BIỆN PHÁP rèn kĩ NĂNG đọc TIẾNG VIỆT CHO học SINH CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ học hòa NHẬP tại các TRƯỜNG TIỂU học TRÊN địa bàn QUẬN LIÊN CHIỂU - Pdf 40

BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH CHẬM
PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ HỌC HÒA NHẬP TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
SVTH: PHẠM THỊ QUỲNH NI
Lớp 04DB, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
GVHD: TS. LÊ QUANG SƠN
TÓM TẮT
Một trong những yếu tố góp phần quyết định chất lượng học tập của học sinh
Tiểu học (HS TH) là kĩ năng đọc Tiếng Việt (TV). Ngoài ra, dạy TV trong đó có
dạy Tập đọc cho HS Chậm phát triển trí tuệ (CPTTT) nói riêng và HS nói chung
là điều kiện không thể thiếu để qua đó phát triển trí tuệ cho các em. Trong đề tài
này, trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, chúng tôi khảo sát và đánh giá
thực trạng dạy học phân môn Tập đọc của HS CPTTT khối 4 ở các trường Tiểu
học Quận Liên Chiểu-Đà Nẵng. Từ đó chúng tôi đề xuất các biện pháp nâng cao
hiệu quả rèn luyện KN đọc TV cho HS CPTTT học lớp 4 ở các trường TH trên
địa bàn Quận Liên Chiểu-Thành phố Đà Nẵng.
1. Mở đầu:
Một trong những yếu tố góp phần quyết định chất lượng học tập của HS TH là
KN đọc TV. Đọc TV là phương tiện để HS lĩnh hội và tiếp thu được các môn
học khác. Dạy TV trong đó có dạy Tập đọc cho HS CPTTT nói riêng và HS nói
chung là điều kiện không thể thiếu để phát triển trí tuệ cho các em.
Năm học 2006-2007, Đà Nẵng có 888 HS khuyết tật tham gia hoà nhập ở 87/88
trường TH trên địa bàn. HS CPTTT là 502 em chiếm 56,53%. Theo những
nghiên cứu ban đầu cho thấy chất lượng học tập môn Tập đọc là không cao. Cụ
thể như số em chưa biết đọc lớn, số em chưa hiểu nghĩa của văn bản được đọc
khá lớn…Muốn khắc phục những hạn chế này, đòi hỏi chúng ta phải đánh giá
một cách chính xác KN đọc TV của HS CPTTT khối lớp 4 học hòa nhập để từ
đó có những biện pháp khắc phục. Có quá ít công trình nghiên cứu vấn đề đọc
TV của HS khuyết tật, đặc biệt vấn đề đọc TV của HS CPTTT lớp 4 đến nay
vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách có hệ thống và triệt để.
Chúng tôi chọn đề tài “Biện pháp rèn KN đọc Tiếng Việt cho học sinh CPTTT

HS học tập.
- H ọc hợp tác nhóm trong dạy học hòa nhập: GV tổ chức cho HS đối diện nhau
trong nhóm học tập, cùng trao đổi, chia sẻ, tìm tòi những kinh nghiệm, những
kiến thức hay giải quyết nhiệm vụ học tập được giao. Trong khi đó, GV bao
quát, theo dõi hoạt động của HS và sẵn sàng làm cố vấn, trọng tài hay hỗ trợ các
nhóm khi cần thiết.
- T hiết kế và tiến hành bài học hoà nhập có hiệu quả: Thiết kế tổng thể là khái
niệm để chỉ việc tính trước các kết quả và môi trường để khi thực hiện bài học,
giáo viên đã có sẵn các giải pháp dự kiến cho từng nội dung hoạt động của cả
trẻ bình thường và trẻ khuyết tật với các bước: tìm hiểu năng lực, nhu cầu và sở
thích của trẻ, xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung và phương pháp tiến hành
bài học, xác định nội dung bài học, x ác định, sắp xếp các hoạt động dạy - học
và phương pháp tiến hành, t hiết kế tiến trình giờ học. Mô hình Bloom là một
công cụ quan trọng giúp GV biên soạn và tiến hành bài học có hiệu quả. Cấu
trúc của bất kỳ giờ học nào cũng gồm các khâu: mở bài, giải quyết bài và kết
thúc bài. Toàn bộ các khâu đều phải bám sát theo mục tiêu, hướng vào mục tiêu.
b) Những vấn đề lí luận về dạy học phân môn Tập đọc lớp 4
- Đặc điểm tâm lí của trẻ CPTTT: cảm giác, tri giác, trí nhớ, chú ý, tư duy, ngôn
ngữ của trẻ đều có những khó khăn và thuận lợi mà chúng ta cần lưu ý khi rèn
KN đọc cho trẻ.
- Môi trường giáo dục hòa nhập trẻ CPTTT: t heo các chuyên gia nghiên cứu
giáo dục trẻ khuyết tật thì môi trường giáo dục hoà nhập có những ảnh hưởng
tích cực đối với trẻ CPTTT trên những phương diện sau: xoá bỏ mặc cảm; giao
tiếp phát triển nhanh; phát triển tính độc lập; học được nhiều hơn.


