Sáng kiến kinh nghiệm
Nguyễn Thị Thúy
MỞ ĐẦU
Ngôn ngữ là phương tiện là sản phẩm độc quyền của con người, nó gắn bó
mật thiết với lịch sử loài người. Nó chỉ được hình thành, tồn tại và phát triển
trong xã hội loài người, do ý muốn và nhu cầu của con người. “Ngôn ngữ là
phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người” (V.L. Lênin). Nhờ có ngôn
ngữ mà con người có thể hiểu được nhau, cùng nhau hành động vì những mục
đích chung: Lao động, đấu tranh và phát triển xã hội.
Không có ngôn ngữ không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn tại
được, nhất là đứa trẻ, một sinh thể yếu ớt rất cần đến sự chăm sóc, bảo vệ của
người lớn. Ngôn ngữ làm cho đứa trẻ trở thành một thành viên của xã hội loài
người. Ngôn ngữ là công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng
của mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, điều khiển, giáo dục
trẻ. Trường học mầm non, là trường học đầu tiên đới với trẻ, ở đây có điều kiện,
có cơ hội lớn hơn để giáo dục ngôn ngữ cho trẻ hình thành và phát triển nhận
thức của trẻ về thế giới xung quanh; là phương tiện phát triển tình cảm, đạo đức,
thẩm mĩ; là công cụ giúp trẻ hòa nhập với cộng đồng và trở thành thành viên của
cộng đồng. Như vậy, ngôn ngữ có vai trò rất lớn, là phương tiện quan trọng nhất
để trẻ lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để giao lưu với những người xung quanh, để
tư duy, tiếp thu khoa học và bồi bổ tâm hồn, giúp hình thành và phát triển nhân
cách của trẻ. Có thể khẳng định rằng: Học tiếng mẹ đẻ là sự học tập quan trọng
nhất, cần thiết nhất, bắt đầu sớm nhất và được quan tâm nhất.
Thực tế trong xã hội hiện nay, nhiều phụ huynh rất quan tâm đến việc phát
triển ngôn ngữ cho trẻ ngay từ bé. Họ đã nghiên cứu sách báo, tài liệu trên mạng
internet…để nuôi dạy con một cách khoa học. Tuy nhiên bên cạnh đó, một bộ
phận không nhỏ phụ huynh bị cuốn theo công việc. Mọi sinh hoạt của trẻ đều
giao hết cho người giúp việc. Nhiều trẻ lớn lên trong không gian giao tiếp chật
trội. Sinh hoạt hằng ngày chủ yếu là ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân, chơi một mình và
trẻ chậm phát triển ngôn ngữ học hòa nhập tại lớp nhà trẻ 24 - 36 tháng, D2
trường Mầm non A Tứ Hiệp.
* Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp giáo dục trẻ 24 - 36 tháng chậm phát
triển ngôn ngữ học hòa nhập.
* Phạm vi nghiên cứu: Trẻ 24 - 36 tháng tuổi, lớp nhà trẻ D2, trường Mầm non
A Tứ Hiệp, năm học 2013 - 2014.
Trường Mầm non A Tứ Hiệp
Trang 2
Sáng kiến kinh nghiệm
Trường Mầm non A Tứ Hiệp
Nguyễn Thị Thúy
Trang 3
Sáng kiến kinh nghiệm
Nguyễn Thị Thúy
NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ đặc biệt là
trẻ 24- 36 tháng. Ngôn ngữ là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của
trẻ về thế giới xung quanh. Đối với trẻ 24- 36 tháng, sử dụng ngôn ngữ giúp trẻ
Sáng kiến kinh nghiệm
Nguyễn Thị Thúy
cảm xúc tích cực. Bằng những câu hát ru, những lời nói nựng, những câu nói âu
yếm đã đem đến cho trẻ những cảm giác bình yên, sự vui mừng hớn hở. Những
tiếng ầu ơ mẹ nói chuyện với trẻ là sự giao lưu cảm xúc và ngôn ngữ đầu tiên.
