SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đề tài : GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT BỘ MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THCS THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG CÁC SƠ ĐỒ ĐỂ DẠY HỌC - Pdf 42

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài :
GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT BỘ MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THCS THÔNG QUA
VIỆC SỬ DỤNG CÁC SƠ ĐỒ ĐỂ DẠY HỌC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận
Việc học tập Lịch sử, cũng như học tập bất cứ bộ môn nào ở nhà trường đều nhằm cung cấp
kiến thức khoa học, hình thành thế giới quan khoa học, phẩm chất đạo đức chính trị cho học sinh.
Trong những năm qua khi thực hiện chương trình thay sách giáo khoa, việc đổi mới phương
pháp dạy học đã được nhiều người quan tâm và khẳng định vai trò quan trọng của việc đổi mới
phương pháp dạy học trong việc nâng cao chất lượng dạy học.. Bộ môn Lịch sử cung cấp cho học
sinh những kiến thức cơ sở của khoa học lịch sử, nên đòi hỏi học sinh không chỉ nhớ mà còn phải
hiểu và vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống. Cho nên, cùng với các môn học khác, việc học
tập Lịch sử đòi hỏi phát triển tư duy, thông minh, sáng tạo. Đã có quan niệm sai lầm cho rằng học
Lịch sử chỉ cần học thuộc lòng sách giáo khoa, ghi nhớ các sự kiện - hiện tượng lịch sử là đạt, không
cần phải tư duy - động não, không có bài tập thực hành,… Đây là một trong những nguyên nhân làm
suy giảm chất lượng môn học.
Điều quan trọng nhất trong trong việc đổi mới phương pháp dạy học là thầy dạy thế nào để
học sinh động não, làm thay đổi chất lượng hoạt động trí tuệ của học sinh, làm phát triển trí thông
minh, trí sáng tạo của các em. Hiện nay, trong quá trình dạy học trên lớp, hoạt động trí tuệ chủ yếu
của học sinh là ghi nhớ và tái hiện. Ở nhà, học sinh tự học dưới dạng học bài và làm bài…nhưng về
căn bản đã được hướng dẫn ở lớp, nên hoạt động trí tuệ của học sinh vẫn nặng về rèn luyện trí nhớ
và khả năng tái hiện. Như vậy, rèn luyện năng lực tư duy, khả năng tưởng tượng, sáng tạo phát triển
trí tuệ, trí thông minh…của học sinh nói chung, được xem là nhiệm vụ chủ yếu, nhiệm vụ quan
trọng nhất của quá trình dạy học hiện đại. Vì vậy, then chốt của việc đổi mới phương pháp dạy học
là điều chỉnh mối quan hệ giữa tái hiện và sáng tạo, đến việc tăng cường các phương pháp sáng tạo
nhằm đổi mới tính chất hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học.

2. Cơ sở thực tiễn :




2. Các biện pháp
Trong dạy học lịch sử, do không trực tiếp quan sát các sự kiện nên phương pháp trực quan
góp phần quan trọng trong việc tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thể hóa các sự kiện nhằm nâng cao
chất lượng dạy học. Đồ dùng trực quan có nhiều loại trong đó sơ đồ thuộc loại đồ dùng quy ước.
Nhiều bài dạy lịch sử có rất nhiều thông tin và sự kiện học sinh không thể nhớ hết, nhưng GV hệ
thống bằng sơ đồ thì bài học sẽ trở nên ngắn gọn và dễ hiểu. Qua thực tế giảng dạy hai năm bản thân
xin đưa ra một số kinh nghiệm nhỏ trong việc sử dụng các sơ đồ để dạy học bộ môn lịch sử.
Trước tiên, chúng ta phải phân loại sơ đồ trong dạy học lịch sử. Sơ đồ lịch sử với dạng chung
là “rẽ nhánh” thì có nhiều loại:
+ Sơ đồ “đường”: loại này rẽ từ “ô chính” sang các “ô phụ” bằng các đường nối hoặc mũi
tên. Sơ đồ này có hai kiểu là: sơ đồ có sẵn trong sách giáo khoa và sơ đồ không có sẵn trong sách
giáo khoa.
+ Sơ đồ tư duy: loại sơ đồ này cũng có ô và các đường nối, nhưng chúng được làm mềm mại
bằng các hình bầu dục, các đường nối cong cong (có đậm nhạt khác nhau) và có màu sắc. Loại này
được dùng phổ biến trong các bài giảng điện tử của giáo viên khi dự giờ, khi tham dự các hội thi của
giáo viên…
Về cách sử dụng, dù ở loại nào đi chăng nữa thì mỗi sơ đồ đều được sử dụng theo trình tự các
bước sau:
Bước 1: Học sinh đọc kênh chữ ở sách giáo khoa
Bước 2: Cho học sinh hoạt động theo nhóm, dựa trên thông tin của kênh chữ để vẽ sơ đồ theo
kênh chữ của sách giáo khoa
Bước 3: Đại diện các nhóm vẽ sơ đồ trên bảng và trình bày sơ đồ vừa vẽ bằng ngôn ngữ nói.
Bước 4: Học sinh nhận xét, bổ sung hoàn chỉnh phần sơ đồ, giáo viên kết luận, đánh giá hoạt
động của học sinh.
Bước 5: HS quan sát tự vẽ sơ đồ vào vở.
Đó là năm bước cần thực hiện khi dạy học bằng sơ đồ. Tuy nhiên để làm rõ hơn, người viết
lưu ý:
+ Khi thiết kế sơ đồ, cần lưu ý các đề mục của bài. Theo kinh nghiệm giảng dạy của tôi trong
2 năm, thường các bài về vương triều phong kiến (lớp 6, 7) và các chế độ xã hội (tư bản, vô sản…)