- Nhiệm vụ của dạy học Tập đọc là hình thành năng lực đọc cho HS, giáo dục
lòng ham đọc sách, phương pháp và thói quen làm việc với sách, trau dồi kiến
thức ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho HS.
- Phương pháp dạy học Tập đọc lớp 4 gồm nhóm phương pháp dùng lời, trực

là chủ yếu.
Chúng tôi cũng tiến hành điều tra trên giáo viên với 8 câu hỏi:100% giáo viên
đều cho rằng trình độ đọc của HS là ở mức chậm. 80% giáo viên cho rằng HS
đọc còn đánh vần và chỉ có 20% cho rằng các em đã đọc trơn tiếng.
Những lỗi thường gặp của học sinh CPTTT: Có tới 100% HS CPTTT mắc lỗi
khi đọc. Trong nhóm mắc lỗi thì mắc lỗi về âm là nhiều hơn các dạng mắc lỗi


khác. Trong đó có một số HS khi đọc thường bỏ sót từ hoặc thêm từ. Các em
thường đọc sai các dấu hỏi/ngã, một số em khi đọc thêm dấu huyền…
Kĩ thuật đọc TV của HS CPTTT có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng tới mức
độ mắc lỗi khi đọc của các em. Cụ thể là, trong nhóm HS có kĩ thuật đọc TV
cao có tới 100% là mắc lỗi ở mức độ thấp. Trong khi đó, nhóm HS có kĩ thuật
đọc trung bình có 100% HS mắc lỗi ở mức độ trung bình và nhóm HS có kĩ
thuật đọc thấp có tới 60% HS mắc lỗi ở mức cao và 40% HS mắc lỗi ở mức độ
trung bình.
- Kĩ năng thông hiểu
Kĩ năng nhận dạng chi tiết trong bài đọc TV: ở mức nhận dạng chưa đầy đủ các
chi tiết trong bài đọc TV. Trong đó có 60% HS nhận dạng chưa đầy đủ, 40% HS
không nhận dạng được các chi tiết trong bài đọc TV.
Kĩ năng hiểu nội dung bài đọc TV là ở mức hiểu nội dung của đoạn trong bài
đọc TV. Trong đó không có HS nào hiểu được nội dung cả bài, 70% HS hiểu nội
dung của đoạn và 30% HS không hiểu nội dung của bài đọc TV.
Kĩ năng ứng dụng bài đọc TV: chưa biết ứng dụng bài đọc TV
Kĩ năng sáng tạo bài đọc TV: không có khả năng sáng tạo bài đọc TV
60% GV cho rằng các em không nhận dạng được. 60% cho rằng các em có khả
năng nhận dạng nhưng chưa đầy đủ. 100% GV cho rằng các em không hiểu nội
dung, ý nghĩa của đoạn, bài; không ứng dụng được việc hiểu nội dung của bài
đọc và không sáng tạo được nội dung bài đọc.
Kĩ thuật đọc TV của HS CPTTT có ảnh hưởng đến khả năng thông hiểu TV của

