B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
-----&-----
NGUYN PHNG LINH
Năng lực hiểu học sinh
của giáo viên bậc trung học cơ sở
Chuyờn ngnh: Tõm lý hc
Mó s: 60.31.04.01
LUN VN THC S TM Lí HC
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. PHAN TRNG NG
H NI - 2014
Lời cảm ơn!
Bằng lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn thầy
giáo PGS. TS. Phan Trọng Ngọ đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ
tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo khoa Tâm lý – Giáo dục
– Trường Đại học sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt là những
người thân trong gia đình đã luôn động viên giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi
hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 2014
Tác giả
c s qua nhn xột ca h v hc sinh......................66
3.2. Mức độ hiểu biết của giáo viên về các vấn đề tâm
lý học lứa tuổi..........................................................90
3.3. So sánh mức độ hiểu học sinh giữa những giáo
viên chủ nhiệm và những giáo viên không làm chủ
nhiệm......................................................................93
3.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực hiểu học
sinh của giáo viên trung học cơ sở............................98
3.5. Nghiên cứu chân dung điển hình......................102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ........................................108
...........................................................................................................PHỤ LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
ĐTB:
THCS:
Điểm trung bình
Trung học cơ sở
DANH MC CC BNG
TRNG I HC S PHM H NI...........................1
Năng lực hiểu học sinh..............................................1
của giáo viên bậc trung học cơ sở..............................1
Chuyờn ngnh: Tõm lý hc........................................1
Mó s: 60.31.04.01...................................................1
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. PHAN TRNG NG
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ........................................108
DANH MC CC BIU
TRNG I HC S PHM H NI...........................1
Năng lực hiểu học sinh..............................................1
của giáo viên bậc trung học cơ sở..............................1
Chuyờn ngnh: Tõm lý hc........................................1
Mó s: 60.31.04.01...................................................1
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. PHAN TRNG NG
.................................................................................1
H NI - 2014...........................................................1
M U...................................................................1
Chng 1..................................................................5
MT S VN L LUN V NNG LC HIU HC SINH
.................................................................................5
CA GIO VIấN.........................................................5
1.1. S lc lch s nghiờn cu vn .......................5
1.2. Mt s khỏi nim cụng c.................................16
1.3. Cỏc yu t nh hng n nng lc hiu hc sinh
ca giỏo viờn...........................................................52
T CHC V PHNG PHP NGHIấN CU.................56
2.1. Vi nột v a bn v khỏch th nghiờn cu.......56
2.2. T chc nghiờn cu..........................................57
2.3. Phng phỏp nghiờn cu..................................59
Chng 3................................................................66
THC TRNG NNG LC HIU HC SINH...................66
CA GIO VIấN BC TRUNG HC C S....................66
tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục, trong đó người giáo viên phải có
phương pháp thu thập và xử lí thông tin thường xuyên về nhu cầu và đặc điểm
của học sinh, sử dụng các thông tin thu được vào dạy học và giáo dục. Nhiệm
vụ của mỗi người thầy giáo, cô giáo là tìm thấy những năng khiếu tiềm ẩn
trong mỗi đứa trẻ để giúp nó nảy sinh và phát triển. Nếu người dạy không hiểu
người học thì đó như là hố sâu ngăn cách, cản trở quá trình dạy học và giáo
dục. Việc lên kế hoạch, chương trình, nội dung dạy học và giáo dục sẽ thiếu
tính chủ động, không sát với khả năng, trình độ thực của học sinh, không phù
hợp với trình độ phát triển nhận thức, tâm lý của học sinh, không kịp thời phát
hiện và bồi dưỡng những tài năng của các em. Đồng thời, mối quan hệ giữa
1
thầy và trò sẽ khó thiết lập và khó hài hòa. Có thể thấy rằng, năng lực hiểu học
sinh là một năng lực quan trọng mà mỗi giáo viên đều cần phải có.
