skkn THIẾT kế và sử DỤNG THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH hóa học TRONG VIỆC HÌNH THÀNH và PHÁT TRIỂN tư DUY CỦA HỌC SINH - Pdf 32

Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh

MỤC LỤC
Lời nói đầu:...................................................................................................Trang 1
PHẦN I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG TRONG THỰC HÀNH HÓA HỌC.....3
Bài 1: PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC VÀ CÁCH TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM..3
Bài 2: DỤNG CỤ PHÒNG THÍ NGHIỆM VÀ THAO TÁC SỬ DỤNG............9
PHẦN II: PHẦN THỰC HÀNH.........................................................................20
I- HỌC SINH XEM THÍ NGHIỆM BẰNG VIDEO.........................................20
II- HỌC SINH LÀM THÍ NGHIỆM...................................................................21
Bài thực hành số 1...................................................................................21
Bài thực hành số 2...................................................................................24
Bài thực hành số 3...................................................................................26
PHẦN III: CÁC BÀI TẬP ĐỀ NGHỊ..................................................................30
KẾT LUẬN............................................................................................................34

GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 1


Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh

MỞ ĐẦU
Trong tình hình hiện nay của đất nước, nói đến việc phát huy nguồn lực con
người thì trước hết, nền tảng phải là sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo vững chắc. Tất
cả chúng ta đang cùng hướng tới xây dựng một nền giáo dục toàn diện, đổi mới,
hiệu quả, không tiêu cực, không bệnh thành tích. Vậy thì, vấn đề cần được chú ý
đầu tư là việc dạy và học trong trường học. Việc đổi mới phương pháp dạy, đổi
mới phương pháp học, đặc biệt là ở trường phổ thông thực ra đã được nói đến và
đã thực hiện. Tuy nhiên với tình hình phát triển khoa học – kỹ thuật như vũ bão
của thế giới thì sự nghiệp Giáo dục vẫn luôn là vấn đề cấp bách, là quốc sách hàng
đầu, cần được chú trọng thực hiện mỗi ngày mỗi giờ. Khi chương trình sách giáo

- Một số vấn đề chung trong thực hành hóa học.
- Phần thực hành.
GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 2


Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh

- Bài tập đề nghị.
Trong quá trình thực hiện, chuyên đề sẽ không tránh khỏi sự sai sót. Mong
Quý Thầy Cô, các bạn đồng nghiệp tận tình góp ý và giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt
chuyên đề này. Chân thành cảm ơn.

GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 3


Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh

PHẦN I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
TRONG THỰC HÀNH HÓA HỌC
Bài 1:
PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC VÀ CÁCH TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM
I. Phương pháp tổ chức
Các thí nghiệm được tổ chức theo bài, mỗi bài có từ 4-5 đơn vị thí nghiệm
hoặc
nhiều hơn tùy thuộc vào nội dung bài học mà giáo viên cần truyền tải sao cho phù
hợp với thời gian, dung lượng của tiết học. Mỗi bài thí nghiệm được chia thành
nhóm, mỗi nhóm có từ 6- 10 học sinh. Trong một lần làm thí nghiệm, 1 nhóm học
sinh phải hoàn thành một bài thí nghiệm được phân công kể cả trong phòng thí
nghiệm hay làm thí nghiệm tại lớp học.

