Lã Văn Đoàn
Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây vải (Litchi chinensis Sonn), thuộc họ Sapindacea có nguồn gốc ở
Trung Quốc và là cây ăn quả đặc sản có giá trị kinh tế cao. Cây vải có khả
năng thích nghi trên nhiều loại đất. Quả vải có giá trị kinh tế cao, trong cùi vải
có hàm lượng đường tổng số chiếm 11-14%, axít từ 0,4 – 0,8%, vitamin C 36
mg/100g, ngoài ra còn chứa các vitamin B1, B2, PP..., đều là những chất bổ
cho sức khoẻ con người. Quả vải có thể ăn tươi, làm đồ hộp hoặc sấy khô,
làm rượu để cất giữ lâu dài. Chính vì vậy, mà những năm qua vải đã được chú
ý phát triển mạnh tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc đặc biệt là tại
tỉnh Bắc Giang cây vải đã trở thành cây hàng hoá chủ lực trong cơ cấu cây
trồng của tỉnh.
Tuy nhiên, trong sản xuất vải thâm canh hiện nay đang có những mặt
trái của nó, do nhận thức không đầy đủ của người dân nên họ đang lạm dụng
phân vô cơ và thuốc trừ sâu; dành ưu tiên cho việc thu lợi nhuận lên trên cả
vấn đề sức khoẻ và môi trường. Đất trồng trở lên cằn cỗi, mỗi năm lại cần
nhiều phân bón hoá học hơn, sâu và bệnh ngày càng trở lên khó kiểm soát.
Việc gia tăng hàm lượng phân bón hóa học không những không làm tăng hiệu
quả sản xuất mà còn để lại một khối lượng lớn tồn dư trong đất, làm ảnh
hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Hiện tại, nhiều nông dân đã nhận thấy
sự nguy hại của hoá chất trong sản xuất, đặc biệt là ảnh hưởng của nó đến an
toàn thực phẩm và sức khoẻ con người. Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập
hiện nay, thị trường rau quả ở trong và ngoài nước ngày càng yêu cầu khắt
khe với sản phẩm quả nói chung và quả vải nói riêng.
Trước tình hình đó, sản xuất vải thiều áp dụng kỹ thuật canh tác hữu
cơ, (Đạt tiêu chuẩn Viet GAP). Đang là mục tiêu cần phải đạt được trong giai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Xác định điều kiện tự nhiên của Bắc Giang tác động đến sản xuất vải
- Tình hình sản xuất vải và sản xuất vải hữu cơ tại Bắc Giang.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Ảnh hưởng của biện pháp canh tác hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất
và chất lượng vải.
- Đề xuất những định hướng về mặt kỹ thuật trong phát triển vải theo
phương thức sản xuất hữu cơ tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
- Phân tích, đánh giá thực trạng và tìm ra các yếu tố hạn chế, những
tiềm năng thế mạnh phát triển vải.
- Bố trí thí nghiệm để đánh giá hiệu quả các biện pháp canh tác hữu
cơ trồng xen, cắt tỉa, bón phân đến năng suất chất lượng và hiệu quả kinh tế
của cây vải.
- Đề xuất các biện pháp kỹ thuật canh tác hữu cơ nhằm nâng cao hiệu
quả sản xuất vải của huyện trong thời gian tới.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu
về biện pháp kỹ thuật canh tác hữu cơ trên cây vải thiều Thanh Hà tại huyện
Lục Ngạn và các vùng trồng vải tại tỉnh Bắc Giang nói chung.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giải quyết các vấn đề khó
khăn trong sản xuất vải hiện nay như: năng suất chưa cao, vấn đề sâu bệnh,
vấn đề lạm dụng thuốc trừ sâu, phân hóa học, mẫu mã, chất lượng vải thiều
Thanh Hà chưa đạt yêu cầu của thị trường dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp...