Những cuộc nói chuyện đặc biệt này sẽ làm cho trẻ luôn vui vẻ và có những tình
cảm thân thương với những người xung quanh. Dần dần hình thành ở trẻ những
cảm xúc tích cực. Khi giao tiếp với người lớn, trẻ tiếp nhận được những sắc thái
tình cảm khác nhau. Qua nét mặt, giọng nói, ngữ điệu, ngữ nghĩa chứa đựng
trong các từ, các câu nói, dần dần trẻ cũng biết thể hiện những cảm xúc khác
nhau của mình. Đồng thời thông qua ngôn ngữ trẻ nhận thức được cái hay, cái
đẹp trong cuộc sống xung quanh như những bông hoa, những hàng cây, những
cảnh đẹp của làng quê với những từ ngữ thể hiện nó…
Trẻ chậm phát triển ngôn ngữ là trẻ không bắt chước được hành động hay
lời nói, không thể kết nối hai từ gần nhau có nghĩa. Không hiểu chức năng của
những vật dụng đơn giản, không kể được ba bộ phận đơn giản trên người. Không
hiểu ngôn ngữ bằng những bạn cùng tuổi khác, không đặt được câu hỏi, không
biết hoặc không làm theo những chỉ dẫn đơn giản, không kể tên được những sự
vật thông thường, không nói được những từ ngắn. Việc trẻ chậm phát triển ngôn
ngữ sẽ gây lên nhiều ảnh hường: Trẻ kém tự tin trong giao tiếp, khó biết cách bộc
lộ những suy nghĩ, cảm xúc của mình có thể dẫn đễn những bực tức về tâm lý và
có thể gây nên những thất bại trong trường học.
Ngôn ngữ rất quan trọng đối với trẻ, vì một lý do nào đó mà trẻ chậm phát
triển ngôn ngữ thì quả là rất thiệt thòi cho trẻ. Vậy nên việc phát triển ngôn ngữ
cho các cháu chậm phát triển ngôn ngữ là một việc làm vô cùng quan trọng, cần
thiết và được tiến hành càng sớm càng tốt.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1. Mô tả thực trạng
công tác giảng dạy đặc biệt là chú ý phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
- Lớp học rộng rãi, khô thoáng, trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho việc
phát triển ng«n ng÷ của trẻ đầy đủ, hiện đại phong phú về hình ảnh, màu sắc hấp
dẫn (tranh ảnh, vật thật).
- Luôn được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu nhà trường.
- Luôn được sự ủng hộ của phụ huynh.
3. Khó khăn:
- Trẻ 24 - 36 tháng do tôi phụ trách là độ tuổi còn non nớt, có nhiều trẻ
chậm phát triển ngôn ngữ.
- Các cháu bắt đầu đi học còn khóc nhiều, chưa quen với cô và các bạn,
chưa thích nghi với điều kiện sinh hoạt, các hoạt động ở lớp. Một số cháu nghỉ
học nhiều do sức khỏe kém, hay ốm vặt.
Trường Mầm non A Tứ Hiệp
Trang 6
Sáng kiến kinh nghiệm
Nguyễn Thị Thúy
- Do trẻ chậm phát triển ngôn nhữ nên trẻ gặp nhiều khó khăn khi tham gia
các hoạt động và hòa nhập với các bạn cùng lứa với mình.
- Đa số phụ huynh buôn bán tự do vì công việc chiếm nhiều thời gian nên
nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọng của ngôn ngữ đối với trẻ còn hạn
chế. Một số phụ huynh do bận rộn công việc kiếm sống nên chưa thực sự quan
tâm đến việc dạy dỗ con cái mà giao phó hoàn toàn cho cô giáo ở trường. Một số
cháu được gia đình nuông chiều, muốn gì đòi bằng được; một số cháu hay khóc
hay hờn hay ăn vạ hoặc cào cấu các bạn khi không đồng ý một điều gì đó.
