tiểu lận quản lý Công tác kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên ở Trường Tiểu học A Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Hòa, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang năm học 2016 2017 - Pdf 42

1. LÝ DO CHỌN CHỦ ĐỀ TIỂU LUẬN
1.1. Các văn bản pháp lý
Các văn bản có nội dung liên quan đến hoạt động sư phạm của giáo viên:
- Luật giáo dục 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều lệ Trường tiểu học; Chuẩn nghề
nghiệp giáo viên tiểu học.
- Nghị định số 42/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2013 của của Chính phủ về việc
tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục;
- Thông tư số 39/2013/TT-BGDDT ngày 04 tháng 12 năm 2013 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo hướng dẫn về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục;
- Hướng dẫn số 29/HD-SGDĐT ngày 15 tháng 9 năm 2016 của Sở Giáo dục và Đào
tạo An Giang về việc hướng dẫn thực công tác thanh tra năm học 2016 - 2017;
- Kế hoạch số 668/KH-GDĐT-TTr ngày 20/9/2016 và Hướng dẫn số 688/HD-GDĐTTTr ngày 26/9/2016 của Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Tân Châu về công tác kiểm
tra giáo dục năm học 2016 - 2017;
- Kế hoạch số 113/KH-AVH ngày 30 tháng 9 năm 2016 của Trường Tiểu học A Vĩnh
Hòa, về công tác kiểm tra nội bộ năm học 2016 - 2017, có nội dung “Kiểm tra hoạt
động sư phạm của giáo viên”
1.2. Lý do về lý luận
Kiểm tra nội bộ nhà trường là một hoạt động quản lý thường xuyên của hiệu
trưởng, là một yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới quản lý hiện nay mà người hiệu
trưởng của bất kỳ loại hình trường nào cũng phải thực hiện.
Kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên là một trong những nội dung kiểm
tra nội bộ trường phổ thông, một khâu trong chu trình quản lý nhà trường giúp hiệu
trưởng bảo đảm sự toàn vẹn của quá trình quản lý và đạt chất lượng tổng thể của quá
trình giáo dục, giúp nhà trường thực hiện tốt quyền tự chủ và thực hiện trách nhiệm xã
hội, đồng thời giúp nhà trường kiểm định chất lượng, tự đánh giá chất lượng giáo dục
và đào tạo của nhà trường một cách khách quan. Ta có thể hiểu như sau:
*Kiểm tra: là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét (Trang 1122 - Từ điển
Tiếng Việt – NXB Từ điển Bách khoa – Xuất bản 2011 – Hoàng Phê chủ biên)
*Hoạt động: tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục
đích nhất định trong đời sống xã hội. (Trang 1122 - Từ điển Tiếng Việt – NXB Từ điển
Bách khoa – Xuất bản 2011 – Hoàng Phê chủ biên)

các đối trượng kiểm tra làm việc tốt hơn, có hiệu quả hơn.
1.3. Lý do thực tiễn
Thực tế trong nhiều năm qua, công tác kiểm tra hoạt động sư phạm giáo viên ở
Trường Tiểu học A Vĩnh Hòa đã được thực hiện nhưng chưa đi vào chiều sâu, còn làm
qua loa, hình thức đơn điệu, trùng lặp, ít hấp dẫn. Trong thời đại ngày nay, từ thực tiễn
xu thế phát triển nói chung, sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo nói riêng mà đặc
biệt đáp ứng mục tiêu giáo dục Tiểu học thì việc tổ chức kiểm tra hoạt động sư phạm
nhà giáo là hoạt động hết sức cần thiết, nhà quản lý trường tiểu học cần phải nhận thức
đầy đủ tầm quan trọng của việc kiểm tra hoạt động sư phạm nhà giáo, từ đó có biện
2