- Kết quả nghiên cứu này sẽ giúp các nhà khoa học và cán bộ kỹ thuật
đưa ra các biện pháp canh tác mới phù hợp cho vùng vải thiều của huyện,
Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam và bán đảo Malaisia. Người ta thấy vải
dại mọc trong rừng 4 tỉnh phía nam Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, đảo
Hải Nam và có nơi vải dại mọc thành rừng trên diện rộng và theo điều tra của
các nhà khoa học Trung Quốc thì trên sáu vạn núi lớn ở huyện giáp ranh
huyện Bác Bạch và huyện Hồ Bắc của tỉnh Quảng Tây đều có cây vải dại
chứng tỏ cây vải có nguồn gốc từ Trung Quốc [30].
Ở Việt Nam, cây vải được trồng từ cách đây khoảng 2000 năm và phân
bố từ 18-190 vĩ Bắc trở ra nhưng chủ yếu vẫn là vùng đồng bằng sông Hồng,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
trung du miền núi phía Bắc và một phần khu 4 cũ [46]. Theo các tài liệu lịch
sử thì cách đây 10 thế kỷ dưới thời Bắc thuộc vải là một trong những cống vật
hằng năm mà Đại Việt phải mang cống nộp cho Trung Hoa [22], [47]. Cây
vải dại cũng đã được tìm thấy ở vườn quốc gia Ba Vì, Hà Tây và nhiều nơi
khác. Từ đó, miền Bắc Việt Nam cũng được coi là nguồn gốc của cây vải [22]
Ngày nay, trên thế giới khoảng trên 20 nước trồng vải [30], [47]. Châu
Á có: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Mianma, Lào, Campuchia,
Malaisia, Philippin, Inđônêxia, Srilanka, Nhật Bản, Ixrael.
Châu Mỹ: Hundurat, Panama, Cuba, Tsinidat, Brazil, Jamaca….
Châu Phi: Nam Phi, Madagatca, Rêunyniong, Gabông, Cônggô…
Châu Đại Dương: Austraylia, Newzilan…
Việt Nam, cây vải được Nhà nước cũng như người sản xuất rất quan
tâm, cây vải đã và đang được phát triển mạnh và đã hình thành một số vùng
trồng tập trung như Lục Ngạn, Lục Nam, Lạng Giang (Bắc Giang), Thanh Hà Chí Linh (Hải Dương), Đông Triều (Quảng Ninh), Đồng Hỷ - Phú Lương (Thái
Nguyên) Đình Lập - Hữu Lũng (Lạng Sơn), Chương Mỹ (Hà Tây), Phù YênBắc Yên (Sơn La), Phú Thọ. Ngoài ra còn một số địa phương ở Tây nguyên
như Đăk Nông, Đăk Lăk, Kontum…[48].
2.1.2. Các giống vải chủ yếu trên thế giới và ở Việt Nam
2
Úc
Fay Zee Siu, Taiso, Bengal, Waichee, Kwaimay pink
3
Đài Loan
Haakyip, Shakeng
4
Nam Phi
Taiso, Bengal
5
Mỹ
Taiso, Kaimana
6
Thái Lan
Taiso, Waichee, Baidum, Chacapat, Kom
- Nhóm vải thiều: cây có tán hình mâm, trọng lượng quả từ 18 - 25g, vỏ
quả mỏng, hạt nhỏ, dày cùi, tỷ lệ ăn được 70 - 80% cùi thơm và ngọt hơn 2
nhóm vải trên [46], [2].
2.1.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới và ở trong nước
2.1.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới
Trên thế giới, diện tích trồng vải năm 1990 là 183.700 ha, sản lượng
251.000 tấn. Năm 2000 là 780.000 ha với tổng sản lượng đạt tới 1.95 triệu
tấn. Trong đó các nước Đông Nam Á chiếm khoảng 600.000 ha và sản lượng
1,75 triệu tấn, (chiếm 78% diện tích và 90% sản lượng vải của thế giới).