bị, dụng cụ trên bàn do nhóm mình phụ trách. Mỗi học sinh phải làm việc ở một
chỗ quy định. Khi muốn sử dụng các dụng cụ hoặc hóa chất khác phải hỏi giáo
viên phụ trách phòng thí nghiệm hoặc giáo viên hướng dẫn. Làm bài thí nghiệm đã
được giáo viên thông qua và dưới sự giám sát của giáo viên. Không được làm thí
nghiệm một mình trong phòng thí nghiệm. Cấm người ngoài đến thăm học sinh
trong phòng thí nghiệm. Cấm ăn uống, hút thuốc trong phòng thí nghiệm.
- Mọi học sinh đều phải tuân thủ nội quy do phòng thí nghiệm đề ra. Phải giữ trật
tự, im lặng; phải có tính nghiêm túc, chính xác, trung thực và khoa học; phải tuân
theo các quy tắc bảo hiểm và giữ chỗ làm việc gọn gàng, sạch sẽ. Cấm vứt giấy
lọc, các chất rắn, axit, kiềm, chất dễ cháy, chất dễ bay hơi vào bể nước rửa mà phải
đổ vào chỗ quy định của phòng thí nghiệm. Dung môi bẩn phải đổ vào bình chứa
dung môi bần để tinh chế lại. Khi thao tác phải hết sức cẩn thận tránh gây đổ vở
hoặc các tai nạn đáng tiếc. Nếu có sự cố: đổ vỡ, hỏa hoạn, tai nạn cho người làm
thí nghiệm thì phải kịp thời báo ngay cho giáo viên phụ trách phòng thí nghiệm
hoặc giáo viên hướng dẫn và bình tĩnh xử lí mọi tình huống sự cố theo sự chỉ đạo
chung. Thiếu trách nhiệm và thiếu trung thực trong phòng thí nghiệm là điều
không thể chấp nhận được.
- Các nhóm học sinh chỉ làm những thí nghiệm ở bàn đã được phân công. Không
được làm thí nghiệm với dụng cụ bẩn. Không được tự tiện mang dụng cụ hóa chất
ra khỏi phòng thí nghiệm. Không được sử dụng dụng cụ máy móc không thuộc
phạm vi bài thí nghiệm cũng như khi chưa hiểu tính năng và cách sử dụng. Khi làm
thí nghiệm phải mặc áo choàng, phải có khăn mặt và khăn lau bàn ở chỗ làm việc.
Không được di chuyển dụng cụ và hóa chất trên bàn sang chổ khác. Không được
làm các thí nghiệm mà chưa được phép của giáo viên hướng dẫn.
- Tất cả các dụng cụ trước khi dùng phải lau rửa sạch, tráng lại bằng nước cất. Sau
khi sử dụng cũng phải tráng rửa sạch sẽ và để vào chổ cũ.
- Các lọ hóa chất phải luôn luôn đậy nút kín. Không được cắm ống hút (pipet, ống
nhỏ giọt) từ lọ hóa chất này sang ọ hóa chất khác.
- Các em cần lưu ý là khi tiến hành các bài tổng hợp cần lấy lượng hóa chất chính
xác theo bài hướng dẫn. Với các thí nghiệm thử tính chất được tiến hành theo

phương trình phản ứng

TN1
TN2
TN3
…..
Nếu thí nghiệm không đạt phải báo cáo rõ và giải thích nguyên nhân. Không được
chỉnh sửa số liệu và kết quả thí nghiệm. Thiếu trung thực trong nghiên cứu khoa
học là điều không
thể chấp nhận được đối với một người nghiên cứu khoa học.
III. Một số vấn đề cần lưu ý và cách xử lý tai nạn khi làm thí nghiệm
1- Một hóa chất dễ cháy nổ, độc hại nguy hiểm:
Đại đa số các hợp chất hữu cơ đều độc. Khi tiếp xúc với hóa chất, cần phải biết
đầy đủ tính độc, khả năng dễ nổ và dễ cháy của nó cũng như các quy tắc chống
độc, chống cháy và chống nổ.
- Khi làm việc với các hóa chất độc như KCN, NaCN, HCN, dimetylsulfat,
dimetylamin, Cl2, SO2, NO, NO2, H2S, N2O4, cloranhidrit của các axit đơn giản,
cũng như khi tiến hành những phản ứng có tách ra khí độc đều phải đeo mặt nạ hay
kính bảo hiểm, phải làm trong tủ hốt, phải có sự hướng dẫn của giáo viên hay nhân
viên phòng thí nghiệm.
- Các kim loại kiềm được giữ trong bình dầu hỏa đậy bằng nút bấc. Phải dùng cặp
lấy kim loại ra ( không dùng tay), lau khô bằng giấy lọc, tránh cho kim loại tiếp
xúc với nước hay CCl4. Phải hủy Na hay K sau phản ứng bằng một lượng nhỏ
ancolbutylic hay amylic.
- Thủy ngân được giữ trong bình nút kín, đặt các thiết bị có chứa thủy ngân trong
khay men hay nhựa, thu hồi thủy ngân rơi vãi bằng bản hỗn hống đồng hay dùng
mao quản qua bình nối với bơm hút dòng nước.
- Brom được giữ trong bình dày có nút nhám, lấy brom trong tủ hốt, đeo kính bảo
hiểm và găng tay, mỗi lần lấy brom cho vào bình phản ứng qua phễu nhỏ giọt đã
được thử trước độ kín và không được quá 10 ml.

