ĐỀ CƯƠNG ÔN THI HỌC PHẦN TÂM LÝ HỌC DÂN TỘC
1. Nguyên nhân của định kiến dân tộc. Đề xuất những phương thức
giảm thiểu tính định kiến dân tộc?
Trong đời sống tâm lý của một nhóm, của một cộng đồng người của chúng
ta có thể quán sát và chứng kiến những biểu hiện khác nhau trong giao tiếp, trong
ứng xử, mà một trong số đó là hiện tượng định kiến.
Chaplin J.P cho rằng định kiến là thái độ hoặc tích cực hoặc tiểu cực hình
thành trên cơ sở cảm xúc, là lòng tin hoặc cách nhìn không thiện cảm, thậm chí ác
cảm thể hiện trong ứng xử với người khác, trong suy nghĩ về người khác.
A.L.LPORT G.W định kiến là thái độ không thiện chí thù địch đối với thành
viên của nhóm mình hoặc nhóm khác.
Căn cứ từ tính chất duy cảm hơn duy lý thể hiện trong quan hệ giữa các
nhóm tộc người, HERBERT BLUMER nêu lên 4 loại cảm giác của định kiến
thường thấy thuộc tầng lớp thống trị, cảm giác tự cho mình là thuộc nhóm có thứ
bậc cao, cảm giác cho rằng nhóm thiếu số là cách biệt và xa lạ, cảm giác cho rằng
mình là người có đặc quyền đặc lời, cảm giác cho rằng người thiểu số có mưu toan
chiếm đoạt quyền lực, luôn luôn lo sợ và hoài nghi rằng họ có chủ đoạn lật đổ để
chiếm quyền.
Theo ông định kiến của các nhóm chủng tộc cần được các nhà nghiên cứu
quan tâm.trong đó nhóm thống trị luôn tự cho rằng mình có ưu thế, có nhiều quyền
lực về sở hữu nghề nghiệp, quyền sử dụng các thiết chế văn hóa như: trường học
nhà thờ khu vực vui trơi giải trí.
KRAMER MANN lại đưa ra những nhận định khác hơn so với hai tác giá
nêu trên. Định kiến là một thành tố của nhận thức vì có lẽ người ta thường có
những hiểu biết nào đó về đối tượng tiếp xúc nhờ có những tưởng tượng nào đó.
1
Có thể nêu lên một số dấu hiệu đặc trưng của định kiến xã hội như sau: dựa
trên những hiểu biết và nguyên nhân không có căn cứ khoa học và logic thành viên
yếu tố xã hội tắc động bằng nhiều cách thức khác nhau.
Những cản trợ xã hội dù lớn hoặc nhỏ đều có ảnh hưởng đến những tiến bộ về kinh
tế xã hội.những cản trợ này trở thành những biểu hiển của chủ nghĩa phân biệt chủ
tộc một cách có chủ định và có tổ chức. Trẻ em thuộc nhóm tộc người đa số đã
thấy đượcnhững trở ngại đó đã trở thành những kẻ muốn duy trì những vật cản đó.
Sự phân biệt chủng tộc đã được duy trì một cách có tổ chức và thành công
này diễn ra bằng sự đáp án và kiểm soát dựa trên những nguồn thông tin và giá trị
nhất định, được cộng đồng quảng bá và thể hiện trong quan hệ với dân tộc khác, sự
phân biệt chủng tộc cũng được thực hiện từ phía xã hội và từ phía cá nhân.