vào đọc sách giáo khoa tìm hiểu trước. Lúc đó, giáo viên treo sơ đồ (thường là sơ đồ câm) lên trên
bảng như là một gợi ý giúp học sinh định hướng trả lời. Sau khi học sinh đọc sách giáo khoa và nhìn
trên sơ đồ (phối hợp kỹ năng đọc và nhìn), giáo viên bắt đầu đặt các câu hỏi gợi mở (trong đó có thể
xen vào câu hỏi mang tính tư duy) để học sinh lần lượt trả lời
+ Sử dụng sơ đồ. Với cách làm truyền thống là giáo viên điền thẳng câu trả lời vào sơ đồ rồi
cho cả lớp kẻ sơ đồ đó vào vở, nhưng với hiện nay thì không làm như thế. Giáo viên vừa đặt câu hỏi


cho học sinh trả lời. Khi trả lời, học sinh có thể tự lên bẳng điền câu trả lời vào sơ đồ luôn. Như vậy
nó kích thích được sự chủ động của học sinh trong học tập.
Với lưu ý này, giáo viên có thể làm “cuộc thi tiếp sức”: chia lớp thành các nhóm. Giáo viên
đưa ra nhiều câu hỏi, học sinh ở các nhóm sẽ đọc nhanh sách giáo khoa, lấy thông tin và điền lên sơ
đồ. Nhóm nào điền nhanh và chính xác thì thắng cuộc. Điền thông tin vào chắc chắn có sai sót. Giáo
viên có thể mời bất kỳ một số thành viên trong nhóm sửa chữa sơ đồ trên bảng. Cho cá nhân các
nhóm xung phong sửa chữa. Nhóm nào có nhiều người sửa mà đúng nhất (trừ trường hợp có vài sai
sót do học sinh không biết thì giáo viên sửa luôn) thì thắng cuộc.
+ hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ vào vở. Thông thường việc này rất mất thời gian, nên có thể
trong khi làm bước 2 thì giáo viên yêu cầu học sinh làm luôn bước 3. Học sinh nhìn và tự vẽ đươc
(sơ đồ tư duy phải có hoa tay thì mới đẹp). Trong khi vẽ, giáo viên yêu cầu học sinh tô đậm các ý
chính (hay các đề mục chính) buộc học sinh phải ghi nhớ: Mục chính là cái gốc của cây, các mục
nhỏ là ngọn cây. Làm chắc gốc thì ngọn mới dài và cao, vươn xa….

3. Một số ví dụ minh họa các kiểu sơ đồ trong bài viết
Ở mục này, người viết dùng hai kiểu sơ đồ (tựu chung thì nó có dạng rẽ nhánh) trong một số
bài cụ thể:
Ví dụ 1 : Khi dạy bài 12: Nước Văn Lang. Giáo viên giảng theo các mục trong bài và thuộc
các nhận biết ở trên để phân biệt: mục nào cần dùng sơ đồ, mục nào không cần dùng sơ đồ. Giảng
tới mục 3, GV đặt ra câu hỏi và hướng dẫn học sinh lớp 6 trả lời. Trong lúc học sinh suy nghĩ, GV
có thể vẽ ra sơ đồ bộ máy nhà nước luôn và sơ đồ này là sơ đồ câm; đồng thời đặt ra các câu hỏi mở
để học sinh tự điền vào sơ đồ (có hướng dẫn). Sau khi hoàn thành, GV có sơ đồ sau:

các tầng lớp xã hội dưới sự tác động của các hình thức sản xuất mới, nhưng để đạt được mục đích
này giáo viên lại cần thiết phải sử dụng đến phương tiện trực quan có hiệu quả nhất đó là sơ đồ.
Bước 1: Cho học sinh đọc kênh chữ ở sách giáo khoa.
Bước 2: GV treo sơ đồ phân hoá xã hội phong kiến trên bảng đen.