Chỉ số 4: Xếp tháp, lồng hộp; xếp chồng 4- 5 hình khối.
Chỉ số 5: Biết thể hiện một số nhu cầu ăn uống, vệ sinh bằng cử chỉ/ lời nói.
Chỉ số 6: Chỉ/ gọi tên được một số đồ dùng, đồ chơi, con vật, quả quen thuộc.
Chỉ số 7: Chỉ/ lấy được đồ vật có màu đỏ hoặc xanh.
Chỉ số 8: Làm được theo chỉ dẫn một số yêu cầu đơn giản (lấy cốc uống nước,
lau miệng, đi đến đây).
Chỉ số 9: Trả lời các câu hỏi: “Ai đây?”, “Con gì đây?”,…”Ở đâu? Thế nào?
Chỉ số 10: Nói được câu đơn 2-3 tiếng: đi chơi; mẹ bế; mẹ bế bé;…
Chỉ số 11: Nhận ra bản thân trong gương trong ảnh.
Chỉ số 12: Thích nghe hát, vận động theo nhạc (giậm chân, lắc lư…).
Kết quả khảo sát trẻ đầu năm:
Chỉ số
Tổng số
1
2
Đ
CĐ
Số trẻ được
35
0
100
100
0
91
9
94
6
đánh giá:
35/35
Tỷ lệ: (%)
Chỉ số
Tổng số
5
6
Đ
CĐ
Số trẻ được
30
30
5
85
15
91
9
85
15
đánh giá:
35/35
Tỷ lệ: (%)
Chỉ số
9
Trường Mầm non A Tứ Hiệp
10
11
CĐ
Đ
CĐ
30
5
34
1
33
2
85
15
97
3
94
6
Nội dung dạy trẻ chậm
phát triển ngôn ngữ
phát triển ngôn ngữ
Trang 9
Sáng kiến kinh nghiệm
1
Bé và các bạn
Nguyễn Thị Thúy
- Dạy trẻ gọi tên một số - Dạy trẻ gọi tên một số đồ
đồ chơi, bánh đặc trưng chơi: Đèn ông sao, đèn
của ngày Tết Trung lồng; một số loại bánh:
Thu.
Bánh nướng, bánh dẻo.
- Dạy trẻ biết gọi tên - Dạy trẻ biết gọi tên một
một số bộ phận đặc số bộ phận trên khuôn mặt
điểm trên khuôn mặt mình: Mắt, mũi, mồm, tai.
của mình
- Dạy trẻ gọi tên các bộ - Dạy trẻ gọi tên, một số
quen thuộc: Búp bê, bập
bênh.
- Dạy trẻ gọi tên cô - Dạy trẻ gọi tên cô nhân
nhân viên y tế và công viên y tế: Nhung; công
việc, đồ dùng của cô.
việc của cô: Cân, đo.
- Dạy trẻ gọi tên và tìm - Dạy trẻ gọi tên bác cấp
hiểu công việc của bác dưỡng: Lan, Huyên; công
cấp dưỡng.
Trường Mầm non A Tứ Hiệp
việc của bác: Nấu ăn.
Trang 10
Sáng kiến kinh nghiệm
Mẹ và những
4
người thân yêu
của bé
Nguyễn Thị Thúy
5
Những con vật
đáng yêu
số đặc điểm đặc trưng
con vịt; một số đặc điểm:
của con vật nuôi trong
Mỏ, cánh, chân
gia đình.
- Dạy trẻ gọi tên và đặc - Dạy trẻ gọi tên: Con cá,
điểm đặc trưng của một
số con vật sống dưới
nước.
- Dạy trẻ gọi tên một số
con vật sống trong
rừng.
6
Chúc mừng năm
mới
- Dạy trẻ gọi tên một số - Dạy trẻ gọi tên một số
loại quả đặc trưng
loại quả: Quả cam, quả
chuối.
- Dạy trẻ gọi tên một số - Dạy trẻ gọi tên một số
loại rau ăn quả.
loại rau ăn quả: Cà chua,
mướp.