- Bỏng Br2: lấy bông tẩm dầu, mỡ, bôi sạch hết Br2, sau đó xoa glicerol hoặc : Rửa
nhiều lần bằng ancol etylic rồi bằng dung dịch Na2S2O3 10%, sau đó bôi vazơlin
vào chỗ bỏng.
- Bỏng Na: nếu bị mảnh Na bắn vào cơ thể phải lấy ngay ra và rửa bằng nước lạnh
và cuối
cùng bôi dung dịch CH3COOH 1%.
- Khi bị bỏng phenol: Rửa nhiều lần bằng glicerol cho tới khi màu da trở lại bình
thường rồi bằng nước, sau đó băng vết thương bằng bông tẩm glicerol.
- Khi rơi chất hữu cơ lên da: Trong đa số trường hợp rửa bằng nước không có tác
dụng thì rửa bằng dung môi hữu cơ (ancol etylic ) nhưng cần rửa nhanh và bằng
một lượng lớn dung môi, tránh tạo thành dung dịch đặc chất hữu cơ trên da.
- Khi thở phải khí clo hay brom: Ngửi bằng dung dịch amoniac loãng hay ancol
etylic rồi đi ra chỗ thóang.
- Khi bị đầu độc bởi hóa chất: Uống một lượng tương đối nhiều nước sau đó nếu
bị đầu độc bởi acid thì uống một cốc NaHCO3 2%, nếu bởi kiềm thì uống một cốc
acid acetic hay acid limonic 2%.

GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 7


Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh

- Khi bị thương bởi mảnh thủy tinh: Gắp hết mảnh thủy tinh ra khỏi vết thương,
bôi cồn Iod 3% rồi băng vết thương lại. Nếu chảy máu nhiều thì cột garo rồi đưa đi
bệnh xá.
b- Các hóa chất bắn vào mắt:
- Nếu là axit phải rửa bằng dung dịch NaHCO3 1%. Nếu axit đặc trước tiên phải
rửa bằng nước lạnh sau đó mới rửa bằng dung dịch NaHCO3 1%.
- Nếu là baz: phải rửa bằng nước lạnh sau đó mới rửa bằng dung dịch HBO3 1%.
c- Chữa cháy:

cho nên khái niệm, kiến thức được khắc sâu, đảm bảo dẫn học sinh tới sự khái quát
đúng đắn và toàn diện, tránh sự suy luận sai lầm, lệch lạc.
GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 8


Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh

Cần có sự lựa chọn các thí nghiệm sao cho có tính khái quát và tính đại diện để
hình thành khái niệm và kiến thức hóa học cho học sinh một cách khoa học và có
độ chính xác cao.
Việc giáo viên tổ chức cho học sinh làm các thí nghiệm theo phương pháp
nghiên cứu kiến thức mới sẽ làm cho học sinh hoạt động một cách tích cực. Để đạt
hiệu quả cao khi tiến hành tổ chức học sinh làm thí nghiệm thì giáo viên cần hướng
dẫn học sinh tiến hành các hoạt động như:


Nhận rõ vấn đề cần nghiên cứu, nhiệm vụ cần đạt được.



Tiến hành phân tích tính chất của các chất cần nghiên cứu.



Đề xuất các thí nghiệm để kiểm tra những dự đoán mà mình đưa ra.



Đề xuất cách tiến hành thí nghiệm.


giảm dần theo thứ tự sau: Al, Cu, Ag.
Học sinh tiến hành các hoạt động:


Chọn phản ứng hoá học chứng minh độ hoạt động hoá học của các kim loại
giảm dần và dự đoán các hiện tượng xảy ra: Al tác dụng với CuSO4, Cu tác
dụng với AgNO3, Al tác dụng với AgNO3.



Học sinh chọn dụng cụ hoá chất để làm thí nghiệm.



Quan sát các các chất và dự kiến các hiện tương có thể xảy ra.



Tiến hành thí nghiệm và quan sát hiện tượng xảy ra.

GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 9


Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh


Rút ra kết luận.

b) Bài tập thực nghiệm về nhận biết các chất:
Học sinh tiến hành các hoạt động:

hoá học, kết luân các chất.

