Huongdanvn.com Tổng hợp hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm tốt
Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh
MỤC LỤC
Lời nói đầu:...................................................................................................Trang 1
PHẦN I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG TRONG THỰC HÀNH HÓA HỌC.....3
Bài 1: PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC VÀ CÁCH TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM..3
Bài 2: DỤNG CỤ PHÒNG THÍ NGHIỆM VÀ THAO TÁC SỬ DỤNG............9
PHẦN II: PHẦN THỰC HÀNH.........................................................................20
I- HỌC SINH XEM THÍ NGHIỆM BẰNG VIDEO.........................................20
II- HỌC SINH LÀM THÍ NGHIỆM...................................................................21
Bài thực hành số 1...................................................................................21
Bài thực hành số 2...................................................................................24
Bài thực hành số 3...................................................................................26
PHẦN III: CÁC BÀI TẬP ĐỀ NGHỊ..................................................................30
KẾT LUẬN............................................................................................................34
GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 1
Huongdanvn.com Tổng hợp hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm tốt
Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh
MỞ ĐẦU
Trong tình hình hiện nay của đất nước, nói đến việc phát huy nguồn lực con
người thì trước hết, nền tảng phải là sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo vững chắc. Tất
cả chúng ta đang cùng hướng tới xây dựng một nền giáo dục toàn diện, đổi mới,
hiệu quả, không tiêu cực, không bệnh thành tích. Vậy thì, vấn đề cần được chú ý
đầu tư là việc dạy và học trong trường học. Việc đổi mới phương pháp dạy, đổi
mới phương pháp học, đặc biệt là ở trường phổ thông thực ra đã được nói đến và
đã thực hiện. Tuy nhiên với tình hình phát triển khoa học – kỹ thuật như vũ bão
phổ thông.
Nội dung của đề tài được trình bày thành 3 phần:
- Một số vấn đề chung trong thực hành hóa học.
GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 2
Huongdanvn.com Tổng hợp hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm tốt
Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh
- Phần thực hành.
- Bài tập đề nghị.
Trong quá trình thực hiện, chuyên đề sẽ không tránh khỏi sự sai sót. Mong
Quý Thầy Cô, các bạn đồng nghiệp tận tình góp ý và giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt
chuyên đề này. Chân thành cảm ơn.
GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 3
Huongdanvn.com Tổng hợp hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm tốt
Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh
PHẦN I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
TRONG THỰC HÀNH HÓA HỌC
Bài 1:
PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC VÀ CÁCH TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM
I. Phương pháp tổ chức
Các thí nghiệm được tổ chức theo bài, mỗi bài có từ 4-5 đơn vị thí nghiệm
hoặc
nhiều hơn tùy thuộc vào nội dung bài học mà giáo viên cần truyền tải sao cho phù
Huongdanvn.com Tổng hợp hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm tốt
Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh
- Khi làm thí nghiệm các nhóm học sinh phải chịu trách nhiệm về tất cả các thiết
bị, dụng cụ trên bàn do nhóm mình phụ trách. Mỗi học sinh phải làm việc ở một
chỗ quy định. Khi muốn sử dụng các dụng cụ hoặc hóa chất khác phải hỏi giáo
viên phụ trách phòng thí nghiệm hoặc giáo viên hướng dẫn. Làm bài thí nghiệm đã
được giáo viên thông qua và dưới sự giám sát của giáo viên. Không được làm thí
nghiệm một mình trong phòng thí nghiệm. Cấm người ngoài đến thăm học sinh
trong phòng thí nghiệm. Cấm ăn uống, hút thuốc trong phòng thí nghiệm.