Tuy nhiên, thực trạng cho thấy không phải tất cả các giáo viên đều có
năng lực hiểu học sinh. Bên cạnh những thầy cô mẫu mực, những người
thương yêu, thấu hiểu và tận tình chỉ dạy những học sinh của mình thì vẫn
còn những hiện tượng thầy cô mắng mỏ, kỷ luật không đúng với học trò, tình
cảm và trách nhiệm với các em còn hời hợt, gượng ép. Bên cạnh những thầy
cô được học trò tin yêu, kính trọng thì vẫn còn những thầy cô khiến học sinh
sợ sệt, dè chừng, xa cách. Thực trạng ấy cho thấy không phải tất cả giáo viên
đều hiểu học sinh của mình toàn diện, sâu sắc để có thể dạy bảo, giáo dục các
em đúng cách. Đặc biệt là với những học sinh trung học cơ sở, lứa tuổi không
còn là trẻ con nhưng cũng chưa phải là người lớn. Việc hiểu những đặc điểm
tâm sinh lý, khả năng, nhu cầu, nguyện vọng,.. của các em có ý nghĩa rất lớn
trong việc dạy học và giáo dục, giúp các em định hướng phát triển đúng đắn.
Do đó, tìm hiểu nguyên nhân và khắc phục tình trạng này, nâng cao năng lực
hiểu học sinh là vấn đề hết sức cấp thiết đối với bản thân mỗi giáo viên, giúp
giúp họ tạo mối quan hệ tốt hơn với học sinh, sự ứng xử sư phạm khéo léo, có
các tác động sư phạm phù hợp với học sinh của mình.
Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận của đề tài như: hoạt động sư
phạm của người giáo viên, nhân cách của người giáo viên, năng lực sư phạm,
năng lực hiểu học sinh.
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng năng lực hiểu học sinh của giáo viên
bậc trung học cơ sở ở địa bàn nghiên cứu. Đồng thời tìm ra nguyên nhân của
thực trạng đó.
5.3. Đề xuất biện pháp giúp giáo viên bậc trung học cơ sở nâng cao
năng lực hiểu học sinh, từ đó có các tác động sư phạm phù hợp với học sinh
của mình.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu
1.3.
Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu năng lực hiểu học sinh của giáo viên bậc trung học
cơ sở, thể hiện ở việc hiểu các năng lực của học sinh, hiểu tính cách của học
sinh và hoàn cảnh gia đình của các em.
1.4.
Giới hạn về khách thể nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên 45 giáo viên và 81 học sinh bậc trung học cơ sở
của các giáo viên đó tại trường THCS Mỗ Lao, Hà Đông, Hà Nội.
3
4
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ NĂNG LỰC HIỂU HỌC SINH
CỦA GIÁO VIÊN
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên Thế Giới
Đã có nhiều tác giả trên thế giới quan tâm và nghiên cứu về hoạt động
sư phạm, năng lực sư phạm của người giáo viên cũng như các vấn đề liên
quan đến đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và chuẩn nghề nghiệp của giáo viên.
Những nghiên cứu này không những góp phần tìm hiểu thực trạng, mà quan
trọng hơn là đã đưa ra những khái niệm, kết luận và những giải pháp giúp
nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục.
Đề cập khá sớm đến vấn đề năng lực sư phạm của người giáo viên phải
kể đến các nhà Tâm lý học Liên Xô trước đây. Các tác giả như A.V.Petrovxki
[20], tác giả A.G.Côvaliôp [4] và HX.L.Rubinstein đã xây dựng lí luận về cấu
trúc của nhân cách, sự phát triển năng lực thống nhất với sự phát triển nhân
cách. P.A.Ruđich [24] cũng đưa ra các khái niệm về năng lực.
Trong những công trình nghiên cứu về người giáo viên, đặc điểm lao
động và những phẩm chất, năng lực của người giáo viên phải kể đến công
trình nổi tiếng “Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên” với hai tập của
Ph.N.Gônôbôlin. Trong đó, Ph.N.Gônôbôlin đã đề cập tới những điều kiện mà
người giáo viên cần có để thực hiện tốt công tác dạy học và giáo dục của
mình [19]. Đó là đạo đức của người giáo viên, những phẩm chất về ý chí,
ngôn ngữ, tình cảm,… và đặc biệt là các năng lực dạy học, năng lực giáo dục
được nhấn mạnh như: năng lực hiểu học sinh, năng lực truyền đạt tài liệu,
năng lực thu hút học sinh, năng lực thuyết phục, năng lực tổ chức, năng lực
(Bản quan sát lớp học dành cho nghiên cứu về tính hiệu quả). Các tác giả
6
Medley, Coker, Soar năm 1984 cũng đã đưa ra danh sách những năng lực dạy
học hiệu quả. Chính những kết quả của họ đã được tác giả Leroy Eldon Sayer
tham khảo trong nghiên cứu của mình.
