A- PHẦN MỞ ĐẦU
I- LÝ DO ĐỀ XUẤT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Giáo dục học mầm non (GDMN) là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục
quốc dân. Cùng với sự phát triển của sự nghiệp giáo dục cả nước thì GDMN đã
và đang có những bước chuyển biến đáng kể; Quy mô trường lớp được củng cố
và mở rộng thu hút trẻ trong độ tuổi mầm non được chăm sóc giáo dục ở trường
ngày càng đông. Có được kết quả bước đầu là nhờ một phần vận dụng đúng đắn
chủ trương xã hội XHHGDMN.
XHHGD là chủ trương quan trọng mang tính chiến lược nhằm huy động
nguồn lực của xã hội để phát triển sự nghiệp giáo dục, huy động toàn dân đóng
gúp nhân lực, vật lực, tài lực làm cho giáo dục ngày càng phát triển hơn. Tại
cuộc gặp gỡ với lãnh đạo và cán bộ Bộ Giáo dục & Đào tạo ngày 26 tháng 4
năm 2002 đồng chí Nông Đức Mạnh - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã
khẳng định: "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Giáo dục cũng như các
mặt công tác cách mạng khác, phải huy động bằng được sự tham gia của nhân
dân. Nhà trường của ta phải gắn bó với cha mẹ học sinh, sinh viên, phải gắn bó
với cộng đồng, với xã hội, phải thể hiện được tư tưởng của nhân dân, do dân, vì
dân. Chỉ có như vậy, nhân dân mới chăm lo cho nhà trường và mới huy động
được nhân dân đúng gúp trí tuệ, công sức, tiền của để phát triển giáo dục"
Theo Luật giáo dục, công tác quản lý, chỉ đạo, phát triển GDMN cần phải
gắn bó với công tác vận động xã hội mới đem lại hiệu quả cao. Tính phong trào
là đặc điểm riêng và là quy luật phát triển của GDMN, vì vậy phải phối hợp giữa
các ban ngành và toàn thể xã hội thì mới phát triển được bậc học này.
Phường Lê Lợi thuộc phía Nam thị xã Kon Tum được thành lập năm 1998. Từ
khi thành lập đến nay, phường Lê Lợi đó có những bước chuyển biến đáng kể về
kinh tế văn hoá - xã hội. Tuy nhiên, so với cỏc phường thuộc thị xã Kon Tum thì
Lê Lợi vẫn là một phường phát triển chậm, đời sống nhân dân còn nghèo, nhất
là ở hai làng đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu sống bằng nghề nông, làm
nương rẫy nên thu nhập thấp,vẫn còn nhiều hộ nghèo.Trình độ dân trí thấp, nhận
1.2- Vai trò của GDMN:
GDMN có nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là chuẩn bị tiền đề về thể chất, về trí tuệ
và về tâm lý, cho trẻ em đến trường phổ thông và cũng tạo ra tiền đề vững chắc
cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Chính vì vậy, Đảng và Nhà
nước ta hết sức quan tâm đến GDMN và đã cho ra đời những chủ trương chính
sách hợp lý kịp thời nhằm phát triển GDMN trong thời kỳ mới , thời kỳ CNH HĐH đất nước.
Phát triển GDMN là nền tảng chiến lược phổ cập tiểu học của đất nước. Nhiều
công trình nghiên cứu khoa học ở Việt Nam và trên thế giới đã chứng minh lợi
ích lâu dài của việc can thiệp giáo dục vào các năm ở tuổi mầm non . Trí tuệ,
tính cách và hành vi đứa trẻ đã được hình thành ở chính những năm đầu cuộc
đời con người. Những can thiệp khi trẻ còn nhỏ có thể thúc đẩy các em đi học
và giảm tỷ lệ bỏ học, tỷ lệ lưu ban tức là chất lượng học tập của các em sẽ vững
chắc hơn.