Các báo cáo nghiên cứu gần đây như báo cáo “Phân tích xã hội quốc gia –
Dân tộc và phát triển ở Việt Nam” đã chỉ ra rằng đang có sự kì thị và định kiến đối
với người dân tộc thiểu số từ phía chính quyền địa phương và từ cộng đồng dân tộc
đa số. Những kì thị và định kiến này thường không dễ mô tả và trong nhiều trường
hợp là không chủ ý. Tuy nhiên, có rất ít các nghiên cứu sâu về kì thị và định kiến
đối với người dân tộc thiểu số và tác động của chúng tới việc xây dựng chính sách,
cách thức thực hiện các chương trình, sinh kế và văn hoá của người dân tộc thiểu
số. Không có nghiên cứu nào đưa ra các công cụ đo lường mức độ kì thị và định
kiến với người dân tộc thiểu số cũng như nguyên nhân của sự kì thị với người dân
tộc thiểu số tại Việt Nam.
Do vậy, để giải quyết tình trạng kì thị và định kiến đối với người dân tộc
thiểu số thì cần thiết phải thực hiện nghiên cứu về vấn đề này nhằm đưa ra những
bằng chứng và giải pháp giúp chính phủ cũng như các tổ chức phát triển.
Kết quả đầu tiên của nghiên cứu này sẽ là một tập hợp các khái niệm, công cụ và
thang đo về kì thị và định kiến sẽ được phát triển để chính quyền, cộng đồng
những người làm công tác phát triển, các cơ quan nghiên cứu và những người có
quan tâm đến kì thị và đinh kiến đối với người dân tộc thiểu số sử dụng.
3
Nghiên cứu này sẽ quan tâm trả lời hai câu hỏi: (i) Làm thế nào để đo lường được
+ Thay đổi cách thức giáo dục trẻ em. Hành vi của cha mẹ có dẫn đến chủ
nghĩa độc đoán và từ đó hình thành định kiến dân tộc ở trẻ.
+ Thay đổi hành vi. Nhiều nhà tâm lý học mỹ khẳng định rằng thay đổi hành
vi sẽ dẫn đến thay đổi định kiến. Đây là một kết luận có căn cứ,vì thay đổi thái độ
sẽ dẫn đến thay đổi hành vi.
+ Tiếp xúc trên cơ sở bình đẳng về vị thế. Sự giao tiếp giữa người da đen và
da trăng trở nên thân thiện hơn,dễ thông cảm với nhau hơn,hai bền đều có nguyện
vọng hợp nhất ắc sẽ tiến tới chỗ phát triển thành sự thống nhất chủng tộc.
Để thay đổi thái độ một cách tích cực cần tạo ra các điều kiện:
. Khuyến khích các cuộc tiếp xúc của hai nhóm có vị thế bình đằng như
nhau ,không ai có địa vị cao hơn ai.
. Khuyến khích hợp tác để đạt được hiệu quả nếu hai bền phải phụ thuộc lẫn
nhau phải dựa vào sự hỗ trợ của nhau.
. Các chuẩn mực xã hội phải có tác dụng khuyến khích sụ liên kết mang tính
tương tác và thống nhất của các hai bên.
. Tình huống tiếp xúc phải thúc đẩy hành thành các quan hệ cá nhân tạo lập
nên tình bạn thân ai tham gia vào các cuộc tiếp xúc mỗi bên phải phủ định các kiểu
định kuôn tiêu cực thể hiện trong thái độ đối với nhau.
. Tính huống tiếp xúc có tác dụng đề cao và quảng bá những thái độ đã biến
đổi thay cho các tình huống khác đã xảy ra trong quá khứ.
Các nhà tâm lý học đã tạo ra được các tình huống tiếp xúc trong đó cả 6 điều
kiện trên đay đều phát huy tác dung tốt và thái độ chủng tộc đã được khắc phục sau
khi cuộc thí nghiệm kết thúc.