- Mọi học sinh đều phải tuân thủ nội quy do phòng thí nghiệm đề ra. Phải giữ trật
tự, im lặng; phải có tính nghiêm túc, chính xác, trung thực và khoa học; phải tuân
theo các quy tắc bảo hiểm và giữ chỗ làm việc gọn gàng, sạch sẽ. Cấm vứt giấy
lọc, các chất rắn, axit, kiềm, chất dễ cháy, chất dễ bay hơi vào bể nước rửa mà phải
đổ vào chỗ quy định của phòng thí nghiệm. Dung môi bẩn phải đổ vào bình chứa
dung môi bần để tinh chế lại. Khi thao tác phải hết sức cẩn thận tránh gây đổ vở
hoặc các tai nạn đáng tiếc. Nếu có sự cố: đổ vỡ, hỏa hoạn, tai nạn cho người làm
thí nghiệm thì phải kịp thời báo ngay cho giáo viên phụ trách phòng thí nghiệm
hoặc giáo viên hướng dẫn và bình tĩnh xử lí mọi tình huống sự cố theo sự chỉ đạo
chung. Thiếu trách nhiệm và thiếu trung thực trong phòng thí nghiệm là điều
không thể chấp nhận được.
- Các nhóm học sinh chỉ làm những thí nghiệm ở bàn đã được phân công. Không
được làm thí nghiệm với dụng cụ bẩn. Không được tự tiện mang dụng cụ hóa chất
ra khỏi phòng thí nghiệm. Không được sử dụng dụng cụ máy móc không thuộc
phạm vi bài thí nghiệm cũng như khi chưa hiểu tính năng và cách sử dụng. Khi làm
thí nghiệm phải mặc áo choàng, phải có khăn mặt và khăn lau bàn ở chỗ làm việc.
Không được di chuyển dụng cụ và hóa chất trên bàn sang chổ khác. Không được
làm các thí nghiệm mà chưa được phép của giáo viên hướng dẫn.
- Tất cả các dụng cụ trước khi dùng phải lau rửa sạch, tráng lại bằng nước cất. Sau
khi sử dụng cũng phải tráng rửa sạch sẽ và để vào chổ cũ.
Dụng cụ và hóa
chất
Cách tiến hành thí nghiệm
Giải thích hiện tượng và
phương trình phản ứng
TN1
TN2
TN3
…..
Nếu thí nghiệm không đạt phải báo cáo rõ và giải thích nguyên nhân. Không được
chỉnh sửa số liệu và kết quả thí nghiệm. Thiếu trung thực trong nghiên cứu khoa
học là điều không
thể chấp nhận được đối với một người nghiên cứu khoa học.
III. Một số vấn đề cần lưu ý và cách xử lý tai nạn khi làm thí nghiệm
1- Một hóa chất dễ cháy nổ, độc hại nguy hiểm:
Đại đa số các hợp chất hữu cơ đều độc. Khi tiếp xúc với hóa chất, cần phải biết
đầy đủ tính độc, khả năng dễ nổ và dễ cháy của nó cũng như các quy tắc chống
độc, chống cháy và chống nổ.
- Khi làm việc với các hóa chất độc như KCN, NaCN, HCN, dimetylsulfat,
dimetylamin, Cl2, SO2, NO, NO2, H2S, N2O4, cloranhidrit của các axit đơn giản,
cũng như khi tiến hành những phản ứng có tách ra khí độc đều phải đeo mặt nạ hay
kính bảo hiểm, phải làm trong tủ hốt, phải có sự hướng dẫn của giáo viên hay nhân
viên phòng thí nghiệm.
- Các kim loại kiềm được giữ trong bình dầu hỏa đậy bằng nút bấc. Phải dùng cặp
lấy kim loại ra ( không dùng tay), lau khô bằng giấy lọc, tránh cho kim loại tiếp
xúc với nước hay CCl4. Phải hủy Na hay K sau phản ứng bằng một lượng nhỏ
ancolbutylic hay amylic.
rồi dùng thuốc mỡ chứa ZnO hoặc vaselin hoặc glicerol hay sunfidin bôi lên.
- Bỏng axit: rửa ngay bằng một lượng lớn nước lạnh rồi lấy bông gòn tẩm dung
dịch NaHCO3 loãng bôi. Nếu bỏng nhiều thì phải bôi thuốc sát trùng ( mỡ kháng
sinh) và đi ngay đến ý tế để kịp xử lí.