tưởng, tình cảm, sử dụng bộ mã chữ-nghĩa, tức là mối liên hệ giữa các con chữ
và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu được nội dung
những gì được đọc. Quá trình này gọi là quá trình đọc hiểu. Mục đích của đọc
thành tiếng là chuyển đổi chính xác và ngày càng nhanh các kí hiệu văn tự
thành kí hiệu âm thanh. Khi đọc hiểu, mục đích của người đọc là làm rõ nghĩa
các kí tự, làm rõ nội dung và đích thông báo của văn bản. Lúc này quá trình đọc
không chỉ là sự vận động của trí tuệ. Nên đọc có ý thức là một yêu cầu quan
trọng của đọc, trở thành một KN của đọc.
- Một số định hướng trong việc rèn KN đọc cho HS CPTTT:
+ Để luyện đọc đạt hiệu quả cao thì việc tổ chức luyện đọc phải có mục tiêu rõ
ràng, tường minh, trực quan và lượng hóa được; cường độ luyện tập phải cao,
nghĩa là về nguyên tắc, luyện tập càng nhiều càng tốt và một nội dung luyện tập
phải được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trên những ngữ liệu khác nhau, được củng
cố nhiều lần để thành kĩ xảo; khi luyện tập phải lựa chọn ngữ liệu (từ ngữ, câu,
đoạn) để luyện đọc sao cho tiết kiệm thời gian luyện tập; trong khi luyện tập cần
phối hợp đồng bộ, tối đa các biện pháp luyện đọc.
+ Vận dụng các thuyết đa năng lực của Howard Gardner, lý thuyết về lĩnh vực
nhận thức, lĩnh vực tình cảm và tâm vận động, lý thuyết về làm cho trẻ thông
minh và nhạy cảm hơn (MISC) vào dạy học Tập đọc cho trẻ CPTTT nhằm giúp
GV trong việc thiết kế bài học tổng thể, tạo hứng thú học tập cho HS, xây dựng
các mục tiêu về hành vi của trẻ.
2.3.2. Các biện pháp rèn KN đọc Tiếng Việt của học sinh CPTTT học hoà nhập
ở các trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.3.2.1. Nhóm biện pháp điều chỉnh hoạt động dạy học
Điều chỉnh mục tiêu dạy học: mục tiêu tiết học cho từng HS CPTTT rất đa dạng
trong phạm vi, mức độ nhuần nhuyễn trong từng giờ học so với mục tiêu chung
của cả lớp. Cụ thể là HS CPTTT phải nắm bắt cũng một nội dung, nhưng ở
những mục tiêu nhận thức khác nhau, đòi hỏi thời gian không giống nhau, cách
thể hiện những gì nắm bắt được khác nhau. Vì vậy cần xác định mục tiêu chung
cho cả lớp và mục tiêu riêng cho trẻ CPTTT. Mục tiêu đó phải là mục tiêu hành

việc giải bài tập TV là hình thức chủ yếu của hoạt động TV. Các bài tập TV là
một phương tiện rất có hiệu quả và không thể thay thế được trong việc giúp HS
có năng lực ngôn ngữ, phát triển tư duy. Nhìn chung phần lớn GV cho rằng biện
pháp này phù hợp và rất phù hợp (73%). Hầu hết GV đều cho rằng biện pháp
này khả thi và rất khả thi. (73%).
Chuyển những nội dung khó thành những nhiệm vụ, bài tập phù hợp có những
nội dung dạy đọc, thoạt nhìn có vẻ là quá cao so với sức HS nhưng các em vẫn
chiếm lĩnh được nếu chúng ta biết chuyển những nội dung này thành những
nhiệm vụ, bài tập phù hợp. 85% GV cho rằng biện pháp này phù hợp và 11%
GV cho rằng biện pháp này rất phù hợp. Hầu hết GV đều cho rằng biện pháp
này khả thi. (85% khả thi, 15% rất khả thi)
Dạy tiết cá nhân: Nhằm mục đích rèn những kĩ năng còn hạn chế cho HS mà
không làm ảnh hưởng đến quá trình học tập chung của lớp. Phần lớn GV cho
rằng biện pháp này phù hợp và rất phù hợp (92%). 89% GV cho rằng biện pháp
này khả thi và rất khả thi.