Ví dụ: Nhận biết các dung dịch không màu sau: KCl, K2SO4, H2SO4, HCl.
- Học sinh tiến hành phân tích đề: 2 axit và 2 muối.
- Các phương án nhận biết:

- Chọn phương án 1
- Tiến hành thí nghiệm:


Ghi số thứ tự 1, 2, 3, 4 cho từng dung dịch.



Lấy mỗi lọ một giọt dung dịch, sau đó nhỏ vào giấy quỳ tím.

-

Không đổi màu quỳ tím là KCl và K2SO4. ( Nhóm A)

-

Làm quỳ tím chuyển đỏ là HCl và H2SO4. (Nhóm B)


Lấy 1ml dung dịch trong mỗi lọ của hai nhóm A, B. Nhỏ từ từ dung dịch
BaCl2 vào từng ống nghiệm.

Nhóm A: Dung dịch nào xuất hiện kết tủa trắng là H2SO4. Dung dịch còn lại
không xuất hiện hiện tượng gì là HCl

Hình 3: Các loại ống sinh hàn không khí (a), thẳng (b), bầu (c), xoắn (d).
Hình 4: Phễu chiết (a) và phễu nhỏ giọt (b).
Hình 5: Phễu lọc xốp (a), phễu lọc nóng (b), phễu lọc lạnh (c).
GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 11


Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh

Hình 6: Bình làm khô (a), bình làm khô chân không (b), thiết bị làm khô đơn giản
(c), máy làm khô (d).

Pipet có bóp cao su
độ

Lấy dd vào buret

Giá đở buret để chuẩn

* Việc cần đặt ra ở đây là làm thế nào chúng ta hướng dẫn cho học sinh cách chọn
dụng cụ thí nghiệm phù hợp với bài thực hành.
1) Chọn dụng cụ thuỷ tinh
Ở phòng thí nghiệm trường phổ thông thường
hay dùng loại ống thuỷ tinh có đường kính 4 – 6mm
và có bề dày 1 – 2mm. Các loại ống thuỷ tinh sản
xuất trong nước có thể đảm bảo được yêu cầu này
của phòng thí nghiệm.
- Chịu hóa chất: là thủy tinh trung tính, chịu được hầu hết các hóa
chất, dung dịch ăn mòn mạnh ở nhiệt độ cao (ngoại trừ HF là dung dịch acid
có độ ăn mòn cao nhất thậm chí tại nồng độ thấp).
- Tính chất nhiệt: chịu được nhiệt độ cao, shock nhiệt.

Trước khi lắp dụng cụ thí nghiệm cần
phác hoạ sơ đồ dụng cụ, thống kê các bộ
phận cần thiết, chọn đủ các dụng cụ ấy rồi
mới lắp. Cần lắp các bộ phận đơn giản trước.
Nếu có dùng những hoá chất có tác dụng với

cao su thì nên lắp ống thuỷ tinh làm ống dẫn, chỉ các chỗ nối mới lắp ống
cao su. Đường kính bên trong của ống cao su phải hơi nhỏ hơn đường kính
bên ngoài của ống thuỷ tinh. Không nên để một ống thuỷ tinh dài uốn cong
nhiều khúc mà nên thay bằng những đoạn nối bằng ống cao su để tránh bị
gẫy ống dẫn khi đang làm thí nghiệm. Đoạn ống cao su để nối đó không nên
GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 13


Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh

dài, nhất là khi làm thí nghiệm với các chất ăn mòn được cao su. Khi lắp
dụng cụ cần chú ý hai yêu cầu sau:
– Thuận tiện cho thí nghiệm.
– Hình thức bên ngoài gọn, đẹp, kích thước các bộ phận tương xứng
với nhau.
Sau khi lắp xong, cần thử lại xem dụng cụ đã kín chưa, nhất là đối
với các dụng cụ dùng trong những thí nghiệm có chất khí tham gia. Có hai
cách thử:
– Dùng miệng thổi vào và nhỏ nước lên các chỗ nối để kiểm tra.
– Nhúng đầu ống dẫn vào nước, dùng tay nắm chặt ống nghiệm hoặc
bình cầu. Nếu dụng cụ đã được lắp kín, thì do thân nhiệt của bàn tay, không
khí trong ống nghiệm hoặc bình cầu nở ra sẽ đẩy nước mà thoát ra ngoài
thành những bọt khí.
VD: Thí nghiệm nghiên cứu phản ứng của sắt với dung dịch muối.