Với mục tiêu thúc đẩy sự bình đẳng và giảm định kiến với người dân tộc
thiểu số, ông Lê Quang Bình, Viện trưởng Viện nghiên cứu Kinh tế- Xã hội và
5
Môi trường đã đưa ra kết quả nghiên cứu, phân tích từ những chính sách và truyền
thông. Theo đó, các thách thức và những điều không mong đợi từ các chương trình
tương tác có tính cưỡng bức, được thể hiện rõ giữa các quốc gia, các cộng đồng đối
kháng với nhau. Đó là quá trình các bên xung đột tìm cách làm tổn hại, gián đoạn
hoạt động hoặc tiêu diệt lẫn nhau. Xung đột quốc tế mang tính rất đa dạng, được
biểu hiện ở nhiều hình thức khác nhau như: Chiến tranh thế giới, chiến tranh khu
vực, chiến tranh giữa hai quốc gia hoặc trong lòng một quốc gia có sự can thiệp,
hậu thuẫn của các lực lượng bên ngoài, hoặc cũng có thể là những cuộc bạo động,
chính biến, những cuộc khủng hoảng chính trị, ngoại giao, quân sự, tranh chấp
biên giới, lãnh thổ, những bất đồng quan điểm, các cuộc chạy đua tranh giành ảnh
hưởng...
Những năm gần đây, chỉ trong khu vực châu Á đã xảy ra hàng loạt các
cuộc xung đột quốc tế với quy mô, mức độ và tính chất khác nhau như:
khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên; tranh chấp về chủ quyền các
hòn đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, giữa Nhật Bản và Trung Quốc, giữa
Nhật Bản và Nga, căng thẳng giữa Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản xoay
quanh cuốn sách giáo khoa lịch sử của Nhật Bản, căng thẳng giữa Trung
Quốc và Đài Loan về việc tuyên bố độc lập của Đài Loan, tranh chấp về
lãnh thổ ở Biển Đông giữa các nước trong khu vực, cuộc chiến với phiến
quân Hồi giáo ở các đảo miền Nam Phi-lip-pin, tranh chấp vùng biển giữa
In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a, tranh chấp giữa Ma-lai-xi-a và Thái Lan, giữa
Thái Lan và Cam-pu-chia. Ngoài ra, còn xảy ra rất nhiều cuộc xung đột,
khủng hoảng khác ở Trung Đông và Bắc Phi được ví như hiện tượng “Mùa
xuân Ảrập” ở các quốc gia như Ai Cập, LiBi, Xyri, Yêmen.... và trên thế
giới. Các cuộc xung đột quốc tế rất đa dạng về hình thức, mức độ, quy mô,
tính chất và đối tượng tham gia.
Nguyên nhân của xung đột dân tộc:
Các nhà xã hội học, chính trị học và tâm lý học đều quan tâm đến việc tìm ra
nguyên nhân của xung đột dân tộc.
7
+ Văn hoá hoà giải, thoả thuận kém phát triển trong xã hội.
Theo hướng tiếp cận của tâm lý học:
Từ góc độ tâm lý học, có thể thấy một số nguyên nhân dẫn đến sự hình
thành xung đột dân tộc:
. Xung đột giữa các dân tộc là kết quả của những đặc điểm tâm lý tổng hợp
Nhiều nhà nghiên cứu đã lý giải sự xung đột xã hội như là một hình thức mà
một số dân tộc có nhu cầu xâm kích hay có nhu cầu kích động con người.
Tác giả của của một trong những quan điểm tâm lý xã hội đầu tiên là
U.MacDaugan (1871 – 1935). Tác giả đã gán cho các cuộc đấu tranh tập thể “bản
năng đánh nhau”. Hướng tiếp cận này gọi là mô hình thuỷ lực, bởi vì xâm kích
theo quan điểm của ông không phải là phản ứng với sự tức giận, mà là hành động
mang tính bản năng của con người. Hay nói cách khác, nó mang nhiều tính chất vô
thức hơn là có ý thức.Mô hình thuỷ lực cũng là nền tảng trong tư tưởng của S.
