Cam kết và kết quả thực hiện của việt nam trong quá trình tham gia WTO và đề xuất giải pháp - Pdf 41

NỘI DUNG

1


LỜI MỞ ĐẦU
Do quỹ thời gian, thông tin và tài liệu còn hạn chế, bài thu
hoạch không thể tránh được nhiều thiếu sót mong giảng viên và
bạn đọc thông cảm cũng xin nhận lời nhận xét, góp ý!

2


1. Quá trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam
1.1. Tóm tắt quá trình đàm phán gia nhập WTO của Việt
Nam
Việt Nam cũng như bất kỳ quốc gia nào trên thế giới muốn
gia nhập WTO đểu phải trải qua một trình tự nhất định. Thủ tục
gia nhập WTO gồm các bước:
- Nộp đơn xin gia nhập
- Đàm phán gia nhập
Minh bạch hóa chính sách
Đàm phán mở cửa thị trường
Đàm phán đa phương
Đàm phán song phương
- Kết nạp
1-1995: Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO. Ban Công tác
xem xét việc gia nhập của Việt Nam được thành lập
8-1996: Việt Nam nộp “Bị vong lục về chính sách thương mại”
1998 - 2000: Tiến hành 4 phiên họp đa phương với Ban Công
tác về Minh bạch hóa các chính sách thương mại vào tháng 71998, 12-1998, 7-1999, và 11-2000. Ban công tác của WTO đã

1.2. Ý nghĩa của việc gia nhập WTO đối với Việt Nam
Một là: Được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất
cả các nước thành viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt
giảm, không bị phân biệt đối xử. Điều đó, tạo điều kiện mở rộng
thị trường xuất khẩu và trong tương lai - với sự lớn mạnh của
doanh nghiệp và nền kinh tế nước ta - mở rộng kinh doanh dịch
vụ ra ngoài biên giới quốc gia.
Hai là: Với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế và
thực hiện công khai minh bạch các thiết chế quản lý theo quy
4


định WTO, môi trường kinh doanh của nước ta ngày càng được
cải thiện. Đây là tiền đề rất quan trọng để thu hút mạnh đầu tư
nước ngoài, qua đó tiếp nhận vốn, công nghệ sản xuất và công
nghệ quản lý, tạo ra công ăn việc làm…
Ba là: Gia nhập WTO chúng ta có được vị thế bình đẳng
như các thành viên khác trong việc hoạch định chính sách
thương mại toàn cầu, có cơ hội để đấu tranh nhằm thiết lập một
trật tự kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn, có điều kiện để
bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp.
Bốn là: Mặc dầu chủ trương của chúng ta là chủ động đổi
mới, cải cách thể chế kinh tế để phát huy nội lực và hội nhập
với bên ngoài nhưng chính việc gia nhập WTO, hội nhập vào
nền kinh tế thế giới cũng thúc đẩy tiến trình cải cách trong
nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của ta đồng bộ, có hiệu
quả hơn.
Năm là: Gia nhập WTO sẽ nâng cao vị thế của ta trên
trường quốc tế, tạo điều kiện cho ta triển khai có hiệu quả
đường lối đối ngoại theo phương châm: Việt Nam mong muốn là

30% sẽ được cắt giảm thuế ngay khi gia nhập. Những nhóm
mặt hàng có cam kết cắt giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt
may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy
móc thiết bị điện - điện tử.
Đối với lĩnh vực nông nghiệp, mức cam kết bình quân là
25,2% vào thời điểm gia nhập và 21% sẽ là mức cắt giảm cuối
cùng. So sánh với mức thuế MFN bình quân đối với lĩnh vực nông
nghiệp hiện nay là 23,5% thì mức cắt giảm đi sẽ là 10%.
Việt Nam sẽ được áp dụng cơ chế hạn ngạch thuế quan
đối với bốn mặt hàng, gồm: trứng, đường, lá thuốc lá, muối.
Đối với bốn mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch là tương
6