a- Cân kỹ thuật: Để cân các vật (hóa chất) có khối lượng lớn và cân sơ bộ
các hóa chất có khối lượng nhỏ. Trước khi cân các hóa chất cần phải cân đồ đựng.
- Cách cân: Ngồi ngay ngắn trước cân để đọc các kết quả cho chính xác, đặt vật
đựng trên đĩa cân (nếu cân có hai đĩa thì đặt vật đựng trên đĩa cân bên phải). Chọn
và đặt các quả cân thích hợp lên đĩa cân bên trái hoặc đòn cân (tùy theo cân). Di
chuyển quả cân nhỏ trên du xích đến vị trí nào đó để cho đòn cân thăng bằng. Giá
trị của vật cân bằng tổng giá trị của các quả cân cộng với số chỉ trên du xích.
- Cân hóa chất: Lấy hóa chất vào vật đựng rồi đặt vật đựng có hóa chất trên đĩa cân
và làm tương tự như trên. Với cân điện hiện số sẽ có hướng dẫn riêng.
b- Cân phân tích: Dùng để cân chính xác một lượng hóa chất nào đó. Hiện
nay có nhiều loại cân phân tích (thường, cân điện, và cân điện tử hiện số), sai số và
độ chính xác cũng khác nhau. Tuy nhiên về cách cân thì không khác nhau là mấy.
α- Cân phân tích thường và điện(cân có du xích quang học): có 2 loại 1
buồng và 2 buồng.
- Yêu cần về sử dụng: Vật đựng phải làm bằng vật liệu không bị oxi hóa và
ăn mòn, không hút ẩm(thường dùng mặt kính đồng hồ hoặc cốc cân có nắp).
- Yêu cần với hóa chất: Các hóa chất cần cân phải ở dạng rắn, khô, mịn hạt
để dễ điều chỉnh khối lượng cân. Thông thương người ta sấy khô hóa chất đến khối
lượng không đổi rồi nghiền mịn.
Trước khi cân hóa chất phải cân đồ đựng. Khi cân hóa chất nhất thiết phải
dùng đồ đựng(cốc cân hoặc mặt kính đồng hồ) để tránh rơi vãi trên đĩa cân và
buồng cân.
Cách cân phân tích một buồng: Trước khi cân phải kiểm tra cân đã được
hãm chưa, nếu chưa thì phải vẵn nút cân lại(vặn theo chiều ngược chiều kim đồng)
sau đó kiểm tra cân đã ở đúng vị trí trên phẳng nằm ngang chưa, nếu chưa thì vặn
các nút ở dưới các chân đế sao cho bọt nước nằm đúng giữa tâm vòng tròn. Phải
ngồi ngay ngắn trước cân để đọc được kết quả chính xác. Đặt vật cân(đã cân sơ bộ
trên cân kỹ thuật) lên đĩa cân rồi đóng cửa buồng cân lại. Dùng tay vặn các núm
trên cân để chỉnh các quả cân đến các giá trị thích hợp. Sau đó dùng tay vặn nút
hãm cân để hạ hệ thống hãm đòn cân xuống. Đợi một thời gian cho cân ổn định

đựng trước rồi sau đó lấy hóa chất vào vật đựng và cân. Khi đặt vật cân lên đĩa cân
rồi đóng cửa buồng lại. Chờ cho số hiện trên đồng hồ ổn định thì đọc và ghi lại.
Muốn cân chính xác cũng phải cân ít nhất 3 lần rồi lấy giá trị trung bình. Cách
thêm bớt hóa chất, để lấy đúng khối lượng mong muốn cũng tương tự như trên.
3- Phương pháp lấy hóa chất vào ống nghiệm
a- Lấy hóa chất rắn: Ống nghiệm phải thật khô, tay trái cầm ống nghiệm
hơi nghiêng đi, tay phải dùng thìa múc hóa chất cho vào miệng ống nghiệm đến
một khoãng nào đó thì dừng lại nghiêng thìa cho hóa chất rơi vào ống nghiệm
không đưa thìa vào quá sâu hoặc chạm thành để tránh hóa hóa chất khác dính vào
thìa. Ta có thể dùng mảnh giấy cuộn hóa chất ở trong và đưa vào ống nghiệm.
b- Lấy hóa chất lỏng: Tay trái cầm ống nghiệm hơi nghiêng đi, tay phải
cầm ống nhỏ giọt nhỏ từ từ hóa chất lỏng (hay dung dịch) vào miệng ống nghiệm.
c- Pha chế dung dịch
Pha chế dung dịch là một trong những công việc quan trọng ở phòng thí
nghiệm hoá học.
Khi pha chế dung dịch cần tuân theo các quy tắc sau đây:
GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 16


Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh

1) Bình, lọ để pha chế dung dịch phải được rửa sạch và tráng nước cất trước
khi pha.
2) Phải dùng nước cất để pha hoá chất (nếu không có thì có thể dùng nước
mưa thật sạch, tuy không được tinh khiết).
3) Trước khi pha dung dịch cần phải tính toán lượng chất tan và
dung môi.
4) Nên pha dung dịch kiềm đặc vào bình sứ.
5) Nếu có thể nên kiểm tra lại nồng độ của dung dịch bằng tỉ khối kế.
6) Sau khi pha xong dung dịch, cần phải cho vào lọ có màu thích hợp, đậy kín


Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh

2. Pha dung dịch chất lỏng trong nước theo nồng độ phần trăm
Phương pháp này thường được dùng khi pha dung dịch có nồng độ đã định từ một
dung dịch khác.
Ví dụ: Pha 250g dung dịch axit sunfuric 10% từ dung dịch H2SO4 đặc hơn.
Cần phải dùng tỉ khối kế để đo tỉ khối của dung dịch H2SO4 đặc đem pha (rót axit
đặc vào đến 3/4 ống đo rồi nhúng từ từ tỉ khối kế vào). Giả sử đo được d = 1,824.
Bảng tính sẵn cho ta biết nồng độ của dung dịch axit đó là » 92%. Nếu lọ axit đặc đã
được giữ kín cẩn thận và vì không có tỉ khối kế thì có thể sử dụng các con số về tỉ
khối và nồng độ ở trên nhãn các lọ axit đó.
Muốn pha 250g dung dịch 10% H2SO4 thì phải lấy 25g axit nguyên chất 100%.
Nhưng ở đây chỉ có axit 92% nên phải lấy:
Lượng axit này bằng: 27,2 : 1,824 = 14,9ml.
Dùng ống đo nhỏ lấy 14,9ml axit H 2SO4 đã cho rót vào ống đo khác đã đong sẵn
222,8ml (250g – 27,2g = 222,8g) nước, ta sẽ được dung dịch cần dùng. Có thể
kiểm tra lại bằng cách dùng tỉ khối kế đo khối lượng riêng. Dung dịch 10% axit
sunfuric mới pha chế phải có khối lượng riêng gần bằng 1,1g/ml.
3. Pha dung dịch có nồng độ mol/lít (M)
Ví dụ: Cần pha 250ml dung dịch 0,1M natri clorua. Khối lượng mol của natri clorua
là 58,5g. Trong 1 lít dung dịch 0,1M có 0,1 mol (= 5,85g) natri clorua. Vậy trong
250ml dung dịch phải có 5,85 : 4 » 1,46 gam muối ăn.
Do đó cần lấy gần 1,5g natri clorua cho vào ống đo rồi tiếp tục thêm nước cất vào
cho đủ 250ml. Như thế ta được dung dịch cần pha chế. Muốn được chính xác hơn
thì pha chế vào bình định mức.
4. Pha dung dịch có nồng độ đương lượng (N)
Ví dụ: Pha 100ml dung dịch 0,1N muối bari clorua BaCl2.2H2O. Muối bari clorua
ngậm nước có khối lượng mol là 224 và đương lượng bằng 244 : 2 = 122. Dung dịch
BaCl2.2H2O có nồng độ 0,1N nghĩa là trong 1 lít dung dịch có 12,2g BaCl2.H2O.