Nhóm tác giả James M.Banner và Harold C.Cannon lại tiếp cận vấn đề
năng lực giáo viên theo hướng phân tích để làm rõ những phẩm chất của một
giáo viên giỏi, rút gọn quá trình dạy học phức tạp thành 9 yếu tố cơ bản mà
một giáo viên trẻ hay có kinh nghiệm đều cần học hỏi [30]. Những vấn đề này
được các tác giả đưa ra trong cuốn “The elements of teaching”, năm 1999.
Trong tác phẩm của mình, các ông đã thông qua những ví dụ sâu sắc về các
thầy cô giáo thành công hoặc không thành công trong nghề nghiệp để làm rõ
những phẩm chất của một giáo viên hiệu quả. Các ông đã khẳng định: “Hầu
hết các giáo viên đều quên mất rằng dạy học là một nghệ thuật. Đa số giáo
viên đều chuẩn bị cho những điều sẽ dạy ở môn học của mình và những
phương pháp sẽ dạy học nhưng lại hiếm khi để tâm đến những phẩm chất
nhân cách cần thiết mà một giáo viên tuyệt vời cần có. Đó là: Tự học tập, uy
tín, đạo đức, tính kỷ luật, sáng tạo, lòng trắc ẩn, sự kiên nhẫn, tính cách và
niềm vui thích. Những yếu tố này được kết hợp một cách đa dạng, phong phú
ở mỗi người giáo viên khác nhau làm nên thành công của nghề dạy học chứ
không phải chỉ có hiểu biết về môn học và phương pháp dạy học.
Martin và cộng sự (năm 2001) cho rằng: Trước hết cần tránh hai
khuynh hướng trong việc định nghĩa khái niệm năng lực. Một là khuynh
hướng kỹ thuật thái quá, quy năng lực về một dãy thao tác máy móc. Hai là
khuynh hướng định nghĩa chung nhất, to tát nhưng trống rỗng, không có khả
năng định hướng cho tư duy và hành động. Năng lực bao giờ cũng phải năng
lực để hành động.
Ernesto Cuadra và Juan Manuel Monero cùng cộng sự (World Bank
cứu hiện đại đã chỉ ra rằng cách thức mà một giáo viên tiến hành công việc
8
của họ được xác định bởi tổ hợp những thuộc tính nhân cách và những kiến
thức mà người đó có. Một giáo viên giỏi nên có phạm vi những phẩm chất,
năng lực rộng, bao gồm các yếu tố: những nét nhân cách, thái độ, niềm tin;
những kỹ năng và hiểu biết về giáo dục học; phương pháp dạy học.
Không chỉ có những nghiên cứu ở từng quốc gia, trong hội nghị bộ
trưởng giáo dục các nước khu vực Thái Bình Dương năm 2010, một nghiên
cứu về “Cải thiện năng lực giáo viên và hiệu quả dạy học ở khu vực Thái
Bình Dương” đã được đưa ra [35]. Số liệu của bài viết là sự nỗ lực của cả
UNESCO, SPBEA và UNICEF. Tầm quan trọng của giáo viên trong việc tác
động đến chất lượng giáo dục không thể nào không được nhấn mạnh ở bất kỳ
nền giáo dục nào. Nghiên cứu này nhằm cung cấp cách thức cho các quốc gia
trong khu vực để đảm bảo rằng giáo viên sẽ phát triển những năng lực phù
hợp để trở thành người giáo viên hiệu quả. Nghiên cứu này cũng cho rằng, đã
đến lúc để các quốc gia khu vực này xem xét cách tiếp cận khác để cải thiện
chất lượng giáo dục, một trong số đó là quan tâm đến nhu cầu của học sinh.
Điều này liên quan đến năng lực sư phạm của giáo viên, đặc biệt là năng lực
hiểu học sinh.