- Bỏng bazơ: rửa ngay bằng một lượng lớn nước lạnh rồi rửa bằng dung dịch
CH3COOH 1%. Nếu bỏng nhiều thì phải bôi thuốc sát trùng và đi ngay đến ý tế để
kịp xử lí.
- Bỏng Br2: lấy bông tẩm dầu, mỡ, bôi sạch hết Br2, sau đó xoa glicerol hoặc : Rửa
nhiều lần bằng ancol etylic rồi bằng dung dịch Na2S2O3 10%, sau đó bôi vazơlin
vào chỗ bỏng.
- Bỏng Na: nếu bị mảnh Na bắn vào cơ thể phải lấy ngay ra và rửa bằng nước lạnh
và cuối
cùng bôi dung dịch CH3COOH 1%.
- Khi bị bỏng phenol: Rửa nhiều lần bằng glicerol cho tới khi màu da trở lại bình
thường rồi bằng nước, sau đó băng vết thương bằng bông tẩm glicerol.
GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 7
Huongdanvn.com Tổng hợp hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm tốt
Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh
- Khi rơi chất hữu cơ lên da: Trong đa số trường hợp rửa bằng nước không có tác
dụng thì rửa bằng dung môi hữu cơ (ancol etylic ) nhưng cần rửa nhanh và bằng
một lượng lớn dung môi, tránh tạo thành dung dịch đặc chất hữu cơ trên da.
- Khi thở phải khí clo hay brom: Ngửi bằng dung dịch amoniac loãng hay ancol
etylic rồi đi ra chỗ thóang.
- Khi bị đầu độc bởi hóa chất: Uống một lượng tương đối nhiều nước sau đó nếu
bị đầu độc bởi acid thì uống một cốc NaHCO3 2%, nếu bởi kiềm thì uống một cốc
acid acetic hay acid limonic 2%.
Huongdanvn.com Tổng hợp hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm tốt
Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh
được các hiện tượng phản ứng và ghi lại hình ảnh mà các em quan sát được bằng
các dụng cụ như máy ảnh hoặc máy quay phim để làm tư liệu cho bản thân, đồng
thời có tác dụng tốt đối với các hoạt động nhận thức, giúp cho các em hiểu rõ tính
năng, tác dụng của các dụng cụ, nguyên tắc hoạt động của chúng và tự tin khi sử
dụng đến các phương tiện hiện đại sau này.
Thông qua thí nghiệm, từ thí nghiệm, giúp học sinh phát triển kỹ năng thực
hành, năng lực sáng tạo trong việc tìm ra các giải pháp để cho các dụng cụ thí
nghiệm hoạt có hiệu quả, gắn liền kiến thức hóa học với thực tiễn đời sống và với
hoạt động sản xuất, tự rút ra kiến thức và đi đến hình thành khái niệm, kiến thức
cho nên khái niệm, kiến thức được khắc sâu, đảm bảo dẫn học sinh tới sự khái quát
đúng đắn và toàn diện, tránh sự suy luận sai lầm, lệch lạc.
Cần có sự lựa chọn các thí nghiệm sao cho có tính khái quát và tính đại diện để
hình thành khái niệm và kiến thức hóa học cho học sinh một cách khoa học và có
độ chính xác cao.
Việc giáo viên tổ chức cho học sinh làm các thí nghiệm theo phương pháp
nghiên cứu kiến thức mới sẽ làm cho học sinh hoạt động một cách tích cực. Để đạt
hiệu quả cao khi tiến hành tổ chức học sinh làm thí nghiệm thì giáo viên cần hướng
dẫn học sinh tiến hành các hoạt động như:
•
Nhận rõ vấn đề cần nghiên cứu, nhiệm vụ cần đạt được.
•
Tiến hành phân tích tính chất của các chất cần nghiên cứu.
dụng cụ thí nghiệm.
•
Bước 2: Học sinh tiến hành thí nghiệm theo các hướng giải bằng lý thuyết.