đương mức thuế MFN hiện hành (trứng 40%, đường thô 25%,
đường tinh 50-60%, lá thuốc lá: 30%, muối ăn 30%), thấp hơn
nhiều so với mức thuế ngoài hạn ngạch.
Đối với lĩnh vực công nghiệp, mức cam kết bình quân vào
thời điểm gia nhập là 16,1%, và mức cắt giảm cuối cùng sẽ là
12,6%. So sánh với mức thuế MFN bình quân của hàng công nghiệp
hiện nay là 16,6% thì mức cắt giảm đi sẽ là 23,9%.
Các mức cắt giảm này có thể so sánh tương ứng với các
mức cắt giảm trung bình của các nước đang phát triển và đã phát
triển trong vòng đàm phán Uruguay (1994) như sau: trong lĩnh
vực nông nghiệp các nước đang phát triển và đã phát triển cam
kết cắt giảm là 30% và 40%; với hàng công nghiệp tương ứng là 24%
và 37%; Trung Quốc trong đàm phán gia nhập của mình cam kết cắt
giảm khoảng 45% thuế nhập khẩu (từ 17,5% xuống 10%).
Mức độ cam kết và cắt giảm thuế của Việt Nam tổng
hợp theo một số nhóm ngành hàng và nhóm mặt hàng chính với

tại thời điểm gia
nhập WTO
25,2
29,1

Thuế suất cam kết
cắt giảm cuối cùng
cho WTO
21,0
18,0

36,8
14,6
13,7
19,1
14,8
11,1
46,9
9,2

36,6
10,5
13,7
14,6
11,4
6,9
37,4
7,3

13,9

cuối
cùng

Thời hạn
thực
hiện

Thịt bò

20

20

14

5 năm

Thịt lợn

30

30

15

5 năm

Sữa nguyên liệu

20

34,4

25,3

3-5 năm

Bia

80

65

35

5 năm

Rượu

65

65

45-50

5-6 năm

Thuốc lá điếu

100


0-10

38,7

38,7

17,7

13

5-7 năm

40

32

4 năm

6,5

6,4

2 năm

TT

Mặt hàng

1



25

5 năm

Điều hòa

50

40

25

3 năm

Máy giặt

40

38

25

4 năm

Dệt may

37,3

13,7

khi gia
nhập

Thuế
suất
cuối
cùng

Thời hạn
thực
hiện

17.4

17.2

13.4

3-5 năm

35.3

46.9

37.4

3-5 năm

Trên 2500cc
Trên 2500cc (2

7 năm

100
80
20.9

80
80
24.3

Mặt hàng
Ô tô và phụ
tùng
Thuế suất bình
quân
Thiết bị vận tải

A

B

C

thSc hiIn

Ô tô con

50
12 năm
70

ngành
Hiệp định tự do
hóa theo ngành
1. Hiệp định công
nghệ thông tin ITA
(100%)
2. Hiệp định hài
hòa hóa chất CH
(81%)

Số dòng
thuế
330
1.300 1.600

Thuế
suất
MFN

Thuế suất
cam kết
cuối cùng

5,2%

0%

6,8%

4,4%

tất cả thuế xuất khẩu đặc biệt đối với phế liệu kim loại màu
và kim loại đen vào thời điểm gia nhập với lý do đây là một hình
thức nhằm hạn chế thương mại, gây nên tình trạng khan hiếm
nguyên liệu, làm đẩy giá trên thị trường thế giới và trợ cấp
cho doanh nghiệp trong nước sử dụng các mặt hàng này.
Cam kết của Việt Nam hiện nay là sẽ giảm thuế xuất khẩu
đối với phế liệu kim loại đen từ 35% xuống 17% trong 5 năm;
giảm thuế phế liệu kim loại màu từ 45% xuống 22% trong 5
năm. Không cam kết ràng buộc về thuế xuất khẩu đối với các
mặt hàng khác.
2.2. Cam kết về thuế nội địa
WTO yêu cầu phải xóa bỏ các quy định phân biệt đối xử
hoặc sẽ tạo ra sự phân biệt đối xử giữa hàng sản xuất trong
nước và hàng nhập khẩu. Về nguyên tắc, WTO không yêu cầu phải
đưa ra mức thuế hay cách tính thuế cụ thể. Tuy nhiên, chính
sách thuế nội địa phải bảo đảm minh bạch và tránh tình trạng
chính sách có khoảng trống có thể bị lợi dụng.
Đối với thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu, bia, Việt Nam
cam kết trong vòng 3 năm kể từ ngày gia nhập WTO, tất cả
các loại rượu được chưng cất có nồng độ từ 20 độ cồn trở
lên sẽ chịu một mức thuế tuyệt đối tính theo lít của rượu cồn
nguyên chất hoặc một mức thuế phần trăm. Đối với bia,
trong vòng 3 năm kể từ khi gia nhập WTO sẽ áp dụng một
13