Freud về nguyên nhân chiến tranh trong lịch sử nhân loại. S. Freud cho rằng sự thù
địch giữa các nhóm là tất yếu và luôn luôn tồn tại về xung đột lợi ích trong quan hệ
giữa con người và xung đột này chỉ có thể giải quyết bằng bạo lực. Theo ông, con
người có một ham muốn vô lý, đó là ham muốn chết. Lúc đầu, ham muốn này
hướng vào bên trong, nhưng sau đó lại hướng ra thế giới bên ngoài, bởi vì điều này
tốt hơn cho con người. Sự thù địch này cũng có lợi cho nhóm bởi vì nó làm nhóm
ổn định, hình thành nên tình cảm chung ở các thành viên nhóm.
Liên hệ thực tiễn:
Ở nước ta, cũng từng xảy ra khi bọn phản động lưu vong bịa đặt ra cái gọi
là Nhà nước Đề-ga độc lập và Tin Lành Đề-ga ở Tây Nguyên nhằm tuyên
9
truyền, kích động, gây xung đột sắc tộc, tạo tiền đề cho sự chia rẽ, li khai, gây
mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Gần đây, lợi dụng chính
sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, một số phần tử phản
động nhân danh những người Công giáo chân chính đã tìm cách tạo ra sự hiềm
Trong xu thế quốc tế hiện nay, với sự tham gia của nhiều chủ thể mới, nhiều
mối quan hệ mới nảy sinh và phát triển làm cho xung đột dân tộc cũng xuất hiện
nhiều hơn, khó giải quyết hơn. Để giải quyết tốt vấn đề xung đột dân tộc, đòi hỏi
mỗi quốc gia, dân tộc phải sử dụng tổng hợp các biện pháp, trong đó có các biện
pháp tâm lý.
Đối với nước ta, việc tìm ra những nguyên nhân tâm lý và những biện pháp
tâm lý trong hoà giải xung đột dân tộc giúp cho Đảng và Nhà nước có những chủ
trương, chính sách đúng đắn trong công tác dân tộc, góp phần xây dựng khối đại
đoàn kết dân tộc, phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa.
3. Đặc điểm tâm lý học dân tộc Việt Nam rút ra ý nghĩa thực tiễn?
Tính dân tộc có thể được hiểu là những đặc điểm nổi bật của cộng đồng
người có chung lãnh thổ, ngôn ngữ, phương thức và chế độ chính trị trải qua một
thời kì lịch sử lâu dài. Tính dân tộc không bộc lộ một cách rõ ràng, cụ thể thành
yếu tố hữu hình mà nó thấm vào trong cảm xúc, trong cách nhìn và phương thức
thể hiện của tác phẩm. Nhà văn không phải cứ chăm chú miêu tả về cảnh sắc thiên
nhiên hay kể về những tên đất, tên làng gắn liền với dân tộc mình đang sinh sống
thì tác phẩm mới có tính dân tộc. Đọc tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du
chúng ta thấy trong tác phẩm xuất hiện nhiều địa danh, nhân vật, kể cả cốt truyện
đều có nguồn gốc từ đất nước Trung Hoa, nhưng người đọc vẫn cảm nhận được
tâm hồn dân tộc thấm đẫm trong những trang Kiều.
Rõ ràng, một tác phẩm có tính dân tộc là tác phẩm thể hiện được “tính cách
dân tộc và cái nhìn dân tộc đối với cuộc đời” (1, 103).Tính cách dân tộc là “những
nét phẩm chất lặp đi lặp lại tạo thành bộ mặt tinh thần của dân tộc” (1, 104). Chẳng
hạn, người phụ nữ Việt Nam từ xưa đến nay đều có chung một nét tính cách phổ
biến là chịu thương, chịu khó, giàu đức hi sinh, giàu lòng yêu thương và thủy
11
chung, son sắt. Tính cách đó đã hình thành từ thời xa xưa, được lưu giữ qua truyền
quốc và các thế lực thù địch lại luôn luôn dùng mọi thủ đoạn chia rẽ dân
tộc và can thiệp vào nội bộ nước ta. Do đó, phát huy truyền thống đoàn kết, xoá bỏ
thành kiến, nghi kỵ dân tộc và kiên quyết đập tan mọi âm mưu chia rẽ dân tộc của
kẻ thù là nhiệm vụ trọng yếu của nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay. Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ngày
càng tăng, tuy trong từng khu vực nhất định có những dân tộc sống tương đối tập
trung, nhưng không thành địa bàn riêng biệt. Do đó, các dân tộc ở nước ta không
có lãnh thổ riêng, không có nền kinh tế riêng và sự thống nhất hữu cơ giữa dân tộc
và quốc gia trên mọi mặt của đời sống xã hội ngày càng được củng cố.