Các dạng bài:
GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 9
Huongdanvn.com Tổng hợp hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm tốt
Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh
a) Bài tập thực nghiệm kiểm nghiệm tính chất các chất, qui luật:
Ví dụ: Hãy tiến hành thí nghiệm hoá học chứng tỏ độ hoạt động của các kim loại
giảm dần theo thứ tự sau: Al, Cu, Ag.
Học sinh tiến hành các hoạt động:
•
Chọn phản ứng hoá học chứng minh độ hoạt động hoá học của các kim loại
giảm dần và dự đoán các hiện tượng xảy ra: Al tác dụng với CuSO4, Cu tác
dụng với AgNO3, Al tác dụng với AgNO3.
•
Học sinh chọn dụng cụ hoá chất để làm thí nghiệm.
•
Quan sát các các chất và dự kiến các hiện tương có thể xảy ra.
Lựa chọn 1 phương án tối ưu và xây dựng quy trình tiến hành thí
nghiệm.
o
chuẩn bị dụng cụ hoá chất.
o
Xây dựng cách tiến hành cụ thể, thứ tự các bước, ghi lại hiện tượng
hoá học, kết luân các chất.
Ví dụ: Nhận biết các dung dịch không màu sau: KCl, K2SO4, H2SO4, HCl.
- Học sinh tiến hành phân tích đề: 2 axit và 2 muối.
- Các phương án nhận biết:
- Chọn phương án 1
GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 10
Huongdanvn.com Tổng hợp hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm tốt
Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh
- Tiến hành thí nghiệm:
•
Ghi số thứ tự 1, 2, 3, 4 cho từng dung dịch.
•
Hình 1
Hình 2
Hình 4
Hình 5
Hình
3
Hình 6
Hình 1-Bình Wurtz (a) và Claisen (b)
nhánh (b).
Hình 3 -Bình Bunsen (a) và ống nghiệm
Hình 3: Các loại ống sinh hàn không khí (a), thẳng (b), bầu (c), xoắn (d).
Hình 4: Phễu chiết (a) và phễu nhỏ giọt (b).
GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 12
Huongdanvn.com Tổng hợp hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm tốt
Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh
Hình 5: Phễu lọc xốp (a), phễu lọc nóng (b), phễu lọc lạnh (c).
Hình 6: Bình làm khô (a), bình làm khô chân không (b), thiết bị làm khô đơn giản
(c), máy làm khô (d).
Bình tam giác(erlen)
Bình cầu đáy tròn một cổ (a), hai cổ (b),ba
cổ (c), cổ dài (d), đáy bằng e), quả lê (g)
Thường sử dụng để chuẩn độ, chứa đựng môi trường, dung dịch, thực hiện
các phản ứng, bình cầu còn thích hợp cho các phản ứng cần xúc tác nhiệt độ.
Bình tam giác, bình cầu thường có thể tích từ 50ml đến 10 lít tùy theo dung
dịch chứa để chọn loại bình thích hợp.
Có vạch chia thể tích dùng để đong những khối
lượng dung dịch không cần phải có độ chính
xác cao.
Khi đong, nên chọn ống đong nào có khối lượng
gần nhất với khối lượng cần đong để có độ chính
xác cao hơn. Ví dụ: đong 45 ml dùng ống đong
loại 50 ml, đong 850 dùng ống đong 1000 ml.
Để tránh sai lầm trong lúc đọc mức đong,
phải đặt ống đong trên một mặt phẳng và
tầm mắt ngang tầm với bề mặt chất lỏng.
Ống đong các loại
2) Lắp dụng cụ thí nghiệm
Trước khi lắp dụng cụ thí nghiệm cần
phác hoạ sơ đồ dụng cụ, thống kê các bộ
phận cần thiết, chọn đủ các dụng cụ ấy rồi
mới lắp. Cần lắp các bộ phận đơn giản trước.