pháp quản lý khoa học và phù hợp với thực tế. Để làm được điều này nhà quản lý cần
nghiên cứu sâu cơ sở lý luận của việc kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên.
Xuất phát từ thực tế trên, sau khi được tham gia lớp Cán bộ quản lý tiểu học An
Giang (năm học 2015 - 2016), tôi nhận thấy công tác quản lý rất quan trọng đặc biệt là
công tác kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên là một trong những nhiệm vụ then
chốt quyết định sự phát triển toàn diện của nhà trường, nên tôi đã quyết định chọn đề
tài: “Công tác kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên ở Trường Tiểu học A
Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Hòa, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang năm học 2016 - 2017”
làm đề tài tiểu luận. Tôi hy vọng rằng với đề tài này sẽ góp phần nâng cao chất lượng
đội ngũ giáo viên cho Trường Tiểu học A Vĩnh Hòa trong thời gian tới.
2. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA HOẠT
ĐỘNG SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC A VĨNH HÒA
2.1. Khái quát về Trường Tiểu học A Vĩnh Hòa
a. Khát quát chung: Trường Tiểu học A Vĩnh Hòa thuộc địa bàn nông thôn,
nằm trong vùng sạt lỡ hàng năm nên biến động và không ổn định về dân cư. Dân cư đa
số là dân tộc kinh. Nhân dân trong địa bàn sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và
làm thuê. Trường có hai điểm: Điểm chính thuộc ấp Vĩnh Thạnh B, nằm gần khu vực
hành chính và khu dân cư trung tâm xã; Điểm lẻ thuộc địa bàn ấp Vĩnh An, nằm dọc

2.2.2.1. Xây dựng lực lượng kiểm tra
Đầu năm, Hiệu trưởng ra quyết định thành lập Ban kiểm tra chuyên môn do
Hiệu trưởng làm Trưởng ban, Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn làm Phó trưởng
ban, các tổ trưởng làm thành viên.
Do số lượng Ban kiểm tra quá ít nên việc thực hiện dự giờ trên lớp đối với mỗi
giáo viên có nhiều khó khăn. Thường việc dự giờ do tổ trưởng là thành viên Ban kiểm
tra chuyên môn đảm nhiệm. Riêng Tổ chuyên, tổ trưởng không cùng chuyên môn với
người được dự giờ đánh giá, vì vậy, việc dự giờ đánh giá gặp nhiều khó khăn.
2.2.2.2. Đào tạo lực lượng kiểm tra
Để lực lượng kiểm tra thực thi trách nhiệm có hiệu quả, hàng năm, Hiệu trưởng
đều cử tổ trưởng các tổ tham dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ trong hè.
2.2.2.3. Xây dựng chuẩn kiểm tra
Từ trước đến nay, nhà trường chưa xây dựng chuẩn, tiêu chí kiểm tra riêng cho
đơn vị. Ban kiểm tra nhà trường chỉ sử dụng một số văn bản pháp lý làm cơ sở để tiến
hành đánh giá hoạt động sư phạm của giáo viên.
Trong quá trình kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên, hầu như ban kiểm
tra chỉ vận dụng thang bảng điểm để đánh giá giờ dạy là chính. Vì vậy mà giờ dạy gần
như quyết định chính trong việc xếp loại giáo viên. Các mặt hoạt động khác hầu như
chỉ nhận xét rất sơ sài. Từ đó việc đánh giá giáo viên sẽ trở thành phiến diện.
2.2.3. Chỉ đạo kiểm tra
Sau khi lập kế hoạch, Hiệu trưởng ra quyết định thành lập Ban Kiểm tra, công
bố kế hoạch kiểm tra.
Hiệu trưởng hướng dẫn, động viên lực lượng kiểm tra kiểm tra để lực lượng
kiểm tra thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Thường thì công tác hướng dẫn và động
viên chưa được quan tâm đúng mức, Hiệu trưởng chỉ động viên chung chung như cố
gắng khách quan, không thiên vị, không áp đặt, không định kiến… Trong công tác
động viên lực lượng kiểm tra, chưa có phần khích lệ về mặt chế độ hay quyền lợi về
vật chất, tinh thần cho lực lượng kiểm tra.
2.2.4. Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá, tư vấn, thúc đẩy
2.2.4.1. Kiểm ta, đánh giá

- Kiểm tra và chấm bài, quan tâm giúp đỡ các đối tượng học sinh: Ban Kiểm tra
chuyên môn chỉ mới dừng ở việc kiểm tra sổ điểm của giáo viên để đánh giá việc
chấm bài của giáo viên mà chưa đi sâu vào phân tích các đề kiểm tra, đáp án, phương
án làm bài giáo viên cung cấp cho học sinh trong quá trình chuẩn bị làm bài và sau khi
làm bài để học sinh hiểu được, nắm bắt được cách làm bài, hình thành kiến thức cơ
bản cho bản thân nhằm đạt mục tiêu học tập tốt.