Do điều kiện tự nhiên, xã hội và hậu quả của các chế độ áp bức bóc lột trong lịch
sử nên trình độ phát triển kinh tế, văn hoá... giữa các dân tộc còn khác biệt, chênh
lệch nhau. Tình trạng chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá... giữa các
dân tộc, giữa các vùng dân cư là một đặc trưng cần quan tâm nhằm từng bước khắc
phục sự chênh lệch đó để thực hiện bình đẳng, đoàn kết dân tộc ở nước ta. Nhiều
vùng dân tộc thiểu số canh tác còn ở trình độ rất thấp, chủ yếu dựa vào khai thác tự
nhiên. Đời sống vật chất của bà con dân tộc thiểu số còn thiếu thốn, tình trạng
nghèo đói kéo dài, thuốc chữa bệnh khan hiếm, nạn mù chữ và tái mù chữ còn ở
nhiều nơi. Đường giao thông và phương tiện đi lại nhiều vùng rất khó khăn; điện,
nước phục vụ cho sản xuất đời sống nhiều vùng còn rất thiếu; thông tin, bưu điện
nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu của đời sống, nhất là ở vùng cao, vùng xa xôi hẻo
lánh... Cùng với nền văn hoá cộng đồng, mỗi dân tộc trong đại gia đình các dân tộc
Việt Nam đều có đời sống văn hoá mang bản sắc riêng rất phong phú. Bởi vì, bất
cứ dân tộc nào, dù nhiều người hay ít người, đều có nền văn hoá riêng, phản ánh
truyền thống lịch sử, đời sống tinh thần, niềm tự hào của dân tộc bằng những bản
sắc độc đáo. Đặc trưng của sắc thái văn hoá dân tộc bao gồm: ngôn ngữ tiếng nói,
văn học, nghệ thuật, tình cảm dân tộc, y phục, phong tục tập quán, quan hệ gia
đình, dòng họ... Một số dân tộc có chữ viết riêng (Khơme, Chăm, Thái, Mông,
Giarai, Êđê ). Một số dân tộc thiểu số gắn với một vài tôn giáo truyền thống
(Khơme – với đạo Phật; Chăm – với Islam, Bàlamôn ); một vài dân tộc gắn với đạo
dân tộc, tiềm ẩn những yếu tố có thể gây mất ổn định chính trị - xã hội, nhất là khi
bị các thế lực thù địch lợi dụng.
14
GS. Lê Mậu Hãn nêu quan điểm, tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hợp với
thực tiễn Việt Nam, ngay cả ở thời điểm hiện tại và giàu ý nghĩa đối với một dân
tộc có lịch sử ngàn năm văn hiến, có quá trình đấu tranh anh dũng suốt mấy chục
năm chống thực dân Pháp, lật đổ ách đô hộ đó để lập nên nhà nước độc lập. Chữ
“dân chủ” trong tên nước vì vậy được đặt đúng nghĩa là nhà nước của nhân dân.
“Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là sự công bố chính thức lần đầu tiên với toàn
thế giới và Tuyên ngôn độc lập Bác đọc khi đó khẳng định công lý, lẽ phải của
thực tiễn Việt Nam đã trở thành một nước tự do, độc lập. Điều đó buộc các nước
khác không thể không công nhận” – ông Hãn nêu bật ý nghĩa.