- Dạy trẻ gọi tên một số - Dạy trẻ gọi tên một số
loại ra ăn lá.
loại rau ăn lá: Rau cải, rau
muống.
- Dạy trẻ gọi tên một số - Dạy trẻ gọi tên một số
loại cây xanh.
loại cây xanh: Cây sấu,
cây phượng.
8
Bé đi khắp nơi
bằng phương tiện
gì?
- Dạy trẻ gọi tên một số - Dạy trẻ gọi tên một số
phương tiện giao thông
Sáng kiến kinh nghiệm
9
Mùa hè đến rồi
Nguyễn Thị Thúy
- Dạy trẻ gọi tên một số - Dạy trẻ gọi tên: Nắng,
hiện tượng thời tiết.
mưa.
- Dạy trẻ gọi tên một số - Dạy trẻ gọi tên: Váy, áo,
trang phục màu hè của
quần đùi.
bé.
10
Bé lên mẫu giáo
- Dạy trẻ biết về ngày
- Dạy trẻ gọi tên: Bánh ga
sinh nhật của mình.
Nguyễn Thị Thúy
* Tiến hành:
Để trẻ nằm xuống tờ giấy A0 đặt trên sàn nhà, sau đó tô hình trẻ. Gọi tên
các bộ phận trên cơ thể mà bạn vừa tô được. Khi hình đã vẽ xong, cho trẻ đứng
dậy và cô vẽ thêm mắt, mũi, mồm, tai và viết tên trẻ lên hình vẽ, treo hình vẽ lên
để trẻ có thể nhìn và chạm vào nó. Chỉ cho trẻ thấy những bộ phận khác nhau
của cơ thể trên hình vẽ đó. Xem có bao nhiêu trẻ gọi đúng tên các bộ phận. Nói
với trẻ về tên gọi của những bộ phận mà trẻ biết:
+ Đây là cái gì? Đó là cái chân. Đúng rồi!
+ Và đây là cái gì? Đó là cái tay đấy
1. 2. Bạn trai hay bạn gái
* Mục đích:
- Giúp trẻ nhận ra giới tín
* Cách tiến hành:
Xếp trẻ ngồi thành vòng tròn. Nói với trẻ: Cô muốn biết ai là bạn trai, ai là
bạn gái. Chỉ vào từng trẻ và hỏi, chú ý xem trẻ có thể nói ai là bạn trai, ai là bạn
gái không:
+ Hãy giúp cô nói xem ai là bạn trai, ai là bạn gái.
+ Bạn Duy là bạn trai hay bạn gái? À đúng rồi bạn Duy là bạn trai.
+ Thế còn bạnTrúc? Bạn Trúc là bạn gái.
+ Còn bạn Ngọc thì sao? Bạn Ngọc là bạn gái, đúng rồi!
+ Và bạn Thành? Bạn Thành là bạn trai
Sử dụng những từ con trai, con gái thường xuyên khi nói về những người khác
1. 3. Bé đang làm gì?
* Mục đích:
- Bé có thể nhận ra người trong ảnh
* Chuẩn bị:
- Chụp một vài kiểu ảnh các bé lúc đang tô màu hoặc đang nặn, làm thành
- Giúp trẻ chỉ đúng đồ vật khi người lớn nói về công dụng của nó.
* Chuẩn bị:
- Một bộ các bức tranh về các đồ vật quen thuộc với trẻ như: ghế, đồ chơi,
cái bát, cái thìa….
* Tiến hành:
Cùng trẻ xem các bức tranh, nói chuyện với trẻ về công dụng của các đồ
vật đó. Chú ý xem liệu trẻ có thể gọi tên và chỉ ra được những bức tranh về các
đồ vật mà cô đang nói tới hay không.
+ Cô chỉ vào cái bát và hỏi trẻ? Đây là cái gì? Cái bát dùng để làm gì?
+ Với những đồ vật khác cô cũng hỏi tương tự.