Nếu có dùng những hoá chất có tác dụng với
cao su thì nên lắp ống thuỷ tinh làm ống dẫn, chỉ các chỗ nối mới lắp ống
cao su. Đường kính bên trong của ống cao su phải hơi nhỏ hơn đường kính
GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 14
Sau các báo cáo và giải thích của các nhóm, giáo viên kết luận: Sắt tác dụng
với dung dịch muối của kim loại hoạt động yếu hơn (đứng sau Fe trong dãy hoạt
động hoá học) tạo thành muối sắt (II) và giải phóng kim loại trong muối.
- Trong quá trình học sinh làm thí nghiệm, giáo viên cần hướng dẫn thêm, đi
xuống từng nhóm nhắc nhở, hỗ trợ các em làm việc. Đặc biệt chú ý việc lắp đặt
dụng cụ, cách tiến hành để thí nghiệm đảm bảo an toàn, có kết quả.
GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 15
Huongdanvn.com Tổng hợp hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm tốt
Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh
•
Một số lưu ý khi cho HS thảo luận nhóm:
+ Phải để cho các em luân phiên nhau làm nhóm trưởng.
+ Phải buộc tất cả cùng hoạt động, tham gia đóng góp ý kiến.
+ Chỉ thay đổi nhóm 1 lần trong một tiết học (nếu có nhiều lần thảo luận nhóm)
+ Học sinh chỉ làm những thí nghiệm đơn giản, ít nguy hiểm
2. Phương pháp sử dụng cân
Các loại cân phân tích một buồng
a- Cân kỹ thuật: Để cân các vật (hóa chất) có khối lượng lớn và cân sơ bộ
các hóa chất có khối lượng nhỏ. Trước khi cân các hóa chất cần phải cân đồ đựng.
- Cách cân: Ngồi ngay ngắn trước cân để đọc các kết quả cho chính xác, đặt vật
đựng trên đĩa cân (nếu cân có hai đĩa thì đặt vật đựng trên đĩa cân bên phải). Chọn
và đặt các quả cân thích hợp lên đĩa cân bên trái hoặc đòn cân (tùy theo cân). Di
chuyển quả cân nhỏ trên du xích đến vị trí nào đó để cho đòn cân thăng bằng. Giá
trị của vật cân bằng tổng giá trị của các quả cân cộng với số chỉ trên du xích.
- Cân hóa chất: Lấy hóa chất vào vật đựng rồi đặt vật đựng có hóa chất trên đĩa cân
Khối lượng vật cân = Khối lượng các quả cân nhỏ (chỉ thị trên các núm vặn) +
Khối lượng quan sát được trên du du xích (qua khe ngắm sáng).
- Khối lượng các quả cân nhỏ được chỉ ra trên vị trí các núm vặn trên cân trùng
với vạch mốc.
- Giá trị quan sát trên du xích là vạch có số đo trùng với vạch mốc trên khe
ngắm; phải ngắm bằng mắt để đọc. Khi không nhìn thấy du xích( vượt thang) thì
phải điều chỉnh các các quả cân trên cân( qua các núm vặn) để đưa giá trị của du
xích vào lại trong thang. Sau khi đọc xong các giá trị khối lượng phải hãm cân lại
tư thế nghỉ.
Khi cân các hóa chất thì mở của buồng bên trái hoặc bên phải ra. Dùng thìa để
lấy hóa chất vào đồ đựng( đã cân được khối lượng chính xác như trên đã làm).
Chỉnh các quả cân đến gần khối lượng mong muốn rồi tiến hành cân. Dùng thìa
thêm bới hóa chất đẻ dạt khối lượng mong muốn. Mỗi lần thêm bớt hóa chất cũng
phải khóa cân đưa về tư thế nghỉ. Sau mỗi lần thao tác thêm bớt hóa chất và chỉnh
quả cân đều phải đóng cửa các buồng tương ứng.