mức thuế suất phần trăm chung đối với bia, không phân biệt
hình thức đóng gói, bao bì.
2.3. Cam kết về các dịch vụ thuộc lĩnh vực tài chính
2.3.1.

Cam kết ràng buộc toàn bộ biểu thuế nhập khẩu hiện hành (10.600 dòng
thuế) với mức giảm thuế bình quân toàn biểu thuế khoảng 23% từ mức thuế
suất bình quân là 17,4% vào thời điểm gia nhập và mức thuế suất bình quân cuối
cùng là 13,4% lộ trình thực hiện từ 5 - 7 năm; cam kết trung bình 21% đối với
sản phẩm nông nghiệp và 12,6% đối với sản phẩm công nghiệp (cuối lộ trình
thực thi). Áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với 4 nhóm hàng:
trứng, đường, thuốc lá, muối.
Việc cắt giảm thuế trong WTO được thực hiện theo lộ trình
12 năm (từ 11/1/2007 đến 11/1/2019), theo đó thuế suất tính
theo giá trị trung bình tại thời điểm gia nhập WTO là 17,5% và
phải giảm xuống còn 11,4% vào năm 2019, nhưng đến năm
2011 mức thuế bình quân giản đơn của biểu thuế nhập khẩu ưu
đãi đã xuống còn 10,47%.
Tiếp đó, năm 2012 Việt Nam cắt giảm thêm 945 mặt hàng
theo lộ trình cam kết WTO. Đến năm 2013, mức thuế suất bình
quân của cả biểu thuế chỉ còn khoảng 10,32%. Như vậy, ngoài
một số ít các mặt hàng nhạy cảm như ô tô có lộ trình đến năm
2019, về cơ bản hiện nay Việt Nam đã hoàn thành lộ trình cắt
giảm theo WTO.
Kể

từ

khi

gia

nhập

Tổ

xuất khẩu những sản phẩm thô, khuyến khích sử dụng nguyên liệu để tái chế và
về cơ bản vẫn giữ nguyên khung thuế suất với hầu hết các nhóm hàng chịu
thuê.
Trong số những mặt hàng trên có những mặt hàng có tính chất tương tự
nhau, hiện hành đang cam kết mức thuế suất như nhau nhưng có mức thuế suất
cam kết WTO cao thấp khác nhau.
Để tránh gian lận thương mại, Bộ Tài Chính đã quy định mức thuế suất
bằng nhau cho các mặt hàng này, mức thuế suất được lấy theo mức cam kết thấp
nhất. Vì vậy sẽ có những mặt hàng có mức thuế suất giảm nhanh hơn mức cam
kết, tuy nhiên mức giảm hơn không lớn, chủ yếu là từ 1% - 2%. Đồng thời để
đối phó tình trạng nhập siêu Bộ Tài chính đã nâng thuế một số mặt hàng trong
phạm vi mức trần cho phép.