Khi trẻ sử dụng bất kì một đồ vật thật nào, chúng ta đều phải nói với trẻ về công
dụng của đồ vật và cách sử dụng đồ vật đó.
Trường Mầm non A Tứ Hiệp
Trang 15
Sáng kiến kinh nghiệm
Nguyễn Thị Thúy
2. 2. Trò chơi: “Ở đâu”
* Mục đích:
- Giúp trẻ gọi tên và nhận biết được vị trí của đồ vật
* Tiến hành:
- Chọn một số đồ vật quen thuộc từ những vị trí mà trẻ đã biết. Cho
những đồ vật đó vào một cái túi hoặc một cái hộp để trẻ không thể nhìn được.
Lấy một vật ra và cầm lên cho tất cả trẻ đề nhìn được. Hỏi trẻ xem vật đó
thường ở đâu. Cho trẻ chơi bằng cách bạn giả vờ như không biết nững đồ vật
đó ở đâu ra. Sau đó cho trẻ lần lượt mang những vật đó để vào đúng chỗ
Con có muốn ăn bánh không? Có
Con hãy nói: “Cô ơi cho con ăn bánh”.
Tốt lắm!
Điếu quan trọng cần phải sử dụng từ chính xác để trẻ có thể nghe và nhận biết
được.
* Kết quả: Qua chủ đề này trẻ đã biết tên và vị trí đồ vật của lớp mình và biết
cách sử dụng với chúng, biết thể hiện nhu cầu của mình, cháu Duy, Oanh đã
nới được câu có 3 từ.
3. Chủ đề: Mẹ và những người thân yêu của bé
3. 1. Album gia đình
* Mục đích:
- Giúp trẻ nhận ra và chỉ được một vài người thân
* Chuẩn bị:
- Ảnh trẻ và gia đình của trẻ, dán các ảnh vào album.
* Tiến hành:
Cùng trẻ xem và trò chuyện về các thành viên trong bức ảnh.
- Ảnh ai đây con? Đây là mẹ bạn Huy phải không?
- À đây là mẹ bạn Huy. Bạn Huy đang ngồi trên đùi của mẹ.
- Bạn Huy đang ôm cái gì đấy?
- À, đúng rồi bạn Huy đang ôm một chú gấu bông đấy?
- Huy ơi, chú gấu bông của con màu gì đấy?
3. 2. Gọi tên
* Mục đích:
- Tập cho trẻ nói một số từ.
* Chuẩn bị:
- Một con rối tay
* Tiến hành:
Dùng rối tay để nói chuyện cùng trẻ. Cho rối hỏi trẻ. Chơi một cách vui
vẻ và làm như con rối ngờ nghệch khi hỏi về tên của trẻ, quần áo, các bộ phận
cơ thể, đồ chơi, thức ăn hay những thứ khác quen thuộc với trẻ.
* Mục đích:
- Chọn được những bức tranh tương ứng với những đồ vật.
* Chuẩn bị:
- Khoảng 5- 6 con vật đò chơi và những bức tranh về con vật đó. Cho
chúng vào một cái hộp.
* Tiến hành:
Cho trẻ thấy cô dặt bức tranh lên bàn hoặc ra sàn nhà. Sau đó hướng dẫn
trẻ cách lựa chọn những con vật đò chơi vào những bức tranh của con vật đó.
Trường Mầm non A Tứ Hiệp
Trang 18
Sáng kiến kinh nghiệm
Nguyễn Thị Thúy
Trò chuyện với trẻ về con vật đó và yêu cầu trẻ nhìn cẩn thận trước khi lựa
chọn một bức tranh để đặt vào vị trí đúng.
Con vật này là gì, Nhi? Con gà này xếp vào đâu? Con có nhìn thấy bức
tranh con gà không? Đúng rồi, tốt lắm. Con đã tìm ra ròi. Để con gà vào bức
tranh con gà đi.