5


- Kiểm tra việc thí nghiệm, sử dụng đồ dùng dạy học, thực hiện các tiết thực hành theo
qui định: Nhiều giáo viên ít khi sử dụng đồ dùng dạy học, có khi giáo viên mượn đồ
dùng dạy học nhưng lại không ký nhận vào sổ nên việc theo dõi cũng chưa được chặt
chẽ. Khi có Ban kiểm tra dự giờ thì giáo viên mới sử dụng đồ dùng dạy học. Vì vậy,
nếu chỉ qua tiết dự giờ mà đánh giá giáo viên có sử dụng và sử dụng tốt đồ dùng dạy
học sẽ thiếu khách quan.
- Kiểm tra về đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về hồ sơ và các qui định về chuyên môn:
Đây là công việc định kỳ phải làm nhiều lần trong năm. Các đợt kiểm tra nhìn chung
khá nghiêm túc. Đa số giáo viên lập hồ sơ sổ sách đầy đủ theo yêu cầu của trường.
Trong các đợt kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên, Ban Kiểm tra có tiến hành
kiểm tra hồ sơ sổ sách theo quy định.
- Kiểm tra thực hiện tự bồi dưỡng và tham gia bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ:
Trong năm học, nhà trường có tổ chức các khoá học bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp
vụ, vi tính cho giáo viên bên cạnh các khoá học do Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ
chức. Đôi khi, Ban kiểm tra chưa kiểm tra được việc tham gia học tập của giáo viên
như thế nào, kết quả đạt được ra sao.
- Tuân thủ các qui định về dạy thêm, học thêm: Vấn đề này thì Nhà trường thực hiện
tương đối tốt. Không tổ chức, cấp phép dạy thêm, học thêm dưới bất kỳ hình thức nào.
b.3. Về kết quả giảng dạy, giáo dục
- Kết quả học tập, rèn luyện của học sinh qua các lần kiểm tra chung của toàn trường,

này khi kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên.
2.2.4.2. Nhận xét về công tác tư vấn, thúc đẩy
Đây vẫn là khâu yếu nhất hiện nay trong khâu kiểm tra hoạt động sư phạm của
giáo viên tồn tại trong nhiều năm qua ở nhà trường.
2.2.4.3. Tổng kết, điều chỉnh
Trong năm vừa qua, nhà trường tiến hành hai đợt kiểm tra hoạt động sư phạm
của giáo viên vào cuối Học kỳ I và trong Học kỳ II.
Tổng số giáo viên được kiểm tra về hoạt động sư phạm là giáo 10 viên (trong
tổng số 28 giáo viên trực tiếp giảng dạy và chủ nhiệm). Số giáo viên được kiểm tra có
kết quả như sau:
Xếp loại Tốt: 7 (70%).

Xếp loại Khá: 3 (30%).

Xếp loại TB: 0 (0 %).

Phần kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên (trong Kế hoạch kiểm tra nội bộ
của Trường) đề ra cho năm học 2016 - 2017 là 8 giáo viên.
2.3. Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức để đổi mới/nâng cao
chất lượng hoạt động Công tác kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên ở
Trường Tiểu học A Vĩnh Hòa
2.3.1. Điểm mạnh:
- Tập thể giáo viên đa phần là trẻ, nhiệt tình. Đoàn kết nội bộ tốt.
- Bầu không khí sư phạm vui vẻ, thoải mái, dễ tương tác trong công việc.
- Giữa lãnh đạo và giáo viên, nhân viên có không khí thân mật, hoà đồng.
- Các kế hoạch của nhà trường đa số được giáo viên thực hiện nghiêm túc.
- 100% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn, đảm bảo kiến thức chuyên môn.
2.3.2. Điểm yếu:
7