Chăm sóc sức khoẻ cho trẻ ở lứa tuổi mầm non là công việc vô cùng quan trọng
vì ở lứa tuổi mầm non mà bị suy dinh dưỡng thường xuyên và sức khoẻ kém
hơn ở lớp tiểu học thì trẻ sẽ không đi học đều dẫn đến tình trạng lưu ban bỏ học.
Khoa học đã chứng minh rằng:" Trẻ em lứa tuổi mầm non ( từ 0 đến 6 tuổi) có
sự tăng trưởng rất lớn lao về cơ thể , trí tuệ và tình cảm. Chẳng hạn có tới 50%
sự phát triển trí tuệ của con người được diễn ra trong lứa tuổi từ bào thai đến 4
tuổi, từ 4 tuổi đến 8 tuổi đạt được 30% nữa và tiếp tục hoàn thiện đến tuổi
trưởng thành nhưng tốc độ chậm dần sau 18 tuổi" .
1.3 - Mục tiêu giáo dục mầm non:
Giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, thẩm mỹ, trí tuệ, hình thành những
yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một.
1.4- Nhiệm vụ của GDMN :
- Thực hiện nội dung giáo dục toàn diện và ngày càng nâng cao chất lượng chăm
sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ theo mục tiêu kế hoạch đào tạo.
- Tuyên truyền và hướng dẫn công tác nuôi dạy trẻ theo khoa học cho các bậc
1.7- Chủ trương thực hiện XHHGDMN của Đảng và nhà nước;
Luật giáo dục đã khẳng định quyết tâm mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước về phát
triển sự nghiệp GD-ĐT. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng
khoá IX (4 (2001) đã khẳng định "Phát triển GD-ĐT là một những động lực
quan trọng thúc đẩy sự CNH - HĐH, là điều kiện phát huy nguồn nhân lực con
người."
Để thực hiện phát triển giáo dục trên toàn quốc, Chính phủ đã phát hành Công
trái xây dựng Tổ quốc mang tên Công trái Giáo dục nhằm huy động vốn hỗ trợ
các tỉnh miền núi, Tây nguyên và các tỉnh có nhiều khó khăn để thực hiện mục
tiêu kiên cố hoá trường học theo quy định tại Nghị quyết số 09/2002/QH khoá
11 ngày 28/11/2002 của Quốc hội, xoá phòng học 3 ca và phòng học tranh, tre,
nứa, lá . Riêng trong lĩnh vực GDMN, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX (42001) đã chỉ rõ: "Chăm lo phát triển GDMN, mở rộng hệ thống nhà trẻ và
trường lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt là ở nông thôn và những
vùng khó khăn". Đặc biệt ngày 15/11/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết
định số 161/2002/QĐ-TTg về một số chính sách phát triển GDMN. Trong quyết
định này, những vấn đề cơ bản của GDMN đã được định hướng và giải quyết
rõ : Vấn đề quy hoạch mạng lưới, chính sách đầu tư, chính sách đối với giáo
viên , trách nhiệm của các bộ,ngành, và uỷ ban nhân dân các cấp đối với nhiệm
vụ phát triển GDMN. Từ đó Bộ giáo dục đào tạo đã có công văn số
6290/BGD&ĐT-KHTC về triển khai công tác XHH trong ngành giáo dục và
đào tạo;Về phí địa phương UBND Tỉnh Kon Tum đã có Quyết định số
10/2007/QDD-UBND ngày 8/5/2007 phê duyệt đề án XHHGD Tỉnh Kon Tum
giai đọa 2006-2010 và công văn số 2408/UBND –VX ngày 28/11/2008 của
UBND Tỉnh Kon Tum về cơ chế thu XHHGD.
Dưới sự quyết tâm chỉ đạo của Chính phủ, với sự cố gắng triển khai của các địa
phương, sự nỗ lực to lớn của đội ngũ cán bộ, giáo viên, GDMN đã có những
bước khởi sắc đáng mừng. Tỷ lệ trẻ mẫu giáo ra lớp tăng đều trong những năm
qua.
Bên cạnh đó, ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục còn hạn chế. Kinh phí
của Nhà nước để đầu tư xây dựng trường lớp và thiết bị đồ dùng đồ chơi cho
GDMN hàng năm rất ít. Điều này tất yếu dẫn đến tình trạng phát triển GDMN
hết sức khó khăn.