4. 3. Các con vật đồ chơi
* Mục đích:
- Trẻ có thể nhận biết một vài tên gọi các con vật
* Tiến hành:
Chuẩn bị nhiều loại đồ chơi các con vật. Trưng bày như một trang trại
hoặc sở thú. Ngoài ra đặt một vài đồ chơi các con vật và những bức tranh phù
hợp gần đó và những câu đố về các con vật cần đơn giản. Để trẻ sử dụng những
* Chuẩn bị:
- Chọn các bức tranh quần áo của trẻ như váy, áo khoác, tất quần, quần
cộc, quần dài, yếm…
* Tiến hành:
Cho trẻ cùng xem tranh với cô. Giúp trẻ biết gọi tên các loại quần áo mà
trẻ đang xem. Hướng dẫn trẻ cách chọn loại quần áo nào mặc trong hoạt động
nào, hay thời tiết nào mà cô đang nói tới. Nhớ cho lần lượt các trẻ được xem
tranh.
Hãy xem 2 bức tranh này. Các bạn nhỏ đang mặc gì?
Đúng rồi, bạn trai mặc áo khoác. Bạn gái mặc váy
Chúng ta thường mặc gì khi ăn cơm? (Mặc yếm)
5. 3. Hôm nay, chúng ta mặc gì?
* Mục đích:
- Giúp trẻ biết nên mặc quần áo cho thích hợp với điều kiện thời tiết.
* Tiến hành:
Chú ý đến những thứ quần áo mà trẻ mặc thường ngày. Nói chuyện với
trẻ về tên gọi của các loại quần áo đó và tai sao trẻ lại phải mặc nó. Nói chuyện
với trẻ về các loại quần áo khác và cô biết trẻ đang mặc và chú ý xem liệu trẻ
có thể nói với cô về những quần áo phù hợp nhất.
Chào Huy. Hôm nay Huy mặc quần đùi hay quần dài?!
À bạn Huy mặc quần dài đấy!
Quần dài của bạn Huy được may bằng vải có màu đỏ. Trời lạnh như thế
này các con mặc nó sẽ rất ấm mà lại còn đẹp nữa đấy.
* Kết quả đạt được: Với các hoạt động như trên trẻ chậm phát triển ngôn ngữ
lớp tôi đã tiến bộ rõ rệt. Trẻ biết nói 2-3 từ đơn giản, trẻ thực hiện được các yêu
cầu trong lời nói giao tiếp hàng ngày. Trẻ biết biểu đạt các nhu cầu, mong
muốn của mình sử dụng được các từ thể hiện sự lễ phép khi nói chuyện với
Trường Mầm non A Tứ Hiệp
Trang 20
“mắt dứa” cho trẻ, cô phải chuẩn bị đầy đủ quả thật để trẻ có thể: sờ, ngửi,
nếm… Để giúp trẻ hứng thú tập trung vào đối tượng quan sát, cô đưa ra hệ
thống câu hỏi phù hợp với trẻ:
+ Đây là quả gì?
+ Quả dứa có màu gì?
+ Vỏ dứa như thế nào?
Trường Mầm non A Tứ Hiệp
Trang 21
Sáng kiến kinh nghiệm
Nguyễn Thị Thúy
Như vậy nhờ có sự giao tiếp của cô và trẻ đã giúp trẻ phát huy được tính tích
cực của trẻ, qua đó mở rộng vốn hiểu biết, làm giàu vốn từ cho trẻ.
* Hoạt động “Làm quen văn học”:
Khi cho trẻ làm quen với văn học chính là sự phát triển ngôn ngữ nói cho
trẻ và còn hình thành ở trẻ kỹ năng nói mạch lạc. Khi tiếp xúc với bài thơ, câu
chuyện là trẻ đã được tri giác các bức tranh có hình ảnh và từ ngữ mới tương
ứng với nội dung bức tranh.
