩa vụ đó
cũng được coi là chấm dứt. Chức năng dự phòng của các biện pháp bảo đảm cho

1.2.1. Nguyên tắc thực hiện biện pháp bảo đảm
Khoản 2 Điều 318 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định nguyên tắc thực hiện
biện pháp bảo đảm, đó là nguyên tắc dựa trên quy định của pháp luật hoặc căn cứ
vào thảo thuận của các bên. Điều đó có nghĩa là, trong trường hợp pháp luật có quy
định về việc các bên phải quy định biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ,thì các
bên buộc phải thực hiện nghĩa vụ đó.Trong trường hợp pháp luật không quy định

5


các bên có nghĩa vụ quy định biện pháp bảo đảm khi giao kết hợp đồng, v.v., thì
việc có quy định biện pháp bảo đảm hay không là tuỳ thuộc vào ý chí của các bên.
Trong trường hợp các bên không quy định về biện pháp bảo đảm và luật pháp cũng
không quy định về biện pháp bảo đảm,thì không bên nào có nghĩa vụ thực hiện bất
kỳ biện pháp bảo đảm nào.
1.2.2. Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
BLDS quy định 7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ lần lượt bao gồm:
cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp.

• Về biện pháp cầm cố tài sản
- Khái niệm
Cầm cố tài sản là việc một bên giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình
cho bên kia để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, quy định pháp luật và các phân
tích liên quan đến vấn đề cầm cố tài sản, cụ thể như sau:
Theo quy định của luật dân sự hình thức cầm cố tài sản: Việc cầm cố tài sản
phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp
đồng chính.

- Thời hạn cầm cố tài sản:
Thời hạn cầm cố tài sản do các bên thoả thuận. Trong trường hợp không có

Trong trường hợp tài sản được dùng để cầm cố có nhiều vật thì bên nhận
cầm cố được chọn tài sản cụ thể để xử lý, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Bên
nhận cầm cố chỉ được xử lý số tài sản cần thiết tương ứng với giá trị của nghĩa vụ
được bảo đảm; nếu xử lý quá số tài sản cần thiết và gây ra thiệt hại cho bên cầm cố
thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố.

- Thanh toán tiền bán tài sản cầm cố:
Tiền bán tài sản cầm cố được sử dụng để thanh toán nghĩa vụ cho bên nhận
cầm cố sau khi trừ chi phí bảo quản, bán tài sản và các chi phí cần thiết khác có liên
quan để xử lý tài sản cầm cố; trong trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm là khoản vay
thì thanh toán cho bên nhận cầm cố theo thứ tự nợ gốc, lãi, tiền phạt, tiền bồi
thường thiệt hại nếu có; nếu tiền bán còn thừa thì phải trả lại cho bên cầm cố; nếu
tiền bán còn thiếu thì bên cầm cố phải trả tiếp phần còn thiếu đó.

- Chấm dứt cầm cố tài sản
Việc cầm cố tài sản chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
+ Nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt;
+ Việc cầm cố tài sản được huỷ bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo
đảm khác;
+ Tài sản cầm cố đã được xử lý;
+ Theo thoả thuận của các bên.

- Trả lại tài sản cầm cố
Khi việc cầm cố tài sản chấm dứt theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
339 của Bộ luật Dân sự 2005 thì tài sản cầm cố, giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu

7


được trả lại cho bên cầm cố. Hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản cầm cố cũng được


8


c) Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất: theo quy định của pháp luật nước
ta, cá nhân không có quyền sở hữu đối với đất đai nhưng có quyền sử dụng đất và
họ được dùng quyền sử dụng đất để thế chấp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
d) Tài sản thế chấp là tài sản sẽ hình thành trong tương lai ( khoản 1, điều
342 BLDS) ngoài việc dùng các tài sản hiện có để thế chấp, bên có nghĩa vụ còn
được dùng các tài sản sẽ hình thành trong tương lai để thực hiện thế chấp đảm bảo
thực hiện nghĩa vụ dân sự.