Quý tộc

ĐỊA CHỦ

Nông dân giàu
Nông dân
công xã

Nông dân tự canh
Nông dân nghèo

NÔNG DÂN
LĨNH CANH

SƠ ĐỒ PHÂN HOÁ XÃ HỘI PHONG KIẾN TRUNG QUỐC (TK III TCN)
Bước 3: Học sinh dựa vào sơ đồ hoạt động nhóm trả lời các câu hỏi sau:
?Xã hội phong kiến Trung Quốc có những giai cấp nào? Các giai cấp này được hình thành
như thế nào?
Bước 4: Đại diện học sinh trong nhóm lên bảng dựa vào sơ đồ để trả lời.
Bước 5: HS nhận xét, bổ sung. GV kết luận, HS tự ghi kiến thức vào vở


Từ việc tiếp nhận thông tin bằng kênh chữ giáo viên đã tăng cường tính cụ thể, tính hình ảnh
của các thông tin về các hiện tượng xã hội bằng sơ đồ giúp học sinh dễ tiếp thu nội dung, bản chất
hiện tượng xã hội. Sơ đồ trên giúp học sinh hiểu rõ nội dung và những đặc trưng cơ bản, sự phân

HƯƠNG, XÃ


*Nhóm 2:Sơ đồ rời:
+Chính quyền trung ương:

VUA
ĐẠI THẦN

QUAN VĂN

QUAN VÕ

+Chính quyền địa phương:

24 LỘ, PHỦ

HUYỆN

HƯƠNG, XÃ

HƯƠNG, XÃ

Cách làm này đã giúp các em rèn luyện kĩ năng vẽ sơ đồ dựa trên kênh chữ trong sách giáo
khoa, kích thích tư duy và hứng thú học tập cho học sinh đồng thời các em sẽ hiểu bài và nhớ bài lâu
hơn.
Ví dụ 4: Khi dạy bài 30- Lịch sử lớp 9 : “ Hoàn thành giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước”tiết 2. Giáo viên có thể củng cố kết thúc bài học bằng sơ đồ sau :

TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN
1975


Sơ đồ tư duy về phong trào Tây Sơn (học sinh tự vẽ)

3. Kết quả :
Qua thực tế hai năm giảng dạy, với kinh nghiệm sử dụng sơ đồ để cụ thể hóa kiến thức và
củng cố bài học bản thân tôi nhận thấy học sinh có hứng thú học tập hơn và nắm vững kiến thức cơ
bản nhanh hơn. Hỏi ý kiến học sinh, các em cũng rất thích phương pháp này, nhiều em rất thích thú
khi tự mình thiết kế sơ đồ sau mỗi bài học để nắm bắt bài học nhanh chóng và nhớ lâu. Chính
phương pháp này trong năm học qua kết quả chất lượng môn Sử cao hơn so với những năm trước.
Theo thống kê kết quả thi học kỳ của bộ môn qua năm học 2014 – 2015 thì tỉ lệ học sinh trên trung
bình là 84%, nhưng đến năm học 2015 – 2016 đã lên tới 96% (bằng với tỉ lệ chung của tổ Sử GDCD đặt ra ngay đầu năm học). Trong các năm học đó, tỉ lệ học sinh đạt khá giỏi dao động từ 90 –
95%. Trong năm học 2016 – 2017, với sự đổi mới mạnh mẽ về nâng cao chất lượng dạy và học bộ
môn Lịch sử THCS theo hướng khái quát các nội dung thành các chủ đề chính dựa theo phương
pháp sơ đồ hóa nội dung bài học thì thiết nghĩ, chất lượng dạy và học bộ môn Lịch sử THCS sẽ
được nâng cao thêm rất nhiều.


III. KẾT LUẬN
Đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp học sinh nhớ kĩ hiểu sâu những kiến
thức lịch sử. Chính vì thế để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn lịch sử, người giáo viên phải luôn
sử dụng tốt các phương dạy học lịch sử một cách nhuần nhuyễn, trong những phương pháp đó việc
sử dụng sơ đồ cũng có tác dụng rất lớn . Sơ đồ chính là một đồ dùng trực quan rất sinh động thể hiện
sự sáng tạo cao của người giáo viên.
Trong những năm qua, công tác thiết bị trường học đã có nhiều thay đổi và đạt những kết quả
đáng khích lệ. Tuy nhiên những đồ dùng dạy học được trang cấp chưa đủ để phục vụ cho nội dung
chương trình sách giáo khoa...chính vì thế phong trào tự làm đồ dùng dạy học là một hoạt động có ý
nghĩa quan trọng trong quá trình dạy học. Việc tự làm sơ đồ dạy học được đề cập đến trong đề tài
này mang ý nghĩa thể hiện sự sáng tạo của giáo viên nhằm giải quyết nhu cầu thực tiễn của giáo
viên để thực hiện đổi mới phương pháp phù hợp với khả năng sư phạm của mình, với đặc điểm của
lớp học, người học và môn học. Đồ dùng dạy học này, do chính giáo viên thiết kế cho phù hợp từng

…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status