Ví dụ 1: Tôi kể cho trẻ nghe câu chuyện “Thỏ ngoan”, tôi chuẩn bị một số hệ
thống câu hỏi giúp trẻ nhớ được nội dung câu truyện và từ vừa học. Cô kể 1 – 2
lần giúp trẻ hiểu nội dung truyện và đặt hệ thống các câu hỏi hướng vào hành
động của nhân vật để trẻ hiểu được việc bào nên làm và không nên làm.
Ví dụ 2: Dạy trẻ đọc thơ “Cây bắp cải”.
Tôi cho trẻ quan sát cây bắp cải thật, trẻ được quan sát và được sờ. Tôi chuẩn bị
hệ thống câu hỏi phù hợp với trẻ:
+ Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gì? (Cây bắp cải)
I. MỤC ĐÍCH - YÊU CẦU:
1.Yêu cầu chung :
- Kiến thức:
+ Trẻ biết tên câu chuyện, tên nhân vật trong truyện.
+ Trẻ hiểu được nội dung câu chuyện: Kể về các bạn Gà con, Chim bạc má,
Cóc vàng rất ngoan; khi gặp ông trên đường đã biết khoanh tay chào ông.
+ Trẻ hiểu được một số từ khó: nhỏ xíu, Oang oang.
- Kỹ năng:
+ Phát triển ngôn ngữ cho trẻ và khả năng nhớ chuyện của trẻ.
+ Trẻ trả lời được câu hỏi của cô to, rõ ràng, đử câu.
- Thái độ:
+ Giáo dục trẻ biết lễ phép chào hỏi người lớn.
2.Yêu cầu riêng:
- Kiến thức:
+ Trẻ biết tên truyện, 3/4 nhân vật trong truyện.
+ Trẻ hiểu nội dung truyện: Các nhận vật trong truyện đã biết chào ông.
- Kỹ năng:
+ Trẻ sử dụng 2 – 3 từ để trả lời được một số câu hỏi của cô.
- Thái độ: Trẻ biết chào người lớn.
II. CHUẨN BỊ
1. Địa điểm, đội hình
- Địa điểm: Trong lớp
- Đội hình: + Lần 1: Ngồi chiếu bên cô
Trường Mầm non A Tứ Hiệp
Trang 23
+ Trong bài hát trước khi đi học bạn
- Trẻ trả lời.
được: Buổi
nhỏ đã làm gì?
+ Đến lớp các con chào ai?
sáng.
- Trẻ trả lời
- Cô khen trẻ và dẫn dắt vào câu
- Trẻ trả lời
được: Chào.
truyện.
2. Nội dung chính:
* Cô kể lần 1: Giọng kể diễn cảm kết
hợp cử chỉ, điệu bộ.
+ Cô vừa kể câu chuyện gì?
- Trẻ trả lời.
- Trẻ trả lời:
+ Trong chuyện có những bạn nào?
- Trẻ trả lời
ông như thế nào?
- Trẻ trả lời:
Gà, chim, cóc.
+ Ông khen bạn gà con như thế nào?
- Trẻ trả lời
- Trẻ trả lời:
+Khi ông gặp bạn chim, bạn chim
- Trẻ trả lời.
Chào ông.
chào ông như thế nào?
+ Ông khen bạn chim như thế nào?
- Trẻ trả lời :
- Trẻ trả lời.
Ngoan.
+ Bạn Cóc Vàng nhìn thấy ông đã
chào ông như thế nào?
+ Ông khen Cóc Vàng thế nào?
- Cô giáo dục trẻ.
* Cô kể lần 3 : Các con sẽ gặp lại các
bạn
( gà,chim, cóc) cùng cô qua màn kịch
rối nhé
- Các con vừa được xem màn kịch rối
- Trẻ trả lời:
- Trẻ trả lời.
Chào ông.
câu chuyện gì?
- Cô giáo dục trẻ.
3. Kết thúc:
- Cô nhận xét, kết thúc hoạt động.
- Cho trẻ hát bài hát: “Đi học về”
Trường Mầm non A Tứ Hiệp
- Trẻ lắc lư
- Trẻ hát.
theo nhạc.
Trang 25