- Xử lí tài sản thế chấp và chấm dứt việc thế chấp: (Điều 35, 357 BLDS)
+ Nếu đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên thế chấp không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì tài sản thế chấp được xử lí để thực hiện
nghĩa vụ
+ Về nguyên tắc, việc xử lí tài sản thế chấp được thực hiện thông qua việc
bán đấu giá. Tuy nhiên nếu có thỏa thuận của các bên trước khi đến thời hạn thực
hiện nghĩa vụ thì các bên thực hiện theo thỏa thuận đó về việc xử lí tài sản thế chấp
+ Trong trường hợp phải xử lí tài sản thế chấp để thực hiện một nghĩa vụ đến
hạn mà tài sản đó được dùng thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ thì các nghĩa vụ khác
dù chưa đến hạn cũng được coi là đến hạn. Quyền được ưu tiên thanh toán của
những người nhận thế chấp được xác định theo thứ tự đăng kí thế chấp.
+ Nếu nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp thế chấp đã được thực hiện
xong thì biện pháp thế chấp đó đương nhiên được coi như chấm dứt.

• Về biện pháp đặt cọc
- Khái niệm
Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quí,
đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để

các chủ thể chưa có quan hệ nghĩa vụ.
Mục đích của đặt cọc do các bên chủ thể thỏa thuận. Việc chỉ ra mục đích
của đặt cọc có ý nghĩa quan trọng để xác định hiệu lực của đặt cọc.
Trường hợp thỏa thuận đặt cọc được phát sinh trước khi các bên thiết lập
nghĩa vụ mà các bên không thỏa thuận về mục đích của đặt cọc thì biện pháp đặt
cọc đó sẽ đảm bảo giao kết hợp đồng. Khi thỏa thuận đặt cọc có hiệu lực pháp lý
nó sẽ ràng buộc các bên trong quan hệ buộc phải giao kết hợp đồng. Nếu các bên vi
phạm thỏa thuận này thì sẽ phải chịu chế tài. Trường hợp này, thỏa thuận đặt cọc
mặc nhiên chấm dứt hiệu lực pháp luật khi hợp đồng đã được giao kết bởi mục đích
của biện pháp đặt cọc đã đạt được.
Trường hợp thỏa thuận đặt cọc được phát sinh sau khi hợp đồng đã được
giao kết thì mục đích của đặt cọc là nhằm thực hiện hợp đồng.
Đối với trương hợp các bên chủ thể thỏa thuận mục đích của đặt cọc là vừa
nhằm giao kết hợp đồng, vừa nhằm thực hiện hợp đồng thì hiệu lực của thỏa thuận
đặt cọc kéo dài từ khi các bên giao kết thỏa thuận đặt cọc đến khi giao kết hợp đồng

10


và hoàn thành việc thực hiện hợp đồng. Trong quá trình này tài sản đặt cọc có thể
được đem ra xử lý bất cứ lúc nào khi có hành vi vi phạm xảy ra.

- Xử lý tài sản đặt cọc
Thông thường có hai phương thức xử lý tài sản đặt cọc nói riêng và tài sản
bảo đảm nói chung là do các bên thỏa thuận hoặc bán đấu giá. Theo đó nếu các bên
có thỏa thuận thì tài sản đặt cọc được xử lý theo thỏa thuận; nếu các bên không có
thỏa thuận hoặc có nhưng trái pháp luật thì tài sản đặt cọc xử lý theo quy định của
pháp luật:
+ Nếu hợp đồng được giao kết, thực hiện theo đúng thỏa thuận: tài sản đặt
cọc hoặc sẽ được trở về cho bên đặt cọc hoặc được trừ vào để thực hiện nghĩa vụ trả

Do vậy, những biện pháp này cũng chủ yếu được áp dụng đối với những hợp đồng
thuê tài sản có giá trị nhỏ, hay việc sử dụng tài sản dễ bị hư hỏng.
- Mục đích: Ký cược có mục đích nhằm đảm bảo:
+ Bên nhận ký cược lấy tiền thuê tài sản;
+ Bên ký cược lấy lại toàn bộ tài sản hay một phần giá trị tài sản cho thuê
trong trường hợp tài sản cho thuê không còn hoặc trong trường hợp bên thuê không
trả lại tài sản thuê.
Vì vậy khi ký cược, hai bên phải thoả thuận về thời hạn khi nào bên thuê
phải giao lại tài sản. Thời hạn ký cược là thời hạn cho thuê tài sản. Về hình thức ký
cược, Bộ luật dân sự 2005 không quy định phải được thành lập văn bản, do đó việc
ký cược không nhất thiết phải được thành lập văn bản mà có thể thoả thuận bằng
miệng cũng có giá trị pháp lý. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, đối với trường hợp tài sản
có đăng ký quyền sở hữu thì văn bản ký cược là chứng cứ để bên cho thuê tài sản
thực hiện đăng ký chuyển quyền sở hữu tài sản ký cược từ bên thuê sang bên cho
thuê.
- Hậu quả pháp lý đối với ký cược: Nếu đến hạn bên thuê trả lại tài sản thuê
theo đúng thoả thuận thì tài sản kí cược được trả lại cho bên thuê sau khi trừ tiền
thuê; nếu đến hạn bên thuê không trả lại tải sản thuê thì tài sản ký cược thuộc sở
hữu của bên cho thuê. Khi đó bên thuê phải có nghĩa vụ tiến hành các thủ tục pháp
lý cần thiết để sang tên, chuyển quyền sở hữu tài sản ký cược.
Với hậu quả pháp lý như trên ta sẽ thấy rằng trong việc xử lý tài sản ký cược
có các trường hợp sau:
+ Bên thuê trả lại tài sản thuê. Khi bên thuê trả lại tài sản thì bên cho thuê
phải trả lại tài sản ký cược, nhưng được trừ tiền thuê chưa trả. Để thực hiện được
việc trả lại tài sản ký cược và tài sản thuê thì bên thuê phải có nghĩa vụ giữ gìn tài
sản thuê và sử dụng đúng mục đích đã thuê, đúng công dụng của tài sản đã thuê, và
bên cho thuê (bên nhận ký cược) có nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn tài sản ký cược;