Chế độ Dân chủ Cộng hòa, nhà nước Dân chủ Cộng hòa, GS. Hãn khẳng
định, là kết quả do sự kiện lịch sử cách mạng tạo nên, phù hợp xu thế, phù hợp
nguyện vọng, mục tiêu của toàn dân tộc. Cụ thể, tư tưởng độc lập tự do là nội dung
cốt lõi của tinh thần dân tộc, qua sự thể hiện này. Và theo Chủ tịch Hồ Chí Minh,
tư tưởng độc lập tự do không chỉ là đấu tranh giải phóng dân tộc mà phải xác định
con đường phát triển theo hướng giải phóng con người khỏi bóc lột. Đó là lý do
Bác đã chọn con đường duy nhất phù hợp là tiến lên CNXH. Theo đó, cả nước đã
xác định 3 chặng đường chiến lược phải thực hiện là giải phóng dân tộc, hoàn
thành thể chế dân chủ, xây dựng thành công CNXH.
4. Vấn đề định hình dân tộc?
Định hình xã hội có vai trò quan trọng trong quan hệ liên nhóm. Trẻ em tiếp
nhận các định hình này tư tuổi ấu thơ,thường là từ các nguồn gián tiếp,chứ không
phải từ kinh nghiệm trực tiếp và được trẻ sử dụng rất lâu trước khi có các khái
niệm rõ rang về những nhóm mà chúng là thành viên
Theo LIPMAN thì kiểu định hình là một bức tranh thế giới được điều chỉnh,
được quyết định bởi một nền văn hóa đã hình thành và ổn định trong đầu con
cụ thể đất nước, làng xóm. Hạnh phúc đối với anh ta là nước độc lập, gia đình hòa
thuận, lao động trong hòa bình,được mọi người quý mến. Những khái niệm siêu
hình học không lối cuốn anh ta thiên đường, niết bàn. Người Việt Nam lấy việc
16
trồng lúa nước làm phương thức kinh tế, bắt buộc phải quan hệ gắn bó nhường
nhịn nhau. Người dân chỉ có một trong hai con đường làm quan và đi cầy. Người
không tự mình xây dựng những truyền thống độc lập về tư tưởng, học thuật khoa
học, nghệ thuật.
Định hình qua đại từ nhân xưng ở người Việt:
Đằng sau những vị trí và vai trò mà đứa trẻ tự nói ra kia là những quy tắc,
quy phạm của hình vi ứng xử xã hội tương ứng.cái tôi gửi gắm,phó thác và tan
biến vào các quan hệ huyết thống,quan hệ xã hội nên bị che khuất và lu mờ đi.
Trong giao tiếp với nhau,người việt thường lấy danh từ chỉ quan hệ họ hang như
bố mẹ chú bác đẻ thay cho đại từ nhân xưng gần gũi. Cái tôi dường như đã lẫn vào
các quan hệ máu thịt của cộng đồng vào khối đòa kết của cả dân tộc cái tôi thiên
về tình cảm hơn là về lý trí thiên về phong tục tập quán hơn là về pháp luật, thiên
về tâm lý xã hội hơn là hệ tư tưởng.
Những phẩm chất là thộc định hình ở người VN trong lịch sử:
+ Tình yêu lao động cần cù chăm chỉ trong công việc đồng áng
+ Tình yêu thương con người quy trọng.
Những phẩm chất và thuộc tính mới đang định hình ở con người việt nam:
Hồ Chí Minh và của Đảng cộng sản VN sự nghiệp giai phóng con người
được xác định là đối tượng của cách mạng VN và chủ thể của cuộc cách mạng ấy
chính con người VN và ở đây văn hóa có vai trò đặc biệt trong việc xây dựng nước
VN mới, HCM từng khẳng định số phận dân ta ở trong tay ta văn hóa soi đường
cho quốc dân đi tới. Vai trò soi đường văn hóa là nói đến quá trình học văn hóa
con người.
Con người chiến sĩ những phẩm chất và thộc tính như những định khuôn