Mặt khác, là mâu thuẫn giữa một mặt là yêu cầu của phổ cập giáo dục tiểu học
đòi hỏi phát triển với quy mô rộng lớn của lớp mẫu giáo 5 tuổi được chuẩn bị
vào tiểu học với một mặt là không đủ điều kiện để phát triển mà khó khăn trước
hết là cơ sở vật chất.
Muốn khắc phục những tồn tại hiện đang cản trở sự phát triển GDMN ở
Phường Lê Lợi thì phải thống nhất chỉ đạo theo chủ trương, đường lối của
Đảng, Nhà nước cụ thể là tăng cường nhận thức về XHHGDMN. Bởi có nhận
thức đúng thì hành động mới đúng. Mặt khác cơ sở hạ tầng của trường mầm non
Nắng Mai hiện đang là vấn đề bức xúc cần phải được tháo gỡ kịp thời.
2- Sự cần thiết phải XHHGDMN:
Với thực trạng trên, giáo dục mầm non của Phường Lê Lợi nói chung và trường
mầm non Nắng Mai nói riêng đang phải đối mặt với những thách thức to lớn đó
là; cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi phục vụ cho chăm
sóc giáo dục trẻ còn rất thiếu thốn và nghèo nàn; tỷ lệ học sinh trong độ tuổi
mầm non ra lớp thấp; Quy mô phát triển trường lớp thiếu đa dạng; nhận thức của
cha mẹ học sinh, cơ hội đi học mầm non nói riêng và sự chăm sóc - giáo dục trẻ
em nói chung còn hạn chế. Để giải quyết những bài toán trên, không có con
đường nào khác là cần phải có giải pháp thực hiện tốt chủ chương
XHHGDMN;huy động mọi nguồn lực đầu tư xây dựng trường lớp và đa dạng
hoá các loại hình trường lớp sao cho phù hợp với sự phát triển chung của thành
phố Kon Tum. Có như vậy GDMN phường Lê Lợi mới thực sự duy trì, ổn định
và phát triển.
Chương 3: Một số biện pháp thực hiện XHHGDMN tại Trường mầm non
trường mầm non. Thực hiện nhiệm vụ phổ cập trẻ 5 tuổi, nâng cao chất lượng
trẻ 5 tuổi chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ vào lớp một phổ thông. Qua đó để phụ
huynh hiểu rõ hơn về ngành học mầm non.
1.3. Huy động các lực lượng xã hội tham gia vào qua trình đa dạng hoá các
loại hình trường lớp.
Tham mưu với Chính quyền địa phương, tuyên truyền cho các tổ chức,
các doanh nghiệp, cá nhân thành lập các nhóm lớp mầm non dân lập, tư thục
trên địa bàn phường. Bởi các cơ sở giáo dục mầm non, dân lập và tư thục sẽ góp
phần quan trọng vào việc phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn Phường, tạo
điều kiện cho giáo dục phát triển mạnh mẽ hơn. Đó là các hình thức giáo dục
mà Nhà nước trong điều kiện khó khăn về kinh tế hiện nay chưa có khả năng
đảm nhiệm hết.
1.4. Huy động xã hội đầu tư các nguồn lực cho giáo dục:
Trong những năm qua mặc dù đầu tư của Nhà nước cho ngành giáo dục
không ngừng tăng, nhưng vẫn chưa đủ để giải quyết những yêu cầu cần phát
triển giáo dục về cả số lượng và chất lượng ngày càng tăng. Đặc biệt năm học
2008-2009 là năm học năm học đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ thông
tin, triển khai phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực"
trong mỗi nhà trường.