12


sản đối với ký quỹ, quyền tài sản không thể được dùng để ký quỹ.
Trong khi đặt cọc và ký cược thì tài sản bảo đảm được giao cho bên nhận bảo
đảm còn đối với ký quỹ, tài sản không được giao cho bên nhận bảo đảm. Việc ký

13


quỹ có thể được thực hiện trước khi xác định được bên có quyền. Hướng dẫn về
giao dịch bảo đảm ký quỹ, Điều 34 Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định: Tài sản
ký quỹ theo quy định tại khoản 1 Điều 360 Bộ luật Dân sự được gửi vào tài khoản
phong toả tại ngân hàng thương mại để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Bên ký
quỹ có thể thực hiện việc ký quỹ tài sản một lần hoặc nhiều lần tùy theo thỏa thuận
của các bên hoặc pháp luật quy định.
Theo Nghị định 83/2010/NĐ-CP về đăng ký giao dịch bảo đảm, điều 3 liệt
kê các giao dịch bảo đảm yêu cầu phải đăng ký không liệt kê biện pháp bảo đảm ký
quỹ, vì vậy ký quỹ là giao dịch bảo đảm không bắt buộc phải đăng ký nếu không có
yêu cầu của các bên, vẫn có hiệu lực nếu các bên tuân thủ đúng các quy định của
pháp luật.
- Mục đích: Trong ký quỹ bên bảo đảm là bên có nghĩa vụ cam kết bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ dân sự, bên nhận bảo đảm là bên có quyền được ngân hàng
thanh toán bồi thường thiệt hại khi bên bảo đảm không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ của mình.
- Hậu quả pháp lý: Điều 37 Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định về nghĩa
vụ của bên ký quỹ như sau:
1. Thực hiện ký quỹ tại ngân hàng mà bên có quyền được ngân hàng thanh
toán, bồi thường thiệt hại chỉ định hoặc chấp nhận.
2. Nộp đủ tài sản ký quỹ theo đúng thoả thuận với bên có quyền được ngân
hàng thanh toán, bồi thường thiệt hại.
3. Thoả thuận với ngân hàng nơi ký quỹ về điều kiện thanh toán theo đúng
cam kết với bên có quyền được ngân hàng thanh toán, bồi thường thiệt hại.

đồng riêng; hoặc có thể bên bảo lãnh tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có
nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không biết và bên bảo lãnh cũng không yêu cầu bên
được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ hoàn lại. Do vậy, bảo lãnh là quan hệ pháp lý,
theo đó bên thứ ba cam kết trước bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên
có nghĩa vụ nếu đến hạn mà nghĩa vụ bị vi phạm.

• Về biện pháp tín chấp
- Khái niệm:
Tín chấp là việc Tổ chức chính trị - xã hội được pháp luật cho phép bảo đảm
(bằng tín chấp) cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại ngân hàng
hoặc tổ chức tín dụng khác để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ. Việc cho vay có
bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản có ghi rõ số tiền vay, mục đích
vay, thời hạn vay, lãi suất, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người vay, ngân
hàng, tổ chức tín dụng cho vay và tổ chức bảo đảm.

- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam kết

15


Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức tín dụng và tổ chức chính trị – xã hội
kiểm tra việc sử dụng vốn vay
Trả nợ đầy đủ cả gốc và lãi vay đúng hạn cho tổ chức tín dụng
Hiện nay BLDS chưa quy định rõ về vai trò cụ thể của tổ chức đứng ra bảo
đảm tín chấp. Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định chi tiết hơn về quyền và nghĩa
vụ của tổ chức chính trị – xã hội đứng ra tín chấp. Ở đây, những tổ chức này có
nghĩa vụ:
Xác nhận theo yêu cầu của tổ chức tín dụng về điều kiện, hoàn cảnh của cá
nhân, hộ gia đình nghèo khi vay vốn tại tổ chức tín dụng đó
Chủ động hoặc phối hợp chặt chẽ với tổ chức tín dụng giúp đỡ, hướng dẫn,

đăng kí tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì mới phát sinh hiệu lực pháp luật.

• Hiệu lực
BLDS 2015 có sự phân định rõ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng với thời
điểm phát sinh hiệu lực của biện pháp bảo đảm đối với người thứ ba (hay “hiệu lực
đối kháng với người thứ ba” – một cách gọi khác được sử dụng trong BLDS 2015).

- Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng:
Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng: Về nguyên tắc, hợp đồng được giao kết
hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc luật
có quy định khác (Điều 401 BLDS 2015).
Một trong những điểm mới của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 đó
là một số trường hợp, các quy định của Luật là các quy định ưu tiên áp dụng. Điều
này phần nào tránh được các vướng mắc khi áp dụng pháp luật bao gồm các quy
định chồng chéo của Luật, Nghị định, thông tư.

- Thời điểm đối kháng với người thứ ba:
Khác với BLDS năm 2005 khi chưa có quy định cụ thể về cách xác định thời
điểm phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba, BLDS 2015 đã quy định thời
điểm biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba cũng như
phương thức làm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba là: đó là: (i) Nắm
giữ hoặc chiếm giữ tài sản bảo đảm và (ii) Đăng ký biện pháp bảo đảm (Điều 297
BLDS năm 2015).
Việc quy định rõ thời điểm biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng
với người thứ ba giúp bên nhận bảo đảm có căn cứ xác định thời điểm được quyền
truy đòi TSBĐ và được quyền thanh toán theo quy định tại Điều 308 BLDS năm
2015.

17


 Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố tài sản
Bên nhận cầm cố tài sản có các nghĩa vụ sau đây:
+ Bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố; nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm
cố thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố;
+ Không được bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn tài sản cầm cố;
không được đem tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác;
+ Không được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm
cố, nếu không được bên cầm cố đồng ý;

18


+ Trả lại tài sản cầm cố khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt
hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.

 Quyền của bên nhận cầm cố tài sản
Bên nhận cầm cố tài sản có các quyền sau đây:
+ Yêu cầu người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lại tài
sản đó;
+ Yêu cầu xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thoả thuận hoặc theo
quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ;
+ Được khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài
sản cầm cố, nếu có thoả thuận;
+ Được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản
cho bên cầm cố.

• Biện pháp thế chấp tài sản
 Nghĩa vụ của bên thế chấp tài sản
Bên thế chấp tài sản có các nghĩa vụ sau đây:
1. Bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp;

6. Nhận lại tài sản thế chấp do người thứ ba giữ, khi nghĩa vụ được bảo đảm
bằng thế chấp chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.

 Nghĩa vụ của bên nhận thế chấp tài sản
Bên nhận thế chấp tài sản có các nghĩa vụ sau đây:
1. Trong trường hợp các bên thỏa thuận bên nhận thế chấp giữ giấy tờ về tài
sản thế chấp thì khi chấm dứt thế chấp phải hoàn trả cho bên thế chấp giấy tờ về tài
sản thế chấp;
2. Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm
xoá đăng ký trong các trường hợp được quy định.

 Quyền của bên nhận thế chấp tài sản
Bên nhận thế chấp tài sản có các quyền sau đây:
1. Yêu cầu bên thuê, bên mượn tài sản thế chấp trong trường hợp theo quy
định phải chấm dứt việc sử dụng tài sản thế chấp, nếu việc sử dụng làm mất giá trị
hoặc giảm sút giá trị của tài sản đó;
2. Được xem xét, kiểm tra trực tiếp tài sản thế chấp, nhưng không được cản
trở hoặc gây khó khăn cho việc sử dụng, khai thác tài sản thế chấp;
3. Yêu cầu bên thế chấp phải cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế
chấp;