Tạo hứng thú, động cơ cho việc đọc: chỉ khi trẻ có hứng thú, động cơ thì việc
đọc mới mang lại hiệu quả cao.GV nên chọn những ngữ liệu đọc phù hợp với sở
thích của trẻ CPTTT. Việc luyện đọc thành tiếng phải được tiến hành đồng thời
với việc luyện đọc hiểu. 100% GV cho rằng biện pháp này phù hợp và rất phù
hợp. 97% GV cho rằng biện pháp này khả thi và rất khả thi.
Giao những nhiệm vụ phù hợp: nhằm giúp trẻ có thể hoàn thành được nhiệm vụ
được giaotrong quá trình dạy học, GV cần chọn những nội dung nào mà trẻ
CPTTT có thể thực hiện được. 100% GV cho rằng biện pháp này phù hợp và rất
phù hợp. 100% GV cho rằng biện pháp này khả thi.
Tạo cho trẻ cơ hội thành công : so với bạn bè cùng lớp, trẻ CPTTT ít có cơ hội
thành công trong mọi hoạt động. Tạo cho trẻ cơ hội thành công sẽ củng cố cho
trẻ lòng tin rằng trẻ vẫn có thể thành công. 12% GV cho rằng biện pháp rất phù
hợp và 88% GV cho là phù hợp. Nhìn chung hầu hết GV đều cho rằng biện


biệt; đổi mới hệ thống phương pháp dạy học Tập đọc bằng hệ thống bài tập;
chuyển những nội dung khó thành những nhiệm vụ, bài tập phù hợp; dạy tiết cá
nhân, tạo hứng thú, động cơ cho việc đọc; nâng cao nhận thức cho gia đình trẻ
CPTTT về vai trò của họ trong việc chăm sóc, giáo dục con…
3.2. Khuyến nghị:
- Các cấp lãnh đạo tạo mọi sự quan tâm, điều kiện để cho giáo viên được trang
bị kiến thức về giáo dục hoà nhập trẻ CPTTT. Các cơ sở, viện nghiên cứu cần
có những sự quan tâm sâu sắc hơn như hỗ trợ sách vở, tài liệu về giáo dục đặc
biệt…cho các trường Tiểu học và cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức và trình
độ về giáo dục đặc biệt.
- Nhà trường cần tạo điều kiện về cơ sở vật chất như phương tiện dạy học, điều
kiện phòng ốc…Nên có tổ chuyên môn về giáo dục đặc biệt trong trường nhằm
trao đổi, chia sẻ các khó khăn, kinh nghiệm khi dạy học hoà nhập trẻ CPTTT
nói riêng và trẻ khuyết tật nói chung. Nhà trường cần tạo ra sự hợp tác tích cực
giữa nhà trường-gia đình
- Sở giáo dục đào tạo cần có sự kiểm tra đánh giá một cách đồng bộ kết quả
giáo dục hoà nhập
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ GDĐT (2005), Giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật bậc tiểu học, Dự án
phát triển giáo viên tiểu học, Hà Nội.
[2] Ths. Nguyễn Xuân Hải (2004), Dạy học một số chủ đề theo hướng tiếp cận
năng lực cá nhân cho trẻ chậm phát triển trí tuệ lớp 1, Trung tâm nghiên cứu
chiến lược và phát triển chương trình giáo dục chuyên biệt, Viện chiến lược và
chương trình giáo dục.
[3] Huỳnh Thị Thu Hằng (2005), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục,
Khoa Tâm lý – Giáo dục, ĐHSP, Đại học Đà Nẵng
[4] Lê Phương Nga (2001), Dạy học Tập đọc ở Tiểu học, NXB Giáo dục.
[5] Nguyễn Quốc Thái (2006), Kĩ năng đọc Tiếng Việt của học sinh dân tộc lớp
2 huyện Thuận Châu-Sơn La, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status