16


2009 chúng ta đã giảm khoảng 2000 dòng thuế của hơn 20 nhóm hàng với
mức tối đa khoảng 2%. Các mặt hàng như rượu, bia, thuốc lá, cà phê, dầu thực
vật, thịt chế biến, rau quả tươi, kim loại, hóa chất,… vẫn tiếp tục nằm trong
danh sách giảm thuế trong năm nay.
Theo bộ tài chính, bình quân các ngành có mức bảo hộ thực tế ở mức
khoảng 30% nhưng việc cắt giảm thuế theo cam kết của WTO đã giảm mức bảo
hộ chung xuống còn 15%.
Đối với thuế xuất khẩu, Việt Nam đã cắt giảm thuế xuất khẩu với mặt
hàng phế liệu kim loại đen và màu theo cam kết vào đầu 2008. Nhóm hàng phế
liệu kim loại đen (sắt thép) đã được giảm từ mức 30% - 40% xuống còn 1030%. Nhóm hàng phế liệu kim loại màu giảm từ 40 - 50% xuống còn 10 - 40%.
Việc điều chỉnh giảm này hoàn toàn phù hợp với cam kết.
Để thực hiện cam kết về thuế tiêu thụ đặc biệt với rượu và bia, Quốc Hội
đã ban hành luật thuế tiêu thụ đặc biệt mới, có hiệu lực thi hành từ đầu 2010.
Trong biểu thuế mới, rượu bia đã được thay đổi theo đúng cách phân loại và

Trứng gà
Trứng vịt
Loại khác
Thuốc lá nguyên liệu
Muối
Đường tinh luyện, đường thô

Đơn vị

Số lượng



34.000

Tấn
45.000
Tấn
250.000
Tấn
61.000
Nguồn: thông tư 16/2008/TT BTC

Bên cạnh đó, Việt Nam còn cho phép áp dụng hạn ngạch thuế quan nhập
khẩu 2008, 2009 đối với 2 nhóm hàng có xuất xứ Campuchia với thuế suất nhập
khẩu ưu đãi đặc biệt 0% gồm:
Năm 2008: 150000 tấn thóc, gạo và 3000 tấn lá thuốc lá khô.
Năm 2009: 200000 tấn thóc, gạo và 3000 tấn lá thuốc lá khô.
Ngoài ra Bộ công thương cũng ban hành thông tư hướng dẫn việ nhập
khẩu theo hạn ngạch thuế quan 2009 vơi thuế suất 0% đối với 3 nhóm hàng xuất

ngành dịch vụ này tuy có cam kết mức độ mở cửa nhanh nhất
nhưng trên thực tế, ngoại trừ phân ngành dịch vụ ngân hàng,
các cam kết mở cửa với các ngành/phân ngành dịch vụ chỉ
tương đương với các quy định hiện hành. Vì vậy các cam kết mở
cửa ở mức độ cao với các ngành/phân ngành trên có thể sẽ
không gây ra những biến động lớn với thị trường dịch vụ nội địa.
19


Việt Nam cũng đã thực hiện đầy đủ và bám sát cam kết
WTO đối với các ngành/phân ngành dịch vụ cam kết mở cửa
nhanh nhưng cần thời kỳ quá độ. Việt Nam đã thực hiện tốt các
cam kết liên quan đến MFN, minh bạch hóa. Tuy nhiên, Việt
Nam cần rà soát thêm các quy định và văn bản pháp lý liên
quan đến Mode 4 và Mode 3, đặc biệt là các quy định về văn
phòng đại diện, chi nhánh để có những sửa đổi cho phù hợp với
các cam kết WTO.
Ví dụ về phân phối- logistics
Theo cam kết, VN thực hiện tự do hóa dịch vụ logistics
trong WTO và hội nhập ASEAN về logistics theo lộ trình 4 bước
đến năm 2014 bao gồm: (1) Tự do hóa thương mại, dỡ bỏ rào
cản thuế quan; (2) Tạo cơ hội cho doanh nghiệp trong lĩnh vực
logistics; (3) Nâng cao năng lực quản lý logistics; (4) Phát triển
nguồn nhân lực.
Theo đúng lộ trình cam kết của VN khi gia nhập WTO, từ
ngày 11/01/2014, các nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài được
phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn để cung ứng các dịch
vụ kho bãi và dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa. Vào năm 2014 đã có
trên 60 hãng tàu biển, 51 hãng hàng không quốc tế nổi tiếng đang khai thác các
tuyến vận tải kết nối VN với toàn thế giới.