Phần lớn ngân sách giáo dục là để chi trả lương cho giáo viên, phần chi cho việc
xây dựng cơ sở vật chất ở các cơ sở giáo dục mầm non còn quá ít. Do đó mà cơ
sở trường lớp, thiết bị dạy học còn thiếu thốn trầm trọng, không đáp ứng được
yêu cầu chăm sóc giáo dục trẻ. Mặt khác đời sống nhân dân còn khó khăn, nhiều
con em nhà nghèo, không có điều kiện ăn học. Việc huy động các lực lượng đầu
tư cho giáo dục rõ ràng là một yêu cầu bức xúc hiện nay;
- Nhà trường đã huy động các lực lượng xã hội , hội phụ huynh học sinh đóng
góp nhân lực, vật lực để xây dựng cơ sở trường lớp, tăng cường trang thiết bị
- Tuyên truyền trực tiếp qua các hội nghị tư vấn các đoàn thể từ đó các tổ chức,
ban ngành nhận thức đầy đủ hơn về XHHGDMN.
- Đối với nhân dân: Tuyên truyền liên tục bằng nhiều hình thức; chào cờ đầu
tuần, các buổi họp Làng, họp tổ dân phố, các buổi họp phụ huynh học sinh, cử
giáo viên vào từng nhà vận động, viết bài trên đài truyền thanh của Phường để
nhân dân nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của
XHHGDMN, chủ động huy động trẻ đến trường, chủ động góp sức lực, trí tuệ
và nguồn lực để xây dựng môi trường học tập cho trẻ, thay đổi nhận thức của
nhân dân về GDMN.
- Tuyên truyền trực tiếp thông qua các buổi họp phụ huynh học sinh trong năm
học, các ngày Hội, ngày hội ngày lề trong trường mầm non, các Hội thi tuyên
truyền của ngành học do trường tổ chức.
- Nhà trường lập dự án kêu gọi đầu tư xây trường mầm non , tham mưu UBND
phường chủ trì mở hội nghị gặp mặt các doanh nghiệp trên địa bàn để tuyên
truyền chủ trương XHHGDMN , ủng hộ nhà trường xây dựng cơ sở trường lớp
đáp ứng nhu cầu phát triển GDMN ở địa phương.
2.2- Đa dạng hoá các loại hình nhóm, lớp:
Xuất phát từ thực tiễn hệ thống trường lớp còn mỏng , tỷ lệ học sinh huy động
chưa cao, loại hình tư thục phát triển chậm. Vì vậy, biện pháp đa dạng hoá các
loại hình trường lớp được đặt ra là :
- Củng cố các lớp mẫu giáo tại các tổ dân phố 1,2,4,5, và hai Làng đồng bào dân
tộc thiểu số của phường. Phát triển mở thêm nhóm trẻ và 4 lớp mẫu giáo bán trú
tại khu trung tâm làng Plêirơhai1.Song song với phát triển các lớp mẫu giáo,
nhóm trẻ của trường mầm non Nắng Mai, Tôi đã tham mưu với UBND phường
cấp giấy phép thành lập nhóm trẻ dân lập, tư thục ngoài công lập trên địa bàn
phường.
- Năm học 2004 - 2005, mở thêm 1 nhóm trẻ bán trú tại trường, năm học 20052006 và năm học 2006-2007 mở thêm 2 lớp MG bán trú tại trường và tham mưu
UBND phường cho phép thành lập nhóm trẻ dân lập thuộc Xí Nghiệp May Kon
+ Nghiên cứu kỹ các văn bản, chỉ thị, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà
nước về giáo dục mầm non. Phân tích rõ vai trò nhiệm vụ tầm quan trọng của
giáo dục mầm non.
+ Nói rõ yêu cầu mà nhà trường muốn giải quyết, những thuận lợi khó khăn và
nguyên nhân.
+ Tham mưu rõ cách làm; làm như thế nào? ai làm? ai tham gia phối hợp? phối
hợp như thế nào?các bước và thời gian tiến hành, kinh phí và những nguồn lực
khác? Đề xuất lớn hay nhỏ đều tôi đều phải bằng văn bản.