Lưu ý: Cân phải để nơi khô, ráo ít gió; các buồng cân phải có các vật liệu
chống ẩm( để trong túi vải). Phòng cân có ánh sáng vừa phải (không được tối quá
hoặc sáng quá) để dễ đọc các giá trị trên du xích. Khi cân phải tuyệt đối cẩn thận
không được để rơi vãi hóa chất vào cân. Không được mở các buồng cân khi đang
cân vì các tác động cơ học bên ngoài(gió) sẽ làm ảnh hưởng đến giá trị khối lượng
của vật cân. Một vật phải cân ít nhất 3 lần rồi lấy giá trị trung bình. Khi cân hóa
chất dùng thìa cân để thêm bớt hóa chất, để lấy đúng khối lượng mong muốn.
β- Sử dụng cân điện tử hiện số: Cách dùng đơn giản và tiện lợi hơn. Ta cân vật
đựng trước rồi sau đó lấy hóa chất vào vật đựng và cân. Khi đặt vật cân lên đĩa cân
rồi đóng cửa buồng lại. Chờ cho số hiện trên đồng hồ ổn định thì đọc và ghi lại.
Muốn cân chính xác cũng phải cân ít nhất 3 lần rồi lấy giá trị trung bình. Cách
thêm bớt hóa chất, để lấy đúng khối lượng mong muốn cũng tương tự như trên.
3- Phương pháp lấy hóa chất vào ống nghiệm
a- Lấy hóa chất rắn: Ống nghiệm phải thật khô, tay trái cầm ống nghiệm
hơi nghiêng đi, tay phải dùng thìa múc hóa chất cho vào miệng ống nghiệm đến
Các dung dịch thường được pha theo các loại nồng độ:
– Nồng độ phần trăm
– Nồng độ mol/lít
– Nồng độ đương lượng (nguyên chuẩn).
Dưới đây là cách pha một số dung dịch:
1. Pha dung dịch của chất rắn trong nước theo nồng độ phần trăm
a. Pha dung dịch của chất rắn không ngậm nước
Trước khi pha phải tính lượng chất tan và lượng nước cần dùng là bao nhiêu. Ví dụ
pha chế 250g dung dịch 10% một chất đã cho (chẳng hạn natri clorua, bari clorua,
đồng sunfat,…). Ta tính 10% của 250g, đó là 25g. Như thế phải lấy 25g chất tan và
225g nước (225g nước chiếm một thể tích là 225ml, ở đây bỏ qua sự thay đổi tỉ
GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 18
Huongdanvn.com Tổng hợp hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm tốt
Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh
khối của nước theo nhiệt độ). Dùng cân sẽ lấy được 25g chất tan, còn 225ml nước
thì dùng ống chia độ để đong.
b. Pha dung dịch của chất rắn ngậm nước
Trước hết phải tính lượng muối không ngậm nước rồi suy ra lượng muối ngậm
nước.
Ví dụ: Pha 100g dung dịch 10% đồng sunfat từ muối CuSO4. 5H2O.
Lượng đồng sunfat trong 100g dung dịch là 10g. Khối lượng mol của CuSO4.5H2O
= 250g. Khối lượng mol của CuSO4 bằng 160g.
Lượng muối đồng sunfat ngậm nước là x được tính theo tỉ lệ:
Vậy phải cân lấy » 15,6g CuSO4.5H2O và đong » 84,4g nước đem hoà tan vào
nhau.
2. Pha dung dịch chất lỏng trong nước theo nồng độ phần trăm
BaCl2.2H2O có nồng độ 0,1N nghĩa là trong 1 lít dung dịch có 12,2g BaCl2.H2O.
Vậy trong 100ml dung dịch có 1,22g BaCl2.2H2O. Quá trình pha dung dịch được
tiến hành như trên.
5. Pha dung dịch có nồng độ đã định trước theo khối lượng riêng
Cách pha dung dịch đơn giản hơn cả là dùng tỉ khối kế, rồi đối chiếu với bảng
nồng độ đã được tính sẵn.
Rót dung dịch vào ống đo, nhúng tỉ khối kế vào đó. Nếu muốn có dung dịch loãng
hơn thì cho thêm nước từ từ vào. (Nếu là axit sunfuric thì phải cho axit vào nước).