giải quyết sau, xin được nêu ra để tham khảo:
*Tình huống 1: (Kiểm tra về thực hiện quy chế chuyên môn)
“Khi kiểm tra về thực hiện quy chế chuyên môn, Hiệu trưởng phát hiện có một
giáo viên giỏi về chuyên môn nhưng khi lên lớp thường xuyên không mang theo giáo
án.”
a. Trước tiên thầy Hiệu trưởng liệt kê và phân tích các mặt sau:
+ Biểu hiện của giáo viên: Thường xuyên không mang giáo án khi lên lớp.
+ Về tính chất của sự việc: Coi thường tổ chức, công tác quản lý của Ban giám hiệu,
đặc biệt là coi nhẹ việc dạy người.
+ Nguyên nhân: Có rất nhiều nguyên nhân.
+ Hậu quả: Làm ảnh hưởng tới nhà trường, tới hình ảnh của người thầy, gây mất lòng
tin đối với phụ huynh và học sinh.
+ Kết luận: Giáo viên này đã vi phạm quy chế chuyên môn cho dù là giaó viên giỏi.
+ Nhiệm vụ đặt ra: Ngăn chặn và chấm dứt hiện tượng nêu trên.
8


b. Cách giải quyết của Hiệu trưởng:
+ Kiểm tra đột suất và phát hiện lần đầu giáo viên không mang giáo án khi lên lớp.
+ Hiệu trưởng nhẹ nhàng mời giáo viên đó xuống gặp riêng và yêu cầu trình bày lí do
và tự nhận xét, đánh giá về việc làm của bản thân.
+ Hiệu trưởng bằng trực giác và cảm nhận, căn cứ vào thái độ thành khẩn của người vi
phạm cho tự nhận hình thức kỉ luật.
+ Hiệu trưởng đã phân tích để giáo viên thấy được những hậu quả để lại qua việc vi
phạm trên của mình nếu để đồng nghiệp, học sinh, phụ huynh hay ai đó biết được thì
hình ảnh một giáo viên giỏi sẽ ra sao trong mắt họ và đặc biệt hơn là do không có giáo
án hay không chuẩn bị bài nên những kiến thức không mang tính chính xác và sẽ theo
các em học sinh cả cuộc đời.
+ Hiệu trưởng cho giáo viên kí biên bản vi phạm quy chế chuyên môn để làm căn cứ,
sự việc kết thúc.


Trên đây chỉ là một vài điển hình kiểm tra hoạt động sư phạm mà trường tôi
thực hiện thành công. Nguyên nhân của thành công trên là vì người kiểm tra đã tùy
từng mục đích, đối tượng, tính huống kiểm tra cụ thể mà lựa chọn và vận dụng các
nguyên tắc, phương pháp kiểm tra phù hợp, linh hoạt và sáng tạo.
Tuy nhiên, vẫn còn một vài nội dung kiểm tra mà trường tôi vẫn thực hiện chưa
tốt. Xất phát từ nhiều nguyên nhân, tôi xin nêu ra một số nguyên nhân cơ bản sau:
- Trong quá trình thực hiện kế hoạch kiểm tra, có lúc bị thay đổi do nguyên nhân
khách quan nhưng Hiệu trưởng chưa có sự bổ sung, điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp
thực tiễn.
- Trong công tác kiểm tra, còn nặng về kiểm tra, đánh giá, nhẹ về tư vấn, thúc đẩy.
- Các thành viên trong Ban Kiểm tra chưa được hướng dẫn, bồi dưỡng về công tác
thanh tra, kiểm tra. Các bước tiến hành kiểm tra chưa được bài bản.
- Về mặt chuyên môn, một số thành viên trong Ban Kiểm tra chưa có đủ bản lĩnh để tư
vấn cho người được kiểm tra.
- Các buổi trao đổi giữa Ban Kiểm tra với người được kiểm tra còn sơ sài, đơn giản,
chưa đi sâu vào việc tư vấn để người được kiểm tra có cái nhìn toàn diện hơn về vấn
đề và quan trọng hơn là có hướng đi phù hợp hơn trong thời gian tới.
- Có khi người được kiểm tra lại là bậc trưởng bối, hoặc là thầy dạy ngày trước của
người đi kiểm tra nên đôi lúc cũng có khó khăn cho trong nhận xét đánh giá.