các băng giấy lọc đã được cắt sẵn vào chậu và kéo lướt qua dung dịch. Dùng cặp,
kẹp các băng giấy đã nhuộm lên dây thép ở trong phòng sao cho các băng giấy
không chập vào nhau. Khi băng giấy khô, cắt thành từng đoạn ngắn khoảng 6 –
8cm. Cần giữ giấy quỳ trong những bình thuỷ tinh có nút thật kín.
b. Dung dịch phenolphtalein
Phenolphtalein là một chất màu tổng hợp, nó biến đổi màu theo môi trường phản
ứng, không có màu trong môi trường axit và trung tính, có màu hồng (chính xác là
màu đỏ tím) trong môi trường kiềm. Khoảng chuyển màu của nó từ pH = 8,2 đến
pH = 10.
Cách pha: Lấy 1g phenolphtalein cho vào 1000ml dung dịch rượu etylic khoảng
60%.
c. Chất chỉ thị axit – bazơ chế từ hoa dâm bụt
Nếu không có các chất chỉ thị trên đây để thử môi trường axit – bazơ, ta có thể tự
chế lấy chất chỉ thị rất đơn giản, dễ dàng như sau: lấy cánh hoa dâm bụt bỏ vào
trong lọ có đựng cồn, càng nhiều cánh hoa thì chất chỉ thị càng đặc. Đậy nút kín.
Dung dịch dần dần có màu tím và sau khoảng 2 giờ thì có thể dùng làm chất chỉ thị
axit – bazơ.
Chất chỉ thị này, ở trong môi trường axit sẽ có màu hồng bền, trong môi trường
trung tính thì không có màu hoặc màu tím; trong môi trường kiềm có màu xanh,
nhưng không bền vì nó nhanh chóng biến đổi sang màu vàng. Khoảng chuyển màu
của nó từ pH = 7,5 đến pH = 9.
Cũng có thể làm giấy chỉ thị từ hoa dâm bụt bằng cách thấm ướt giấy lọc bằng
dung dịch loãng của hoa dâm bụt trong cồn hoặc lấy cánh hoa dâm bụt xát vào giấy
lọc. Tính chất của chất chỉ thị không thay đổi ở cả nhiệt độ cao (1000C) và được
giữ khá bền trong cồn.
d. Pha dung dịch hồ tinh bột

GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 19



b. Lọc
Lọc là phương pháp tách những chất rắn không tan ra khỏi chất lỏng. Trong phòng
thí nghiệm thường dùng giấy lọc để lọc. Cũng có thể dùng giấy bản loại tốt, bông,
bông thuỷ tinh để lọc.
+Cách gấp giấy lọc
Dưới đây là cách gấp giấy lọc đơn giản (không gấp thành nhiều nếp) dùng khi cần
lấy kết tủa ra và cần giữ kết tủa lâu. Lấy tờ giấy lọc hình vuông có cạnh bằng hai
lần đường kính phễu lọc. Gấp đôi rồi gấp tư tờ giấy (hình 1.6a, b). Dùng kéo cắt tờ
giấy theo đường chấm hình vòng cung (hình 1.6c) thành một hình quạt. Tách 3 lớp
giấy của hình quạt làm thành hình nón (hình 1.6d).

GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 20


Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh

Hình 1.6. Cách gấp và cắt giấy lọc
+ Cách lọc
Trước hết đặt giấy lọc khô đã gấp thành hình nón vào phễu và điều chỉnh cách gấp
sao cho góc của nón phễu giấy vừa bằng góc của nón phễu thuỷ tinh để giấy lọc sát
khít với phễu. Cần cắt giấy lọc như thế nào cho mép giấy lọc thấp hơn và cách
miệng phễu khoảng 5 – 10mm. Đổ một ít nước cất vào tẩm ướt giấy lọc rồi dùng
ngón tay cái (đã rửa sạch) đẩy cho giấy ép sát vào phễu để đuổi hết bong bóng khí ở
cuống phễu và dưới giấy ra.
Hình 1.7 Cách lọc
Đặt phễu lọc lên giá sắt (hình 1.7). Dùng cốc sạch hứng
dưới phễu sao cho cuống phễu chạm vào thành cốc. Khi rót
chất lỏng vào phễu lọc, nên rót xuống theo một đũa thuỷ
tinh.
Không đổ đầy chất lỏng đến tận mép giấy lọc. Muốn lọc