6. Pha loãng dung dịch
Trong nhiều thí nghiệm ở trường phổ thông cần dùng các dung dịch có nồng độ
loãng hơn dung dịch hiện có ở phòng thí nghiệm. Lúc đó phải pha loãng dung dịch.
Sự pha loãng thường được biểu thị bằng tỉ số 1 : 1, nghĩa là cứ 1 thể tích dung dịch
ban đầu ta thêm vào 1 thể tích dung môi.
7. Pha chất chỉ thị và một số thuốc thử đặc biệt
a. Dung dịch quỳ
Quỳ (tím) là một chất hữu cơ có màu được lấy từ một số loại rêu biển (địa y). Cũng
như một số chất màu thực vật khác, màu của nó biến đổi theo môi trường phản ứng.
Khoảng chuyển màu là từ pH = 5,0 đến pH = 8,0
(đỏ trong môi trường axit, xanh trong môi trường kiềm).
– Cách pha dung dịch quỳ: Hoà tan 1g bột quỳ vào 1 lít dung dịch rượu etylic
loãng (1 phần rượu và 4 phần nước), sau đó lọc qua bông thấm nước. Cũng có thể
hoà tan bột quỳ vào ngay nước cất nhưng nó tan kém hơn và phải lọc kĩ hơn cho
khỏi bị cặn.
– Cách làm giấy quỳ: Trước hết biến đổi dung dịch đặc quỳ trung tính thành quỳ
đỏ hay quỳ xanh bằng cách thêm vào đó một lượng nhỏ axit (H2SO4 chẳng hạn)
hay kiềm (NaOH). Đổ dung dịch quỳ đỏ ra chậu thuỷ tinh có thành thấp. Nhúng
các băng giấy lọc đã được cắt sẵn vào chậu và kéo lướt qua dung dịch. Dùng cặp,
kẹp các băng giấy đã nhuộm lên dây thép ở trong phòng sao cho các băng giấy
không chập vào nhau. Khi băng giấy khô, cắt thành từng đoạn ngắn khoảng 6 –
hồ tinh bột thì lấy 0,5g tinh bột đã nghiền nhỏ cho vào nước lạnh làm thành bột
loãng. Vừa khuấy đều vừa đổ từ từ bột loãng đó vào
150 – 180ml nước đun sôi, ta sẽ được hồ tinh bột.
Cũng có thể làm theo cách khác: hoà tan 0,5g tinh bột vào 100ml nước cất đun sôi,
tiếp tục đun sôi lại 5 phút nữa rồi để nguội. Có thể dùng nước cơm thay hồ tinh
bột.
e. Nước vôi
Nước vôi dùng để nhận ra khí cacbonic và là kiềm rẻ tiền nhất.
Cách pha: Hoà tan vôi tôi vào nước. Vì độ tan của vôi tôi rất nhỏ nên phải pha như
sau: Cho một ít vôi tôi vào bình cầu, đổ thêm nước cho đầy đến gần cổ bình để
diện tích tiếp xúc giữa chất lỏng với không khí là nhỏ nhất. Đậy nút kín và để lắng
hỗn hợp trong vài giờ trở lên. Sau đó lọc lấy nước trong, ta sẽ được nước vôi trong.
Cần đậy nút thật kín các bình đựng nước vôi, nếu không, khi để lâu nó sẽ bị hỏng
vì nước vôi tác dụng với khí cacbonic của không khí.
4-. Hoà tan, lọc, kết tinh lại
a. Hoà tan
Khi hoà tan hai chất lỏng vào nhau cần luôn luôn lắc bình đựng để cho dung dịch
đồng nhất.