Trung Quốc được coi là quê hương của vải và cũng là nước đứng đầu về diện
tích và sản lượng. Năm 2001, diện tích trồng vải ở Trung Quốc là 584.000 ha
và sản lượng là 958.700 tấn [68].
Sau Trung Quốc thì Ấn Độ là nước đứng thứ 2 trên thế giới về diện tích
và sản lượng vải. Theo Ghosh (2000) [66], đến năm 2000, diện tích là 56.200
ha và sản lượng đạt 428.900 tấn các vùng trồng vải chủ yếu của Ấn Độ là
West Bengal (36.000 tấn), Tripura (27.000 tấn), Bihar (310.000 tấn) Uttar
Pradesh (14.000 tấn).
Châu Phi có một số nước trồng vải theo hướng sản xuất hàng hóa là
Nam Phi, Madagatca, Moritiuyt, Renyniong trong đó Madagatca có sản lượng
lớn nhất khoảng 35.000 tấn [48]. Theo số liệu của Tổ chức Lương thực thế
giới- FAO (2002) [71] [72] và báo cáo của X. Huang, L. Zeng H.B. Huang
[67], R. J. Knigh (2000) [68].
Diện tích và sản lượng của một số nước trên thế giới được thể hiện
trong bảng 2.2.
Qua bảng 2.2. cho thấy, các nước xuất khẩu vải trên thế giới rất ít, chủ
yếu vẫn là Trung Quốc. Hiện nay vải Trung Quốc vẫn chiếm ưu thế về diện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
56.200
429.000
3
Thái Lan
1999
22.200
85.083
4
Đài Loan
1999
11.961
108.668
5
Úc
1999
trồng vải ở Bắc Giang vẫn giữ ổn định.
Bảng 2.3. Diện tích, sản lƣợng vải ở một số tỉnh của Việt Nam
TT
S
Địa phƣơng
Tổng diện Diện tích cho
Năng suất
Sản
tích (ha)
sản phẩm
(tạ/ha)
lƣợng
1
Bắc Giang
39.985
39.387
Quảng Ninh
5.174
3.847
45,1
17.349
5
Phú Thọ
1.705
1.306
72
9.400
6
Thái Nguyên
6.861
4.692
Hòa Bình
1.332
525
73,3
3.850
10
Thanh Hóa
1.709
950
40
13.800
(Nguồn: Tổng cục thống kê (2007) Số liệu thống kê về cây ăn quả tài liệu tổng
hợp và lưu hành nội bộ)
Khoảng 70% sản lượng vải của nước ta hiện nay được tiêu thụ ngay
trong thị trường nội địa. Phần còn lại được xuất khẩu chủ yếu là sang Trung
Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, ngoài ra một lượng vải nhỏ còn xuất khẩu
sang một số nước trong khu vực và thị trường Châu Âu . Đại đa số vải được
tiêu thụ dưới dạng quả tươi, một số ít được sấy khô hay đóng hộp, chế biến
sinh trưởng dinh dưỡng. Khi nhiệt độ từ 8 - 100C thì khôi phục sinh trưởng,
nhiệt độ từ 10 - 120C cây sinh trưởng chậm, nhiệt độ trên 210C cây sinh
trưởng tốt, ở nhiệt độ 23 - 260C là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh nhất.
Vì thể nguyên thủy của hoa vải là mầm hỗn hợp có hoa có lá, do vậy
nhiệt độ cao ức chế sự hình thành các cơ quan hoa mà thiên về sinh trưởng
sinh dưỡng, thúc đẩy sự sinh trưởng của lá. Trái lại, nhiệt độ thấp thúc đẩy sự
phân hóa cành hoa nhỏ và cơ quan hoa, ức chế sự phát dục của nguyên thủy
của lá, thiên hướng về sinh thực.
Nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ đực cái của hoa vải, ở Trung Quốc
qua phân tích liên tục từ 1978 - 1985 về quan hệ giữa nhiệt độ bình quân ngày
của tháng 1 - 2 và tỷ lệ phần trăm hoa cái trong năm đã phát hiện giữa chúng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....