Liên minh Châu Âu coi giáo viên là lĩnh vực ưu tiên trong phát triển
giáo dục. Năm 2005, họ đã xác lập các năng lực chính của giáo viên và năm
2007 là những chính sách nhằm nâng cao chất lượng giáo viên. Mới đây là
nghiên cứu “Hỗ trợ sự phát triển năng lực giáo viên” của Liên minh Châu Âu,
năm 2013 [29]. Trong nghiên cứu này, họ khẳng định rằng việc hơn sáu triệu
giáo viên Châu Âu cần có những năng lực cần thiết để dạy học hiệu quả trong
lớp học là một trong những yếu tố quyết định trình độ của học sinh và khuyên
khích giáo viên tiếp tục phát triển và mở rộng những năng lực của mình là
thiết yếu cho sự thay đổi nhanh chóng thế giới này. Nghiên cứu đưa ra các
−
−
Làm chủ tiếng Pháp trong dạy học và giao tiếp
Làm chủ kiến thức chuyên ngành và có nền tảng văn hoá đại
cương tốt
−
−
Hiểu rõ và tổ chức thực hiện việc dạy học
Tổ chức các hoạt động trong lớp học
10
−
−
−
−
trường
−
Quan tâm đến sự đa dạng của học sinh
Đánh giá học sinh
Nắm vững công nghệ thông tin và truyền thông
Làm việc nhóm và hợp tác với phụ huynh, các đối tác của nhà
Tự đào tạo và đổi mới
Những tiêu chuẩn năng lực dạy học của Indonesia thì được chia thành 4 nhóm:
−
−
−
−
Năng lực giáo dục
Năng lực cá nhân
Năng lực nghề nghiệp
Năng lực xã hội.
Trong những năng lực giáo dục, Indonesia khẳng định: Giáo viên cần
có khả năng để hiểu được phong cách học tập, những đặc điểm thể chất, xã
hội, văn hóa, đạo đức, trí thông minh của học sinh. Giáo viên cũng cần biết
đặc điểm gia cảnh của họ sinh, cần hiểu những khó khăn của học sinh, có khả
năng giúp cho học sinh phát triển những tiềm năng của mình.
Philippine định nghĩa một giáo viên có năng lực là yếu tố quan trọng
bậc nhất trong hệ thống giáo dục của đất nước. Chuẩn năng lực dạy học của
Philippine bao gồm 7 tiêu chuẩn chính như sau:
tập
−
Nhóm năng lực trong lĩnh vực: Sự quan tâm xã hội đến việc học
−
−
−
−
Nhóm năng lực trau dồi kiến thức: bao gồm việc thành thạo, làm
chủ môn học, những kỹ năng phân tích tư duy, óc sáng kiến và sử dụng phương
pháp dạy học sáng tạo.
−
Nhóm năng lực chinh phục được các trái tim và khối óc
−
Nhóm năng lực hiểu biết về bản thân và người khác
−
Nhóm năng lực làm việc với người khác
Singapore cũng đang triển khai mô hình đào tạo giáo viên cho thế kỷ
21, nhằm tạo ra một đội ngũ giáo viên mạnh, trên cơ sở một triết ý mới về
giáo viên. Đó là giáo viên thế kỷ 21 phải có hệ giá trị mới (V 3), kỹ năng mới
(S), kiến thức mới (K). Triết lý V 3SK này được coi là kim chỉ nam cho việc
thiết kế, cung ứng và hoàn thiện các chương trình đào tạo giáo viên. Điều đó
được cụ thể hóa bằng Khung năng lực của giáo sinh tốt nghiệp, gồm 3 nhóm
với 7 năng lực:
−
Nhóm năng lực trong lĩnh vực thực hành nghề nghiệp:
+
+
+
Nuôi dưỡng sự phát triển toàn diện của đứa trẻ
Đem lại cho các em việc học có chất lượng
Đem lại việc học có chất lượng cho học sinh thông qua các hoạt
thầy giáo” được đưa vào giảng dạy. Có thể kể đến một số tác giả đã viết về
vấn đề này như: Phạm Minh Hạc [9], nhóm tác giả Lê Văn Hồng, Nguyễn
Văn Thàng, Lê Ngọc Lan [13]. Tác giả Phạm Văn Đỗ cũng đã dựa trên việc
điều tra ý kiến của giáo viên và học sinh về phẩm chất, năng lực của người
giáo viên và khẳng định nó liên quan chặt chẽ tới chất lượng giáo dục học
sinh [7]. Hay mới đây là nghiên cứu về giáo viên của Trần Bá Hoành [12].