20


4. Yêu cầu bên thế chấp áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn tài sản,
giá trị tài sản trong trường hợp có nguy cơ làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của
tài sản do việc khai thác, sử dụng;
5. Yêu cầu bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ tài sản thế chấp giao tài sản
đó cho mình để xử lý trong trường hợp đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa
vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ;


Bên đặt cọc có quyền yêu cầu bên nhận đặt cọc ngừng việc sử dụng tài sản
đặt cọc nếu do sử dụng mà tài sản có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị.
( Điều 31 Nghị định 163/2006/NĐ-CP)

• Về biện pháp ký cược
 Nghĩa vụ của bên ký cược
Thanh toán cho bên nhận ký cược chi phí hợp lý để bảo quản, giữ gìn tài sản
ký cược, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu tài sản ký cược cho bên nhận ký cược
đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu trong trường hợp
tài sản đó được chuyển quyền sở hữu cho bên nhận ký cược theo quy định của pháp
luật hoặc theo thoả thuận.

 Quyền của bên ký cược.
Bên ký cược có quyền yêu cầu bên nhận ký cược ngừng việc sử dụng tài sản
ký cược, nếu do sử dụng mà tài sản có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị.

 Nghĩa vụ của bên hý cược
Bảo quản, giữ gìn tài sản ký cược; không được khai thác, sử dụng tài sản đó,
trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Không được xác lập giao dịch đối với
tài sản ký cược, trừ trường hợp bên ký cược đồng ý.

 Quyền của bên nhận ký cược
Bên nhận ký cược có quyền sở hữu tài sản ký cược trong trường hợp tài sản
thuê không còn để trả lại cho bên nhận ký cược, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

• Về biện pháp tín chấp
 Quyền của tổ chức chính trị - xã hội:
Tổ chức chính trị - xã hội có quyền từ chối bảo đảm bằng tín chấp, nếu xét

định về quan hệ dân sự và quan hệ kinh tế nên các biện pháp bảo đảm ghi nhận
trong BLDS chỉ áp dụng đối với các nghĩa vụ dân sự mà không phải là nghĩa vụ tài
sản nói chung, bao hàm cả trong lĩnh vực kinh tế, vì vậy cần có các giải pháp mới
nhằm thay đổi để giúp BLDS Việt nam phát huy được hiệu quả tốt nhất.

23


CHƯƠNG 2. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 VỀ BIỆN
PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN NGHĨA VỤ
2.1. Những điểm mới của BLDS 2015 về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Bổ sung thêm hai biện pháp bảo đảm mới, đó là “cầm giữ tài sản” và “bảo
lưu quyền sở hữu”
2.1.1. Cầm giữ tài sản

• Xác lập cầm giữ tài sản
- Cầm giữ tài sản phát sinh từ thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên
có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
- Cầm giữ tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời
điểm bên cầm giữ chiếm giữ tài sản.
(Căn cứ Điều 347 Bộ luật dân sự 2015)

• Quyền của bên cầm giữ
- Yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ hợp
đồng song vụ.
- Yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thanh toán chi phí cần thiết cho việc bảo
quản, giữ gìn tài sản cầm giữ.
- Được khai thác tài sản cầm giữ để thu hoa lợi, lợi tức nếu được bên có
nghĩa vụ đồng ý.
Giá trị của việc khai thác tài sản cầm giữ được bù trừ vào giá trị nghĩa vụ của

thời điểm đăng ký.
(Căn cứ Điều 331 Bộ luật dân sự 2015)

• Quyền đòi lại tài sản
Trường hợp bên mua không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho bên bán
theo thỏa thuận thì bên bán có quyền đòi lại tài sản. Bên bán hoàn trả cho bên mua
số tiền bên mua đã thanh toán sau khi trừ giá trị hao mòn tài sản do sử dụng. Trường
hợp bên mua làm mất, hư hỏng tài sản thì bên bán có quyền yêu cầu BTTH.
(Căn cứ Điều 332 Bộ luật dân sự 2015)

• Quyền và nghĩa vụ của bên mua tài sản
- Sử dụng tài sản và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản trong thời hạn bảo lưu
quyền sở hữu có hiệu lực.
- Chịu rủi ro về tài sản trong thời hạn bảo lưu quyền sở hữu, trừ trường hợp
có thoả thuận khác.
(Căn cứ Điều 333 Bộ luật dân sự 2015)

• Chấm dứt bảo lưu quyền sở hữu
Bảo lưu quyền sở hữu chấm dứt trong trường hợp sau:
- Nghĩa vụ thanh toán cho bên bán được thực hiện xong.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status