cán bộ thực thi, Việt Nam chưa thể bảo đảm đạt tiêu chuẩn “hiệu quả” như yêu
cầu của TRIPS.
Tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm gốc khi bị
xâm hại có quyền yêu cầu tổ chức cá nhân có hành vi xâm
phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai
và bồi thường thiệt hại; yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền xử lý hành vi xâm phạm hoặc khởi kiện ra toà án có thẩm
quyền hoặc thông qua trọng tài để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình. Người xâm phạm có thể bị phạt đến 200 triệu
đồng hoặc bị phạt tù đến 3 năm.
Nhãn hiệu được bảo hộ theo Bộ Luật Dân sự 2005 và Luật
SHTT năm 2005. Tất cả các đăng ký nhãn hiệu đều được công
bố trên Công báo Sở hữu công nghiệp. Việt Nam đã xác nhận
rằng trong quá trình soạn thảo Luật SHTT, Việt Nam đã tham
khảo các quy định của Khuyến nghị chung liên quan đến các
quy định về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng do Hội đồng Liên hiệp
Pari và Đại hội đồng của Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) thông
qua vào tháng 9/1999. Hệ thống bảo hộ nhãn hiệu của Việt
Nam hoàn toàn phù hợp với Hiệp định TRIPS và khoản 1 Điều 6
bis Công ước Pari.
3.3.2. Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng
Gia nhập WTO, Việt Nam đã kiên trì thuyết phục các thành
viên WTO cho Việt Nam hưởng ngoại lệ của Hiệp định về Trợ cấp
và Biện pháp đối kháng (SCM) nhưng do đàm phán gia nhập là
22


đàm phán một chiều, cuối cùng Việt Nam đã cam kết và thực
hiện ngay lập tức khi gia nhập WTO như sau:
1. Bãi bỏ trợ cấp thay thế nhập khẩu (thuế ưu đãi theo tỷ lệ nội

việc xác định và cách thức áp dụng thuế chống bán phá giá,
trợ cấp và tự vệ theo quy định của WTO. Năm 2004 Việt Nam
đã có pháp lệnh về Chống bán phá giá.
Hiện tại trong WTO chỉ có Việt Nam và Trung Quốc phải
chấp nhận một số cam kết liên quan đến địa vị nền kinh tế
phi thị trường. Trung Quốc không những phải chấp nhận
điều khoản về các biện pháp đối kháng và chống bán phá
giá mà còn bị áp dụng cơ chế tự vệ và giám sát đặc biệt,
nhưng Việt Nam chỉ phải chấp nhận các biện pháp đối kháng
và chống bán phá giá.
Đoạn 254 trong Báo cáo về việc gia nhập WTO của Ban
Công tác nêu rõ: “Một số thành viên ghi nhận Việt Nam đã
liên tục đẩy mạnh quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị
trường. Những thành viên này cũng ghi nhận rằng sẽ gặp
những khó khăn đặc thù (special difficulties) trong việc xác
định chi phí và giá cả hàng hóa xuất xứ từ Việt Nam trong
các cuộc điều tra chống bán phá giá hay áp dụng các biện
pháp đối kháng. Những thành viên này cho rằng trong trường
hợp đó nước nhập khẩu có thể nhận định rằng việc sử dụng
chi phí và giá cả tại Việt Nam có thể sẽ không hợp lý”.
Nếu một số thành viên đã nhận định như vậy thì Việt
Nam sẽ phải chấp nhận quy chế đối với nền kinh tế phi thị
trường khi áp dụng Hiệp định Chống bán phá giá, Hiệp định
về Trợ cấp và Các biện pháp đối kháng tương tự như Trung
Quốc đã cam kết trong Nghị định thư gia nhập của mình.
Tuy nhiên, Việt Nam thuận lợi hơn Trung Quốc vì các quy
24


định đối với nền kinh tế phi thị trường cho Trung Quốc sẽ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status