Khi hoà tan chất rắn vào chất lỏng, nếu chất rắn có tinh thể to, ta phải nghiền nhỏ
thành bột trước khi hoà tan. Dùng nước cất để hoà tan các chất, không dùng nước
máy, nước giếng,… Nếu không có nước cất thì bất đắc dĩ có thể dùng nước mưa
hứng ở trên cao và ở chỗ sạch. Nếu hoà tan trong cốc thuỷ tinh và bình hình nón
thì dùng đũa thuỷ tinh để khuấy. Đầu các đũa thuỷ tinh này phải được bọc bằng
ống cao su lồng vừa khít vào đầu đũa thuỷ tinh, đầu ống cao su dài hơn đầu đũa
GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 21
Huongdanvn.com Tổng hợp hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm tốt
Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh
Huongdanvn.com Tổng hợp hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm tốt
Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh
Không đổ đầy chất lỏng đến tận mép giấy lọc. Muốn lọc được nhanh, trước khi lọc
nên để lắng, đừng làm vẩn kết tủa và lọc phần nước trong nước.
c. Kết tinh lại
Kết tinh
lại là
quá trình
một chất
rắn kết
tinh
được
chuyển
vào
dung
dịch
bằng
cách đun
nóng với
một
dung môi nào đó và sau khi làm lạnh dung dịch, nó lại xuất hiện ở trạng thái tinh
thể nhưng tinh khiết hơn.
Trong phòng thí nghiệm hoá học, người ta thường lợi dụng quá trình kết tinh lại
để tinh chế các chất, để phân chia hỗn hợp các chất kết tinh lại để tinh chế, để
phân chia hỗn hợp các chất kết tinh, v.v… Quá trình kết tinh lại dựa vào một tính
chất vật lí của các chất kết tinh là thay đổi độ tan trong dung môi theo nhiệt độ.
Cách tiến hành: Cho chất cần kết tinh lại vào bình hình nón, cho dần nước hoặc
dung môi hữu cơ vào để được dung dịch hơi quá bão hoà. Đun nóng dung dịch,
đựng( thường là bình tam giác) hứng phía dưới, mắt quan sát mức chất lỏng hoặc
hiện tượng xảy ra, khi chất lỏng di động đến mức cần thiết hoặc hiện tượng xảy ra
đạt ý muốn thì đóng khóa buret lại.
Lưu ý: Khi quan sát mức chất lỏng chuyển động trong buret hoặc vạch mức
chất lỏng thì tầm mắt phải luôn luôn ngang với nó để đường nhìn tạo thành tiếp
tuyến với đáy mặt khum của chất lỏng trong ống. Khi chất lỏng có màu và thấm
ướt thì tầm nhìn là mặt phẳng cao nhất do chất lỏng dính trên thành ống tạo thành.
4- Đun nóng
a. Dùng đèn cồn
Khi đun nóng, chú ý để đáy ông nghiệm (hoặc thành của bình, lọ,… muốn đun
nóng) vào chỗ nóng nhất của ngọn lửa đèn cồn, ở vị trí 2/3 của ngọn lửa đèn cồn,
tức là ở vị trí 2/3 của ngọn lửa kể từ dưới lên (hình 1.10). Không để đáy ống
nghiệm… sát vào bấc đèn cồn, vì làm như thế ống nghiệm… sẽ bị vỡ. Trong khi
đun nóng, lắc nhẹ ống nghiệm… và nghiêng miệng ống về phía không có người.
GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 24
Huongdanvn.com Tổng hợp hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm tốt
Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh
Khi dùng đèn cồn cần chú ý đến lượng cồn trong đèn, cách châm đèn và tắt đèn.
Không nên để cồn trong đèn cạn gần khô kiệt, vì cồn còn ít quá sẽ tạo với không
khí thành hỗn hợp nổ. Không nên rót cồn vào đèn quá đầy mà chỉ rót đến gần ngấn
cổ. Tuyệt đối không được châm đèn bằng cách lấy ngọn đèn cồn nọ châm vào
ngọn đèn cồn kia, vì làm như thế cồn đổ ra sẽ bốc cháy. Muốn tắt đèn thì dùng nắp
đèn chụp vào ngọn đèn mà không được thổi bằng miệng.
b. Dùng đèn dầu hoả
Những nơi không mua được cồn thì có thể dùng loại bếp dầu hoả 5 bấc hoặc đèn