Do xã hội ngày càng phát triển đặt ra cho sự phát triển giáo dục những
yêu cầu ngày càng cao và theo hướng phát triển năng lực, vì thế những vấn đề về
giáo viên, năng lực giáo viên trong đó có kỹ năng sư phạm ngày càng được chú
trọng. Có thể kể đến nghiên cứu của các tác giả Hồ Ngọc Đại trong “Tài liệu
nghiệp vụ sư phạm” nhấn mạnh năng lực thiết kế nội dung học tập của học sinh
và năng lực tổ chức cho các em thi công để hình thành năng lực cho chính mình.
Hoạt động giáo dục của giáo viên chủ nhiệm và những năng lực giáo
dục tương ứng mà các giáo viên này cần có cũng là một hướng nghiên cứu
được các nhà khoa học như: Hà Nhật Thăng, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn
Kim Dung nghiên cứu. Trong những công trình nghiên cứu của mình, các tác
giả này đã đưa ra, phân tích khá cụ thể về những hoạt động giáo dục và yêu
cầu về năng lực giáo dục của giáo viên chủ nhiệm, đặc biệt là có thể thao tác
chúng trong thực tiễn giáo dục.
Những năng lực của giáo viên như năng lực ứng xử sư phạm, năng lực
giao tiếp, việc hình thành, nâng cao các năng lực này cho giáo viên cũng là
vấn đề được nhiều nhà tâm lý học tiếp cận như: Bùi Văn Huệ với cuốn “Nghệ
thuật ứng xử sư phạm”, Trịnh Trúc Lâm với cuốn “Ứng xử sư phạm”, Bùi Thị
14
Mùi trong “Tình huống sư phạm trong công tác giáo dục học sinh trung học
phổ thông” và nhiều tác giả khác.
Theo xu thế chung của thế giới về việc đưa ra các khung chuẩn năng
lực giáo viên, tiến tới nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, nước ta cũng đang
quản lý lớp học cần thiết để thể hiện thành công vai trò là người quản lý lớp
học, người hỗ trợ, người tổ chức và là nguồn thông tin của lớp. Cũng trong
15
nghiên cứu xuyên quốc gia này, Việt Nam đưa ra chuẩn năng lực dạy học của
Việt Nam gồm 4 chuẩn chính: Tầm hiểu biết, năng lực dạy học, năng lực thực
hiện công việc giáo viên và năng lực quản lí lớp học. Giáo viên Việt Nam
nhìn chung nên:
−
Đạt được những tri thức, kỹ năng cần có và những chứng chỉ, bằng
cấp để được phép dạy học
−
Có ý thức đạo đức và dễ nhìn.
−
Công bằng khi đối xử với học sinh.
−
Có hành vi và cách sống tốt.
−
Giúp học sinh trở thành những công dân tốt và có đạo đức.
−
Sẵn sàng giúp đỡ học sinh ngay cả ngoài lớp học.
−
Tổ chức những hoạt động xã hội mà học sinh có thể tham gia.
−
Luôn chú ý đến sự phát triển nghề nghiệp.
Nhìn chung, vấn đề nhân cách người giáo viên, năng lực giáo viên cũng
tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, trong các nét tính cách, ý chí, trong tinh thần của
học sinh. Do đó, công cụ để giáo dục học sinh, để tiến hành hoạt động sư
phạm chính là nhân cách của giáo viên. K.D.Usinski – nhà giáo dục vĩ đại
người Liên Xô cũ đã khẳng định rằng “Trong việc giáo dục, tất cả đều phải
dựa trên nhân cách người giáo viên, bởi vì sức mạnh giáo dục chỉ bắt nguồn
từ nhân cách con người. Không một điều lệ và chương trình nào, không một
cơ quan giáo dục nào, dù được nghĩ ra một cách khôn khéo đến đâu, có thể
thay thế được nhân cách con người trong sự nghiệp giáo dục. Không một sách
giáo khoa nào, một hình phạt, một khen thưởng nào có thể thay thế ảnh hưởng
cá nhân của người thầy giáo đối với học sinh”.[13,117]
Hoạt động sư phạm là hoạt động đa dạng, phức tạp, có tính khoa học,
tính sáng tạo cao. Giáo viên là người tổ chức cho học sinh thực hiện hoạt
động học và các hoạt động giáo dục khác. Mỗi lớp học có từ 30 đến 50 học
sinh, thậm chí nhiều hơn, mỗi học sinh lại là một thế giới riêng tiềm ẩn nhiều
khả năng, nhiều bí ẩn và có thể biến đổi theo nhiều hướng khác nhau tùy
17