10


3. KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG VẬN DỤNG NHỮNG ĐIỀU ĐÃ HỌC VÀO CÔNG TÁC KIỂM TRA HOẠT ĐỘNG SƯ PHẠM
CỦA GIÁO VIÊN TRONG HỌC KÌ I, NĂM HỌC 2016 - 2017 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC A VĨNH HÒA
Nội dung công
việc
1. Xây dựng
và triển khai


Điều kiện thực
hiện (kinh phí,
Cách thức thực hiện
phương tiện,
thời gian)
Tổ trưởng - Trong tháng
Xây dựng và triển khai kế hoạch
chuyên
08
kiểm tra đến toàn thể giáo viên
môn, giáo - Các văn bản có
liên quan
viên dạy
- Các biểu mẫu
lớp
kiểm tra
Người
phối hợp
thực hiện

Khó khăn,
rủi ro (nếu
có)
Giáo viên
không nắm
hết các nội
dung kiểm
tra


phẩm chất
tốt, có uy
tín, trình độ
đào tạo
chuẩn, có
thâm niên
giảng dạy ít
nhất 5 năm,
được công
nhận là giáo
viên dạy
giỏi cấp

Hiệu
trưởng

Phó hiệu
trưởng,
các tổ
trưởng và
giáo viên
cốt cán có
chuyên
môn cao

- Trong tháng
08
- Các văn bản
liên quan đến
công tác kiểm

12


trường trở
lên hay có
năng lực
tương
đương
3. Các nội dung kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên
3.1. Kiểm tra Nắm được
Hiệu
Địa
Trong tháng 12
về “Phẩm chất phẩm chất
trưởng phương,
chính trị, đạo chính trị,
tổ trưởng
đức, lối sống” đạo đức, lối
sống của
từng giáo
viên

- Trao đổi trực tiếp với giáo viên
được kiểm tra, tham khảo ý kiến Ban
chấp hành Công đoàn trường, Chi
đoàn, tổ chức Đảng, tổ chuyên môn
tìm hiểu về nhận thức tư tưởng, chính
trị, về việc chấp hành qui chế của
giáo viên.
- Thăm dò dư luận, địa phương nơi

3.3. Kiểm tra
về “Thực hiện
qui chế
chuyên môn”

Xác định
mặt mạnh,
mặt yếu của
từng giáo
viên để từ
đó đưa ra
những lời
khuyên hay
khuyến
khích kịp
thời

Hiệu
trưởng

Năm được
Phó
tình hình
hiệu
thực hiện hồ trưởng
sơ sổ sách
và chấp
hành các
quy định về
chuyên môn

- Duyệt bài soạn theo quy định
- Họp tổ chuyên môn 2 tuần/lần
- Tổ chức kiểm tra chuyên đề hồ sơ
sổ sách định kì và đột xuất.
- Nghiêm cấm, theo dõi và xử lý
nghiêm việc dạy thêm, học thêm (nếu
có)

Giáo viên Phân
giảng dạy người
chưa tốt
cặp,
đỡ,
dưỡng
cao
nghề

- Giáo viên
không chịu
tham gia
bồi dưỡng
- Lên lớp
không có
giáo án.
- Vắng họp
chuyên môn

công
kềm
giúp

nhiều lần

Biết được
tình hình
học tập, rèn
luyện của
học sinh

Hiệu
trưởng

Phó hiệu
trưởng, tổ
trưởng

Cuối Học kì I

Xem xét kết quả học tập, rèn luyện
của học sinh lớp được kiểm tra dạy
so với kết quả kiểm tra chung của
toàn khối; sự tiến bộ của học sinh từ
khi giáo viên nhận lớp so với năm
trước;

Chất lượng
giảng dạy
và giáo dục
chưa đáp
ứng chỉ tiêu
đề ra

dưới cờ về
nhiều mặt;
có nhiều
học sinh vi
phạm nội
quy của
trường

gặp khó
khăn và sẽ
tiến hành
kiểm tra bổ
sung
Nhắc nhở,
kiểm điểm
(nếu cần)
và phân
công người
giúp đỡ.
Tìm hiểu
nguyên
nhân, nhắc
nhở, tư vấn,
phân công
người giúp
đỡ.

15



hoạch và thực hiện nghiêm túc kế hoạch đã đề ra, kiểm tra đúng quy trình, đánh giá
công bằng, khách quan, tạo bầu không khí thi đua sôi nổi và phải nhẹ nhàng, thoải
mái.
16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status