pipet và hơi nới bớt ngón tay trỏ để tháo bớt chất lỏng ra khi đến vạch mức cần lấy
thì bịt chặt pipet lại. Sau đó ta đưa pipet sang cốc hoặc bình đựng và tháo hết chất
lỏng vào đó. Khi tháo phải để đầu pipet chạm nhẹ vào thành bình để chất lỏng chảy
từ từ xuống đáy tránh chất lỏng bắn tưng tóe.
b. Cách sử dụng buret: Kẹp buret trên giá thí nghiệm thẳng đứng. Lấy cốc
thủy tinh “có mỏ” đổ chất lỏng vào quá vạch số 0 hay
một vạch nào đó phía đầu trên buret. Mở khóa tháo lấy
chất lỏng vào cốc trở lại sao cho mức chất lỏng trong
buret ở đúng vạch mong muốn và phải để phần dưới khóa
cũng chứa đầy chất lỏng. Lúc này đóng khóa lại và xác
định vạch đọc thể tích ban đầu. Khi cần lấy chất lỏng ra
khỏi buret thì tay trái mở khóa, tay phải cầm vật
đựng( thường là bình tam giác) hứng phía dưới, mắt quan sát mức chất lỏng hoặc
hiện tượng xảy ra, khi chất lỏng di động đến mức cần thiết hoặc hiện tượng xảy ra
đạt ý muốn thì đóng khóa buret lại.
Lưu ý: Khi quan sát mức chất lỏng chuyển động trong buret hoặc vạch mức
chất lỏng thì tầm mắt phải luôn luôn ngang với nó để đường nhìn tạo thành tiếp
tuyến với đáy mặt khum của chất lỏng trong ống. Khi chất lỏng có màu và thấm
ướt thì tầm nhìn là mặt phẳng cao nhất do chất lỏng dính trên thành ống tạo thành.

GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 22


Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh

4- Đun nóng
a. Dùng đèn cồn
Khi đun nóng, chú ý để đáy ông nghiệm (hoặc thành của bình, lọ,… muốn đun
nóng) vào chỗ nóng nhất của ngọn lửa đèn cồn, ở vị trí 2/3 của ngọn lửa đèn cồn,
tức là ở vị trí 2/3 của ngọn lửa kể từ dưới lên (hình 1.10). Không để đáy ống

d- Cách đun nóng:
- Khi đun nóng chất lỏng trong bình cầu đáy bằng hay cốc phải đặt nó lên một tấm
lưới Amian rồi đặt lên kiềng sau đó đun bằng đèn cồn hay bếp.
- Khi đun nóng chất lỏng trong bình cầu đáy tròn thì phải kẹp cổ bình vào giá thí
nghiệm một cách chắc chắn bên dưới tấm lưới Amian hoặc bình cách thủy, bình
cách cát sau đó đun bằng đèn cồn hay bếp.
- Khi đun nóng dung dịch trong ống nghiệm, phải dùng kìm kẹp ống nghiệm vào
khoảng 1/3 chiều cao ống nghiệm kể từ miệng xuống, rồi cầm hơi nghiêng hướng
miệng vào chổ không có người để đề phòng chất lỏng sôi phụt ra ngoài
5- Rửa dụng cụ
a- Rửa ống nghiệm: Đổ hết hóa chất trong ống nghiệm vào chậu chứa. Cầm
ống nghiệm bằng tay trái, ngón trỏ đặt vào đáy ống, lấy đầy nước vào ống nghiệm,
thấm ướt chổi rửa rồi đưa chổi rửa vào cọ thành bên trong ống nhiều lần. Súc rửa
bằng nước lạnh sau đó tráng 2 lần bằng nước cất và úp vào giá đựng ống nghiệm
b- Rửa cốc, chén, bình thủy tinh: Dùng chổi lông cọ rửa như trên. Trong
trường hợp cần thiết(dụng cụ còn bẩn) có thể rửa bằng hỗn hợp oxi hóa mạnh ví dụ
như hỗn hợp H2SO4 và K2Cr2O7…

GV: Nguyễn Hoàng Duy Phương - Trường THPT Thống Nhất BTrang 24


Đề tài: Thiết kế và Sử dung thí nghiệm thực hành hóa học trong việc hình thành phát triển tư duy của học sinh

PHẦN II
PHẦN THỰC HÀNH
I- HỌC SINH XEM THÍ NGHIỆM BẰNG VIDEO.
Vì điều kiện phòng thí nghiệm không đủ hóa chất, bảo đảm độ an toàn trong phòng
chống độ độc hại cho học sinh và một vài thí nghiệm mức độ thành công không
cao nên bản thân tôi cho học sinh quan sát thí nghiệm bằng các video có sẳn.
Màu ngọn lửa của kim loại kiềm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status