* Bí quyết để tham mưu thành công:
Để tham mưu thành công tôi hiểu đặc điểm của đối tượng để tham mưu cho
phù hợp,tranh thủ cơ hội thuận tiện và tham mưu đúng lúc và phải tham mưu
đến cùng và nhièu khi phải đấu tranh. Đồng thời các đề xuất được chuẩn bị
trước, có cơ sở khoa học, thực tiễn dựa trên đường lối chủ trương của Đảng có
tính khả thi.
*Hình thức tham mưu : - Thông qua các kỳ giao ban với Đảng uỷ, giao ban
UBND phường, qua Đại hội giáo dục,các hội nghị chuyên đề về công tác giáo
dục , các chương trình sơ kết, tổng kết của UBND phường, sơ kết tổng kết của
trường với những nội dung hoạt động về XHHGDMN.
- Đề xuất trực tiếp với các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương về
vai trò, nhiệm vụ của giáo dục mầm non, kế hoạch phát triển giáo dục mầm non
trên địa bàn, làm cho họ hiểu đây là trách nhiệm của cấp uỷ Đảng, chính quyền
địa phương trước nhân dân,từ đó các đồng chí dành sự quan tâm đến sự nghiệp
GD nói chung và GDMN nói riêng.
- Tuyên truyền qua đài truyền thanh của phường, các bảng tuyên truyền tại
trường, các buổi chào cờ đầu tuần tại tổ, làng đồng bào dân tộc.
- Hình thức tham mưu hiệu quả nhất là chỉ đạo nhà trường nâng cao chất lượng
giáo dục- chăm sóc trẻ và phải sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả các nguồn
lực huy động từ nhân dân.
hoàn thiện hàng rào sân chơi, nhà vệ sinh lớp MG tổ 4, mở rộng sân chơi, diện
tích đất ở khu trung tâm làng Plêirơhai 1; lập tờ trình xin chủ trương bán đấu
thầu diện tích đất tổ 5 không còn phù hợp với quy hoạch, đầu tư xây dựng hoàn
thiện lớp học tổ 5 theo quy hoạch mới.
- Năm 2009 -2010; Tiếp tục đầu tư xây dựng hàng rào, nhà vệ sinh tổ 5,
làng 2 tham mưu UBND phường giao thêm đất mở rộng diện tích sân chơi ở
điểm trung tâm và mở rộng hệ thống bán trú cho 1 lớp học sinh DTTS ở Làng
Plêirơhai 1. Đảm bảo các lớp học ở khu trung tâm đều được học bán trú tại
trường .
- Năm 2010 đến 2012 ; Tiếp tục huy động tạo mọi nguồn kinh phí đầu tư
hoàn thiện cơ sở vật chất, phòng học, khu hiệu bộ, bếp ăn 1 chiều ở điểm trung
tâm Làng 1 và xây dựng điểm trường mới tập trung 2 lớp MG tổ 4 và tổ 5 tại 1
điểm mới và xây dựng hoàn thiện điểm lớp MG tại làng 2 hoàn thành các điều
kiện để công nhận Trường mầm non Đạt Chuẩn Quốc gia vào năm 2012.
UBND phường có trách nhiệm qui hoạch và phát triển GDMN trong phạm vi
quản lý theo hướng tiết kiệm ngân sách , cùng với nhà trường vận động mọi
nguồn lực tăng cường xây dựng, sửa chữa cơ sở vật chất trường lớp cho các tổ
dân phố và làng đồng bào DTTS.
3- Kết quả thực hiện XHHGDMN:
Trong 5 năm thực hiện XHHGDMN đã đem lại kết quả bước đầu cho sự phát
triển GDMN của phường Lê Lợi. Các lực lượng xã hội tham gia ngày càng tích
cực vào việc huy động trẻ đến trường, huy động nguồn lực xây dựng CSVC,
đóng góp kinh phí hỗ trợ cho giáo dục ngày càng nhiều, dưới nhiều hình thức
khác nhau.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ, HĐND, UBND, cùng với sự nỗ lực của các
trường học trên địa bàn phường Lê Lợi, của nhân dân Lê Lợi, Giáo dục của
phường Lê Lợi đã có một thành tích đáng tự hào ; Một hệ thống giáo dục tương
đối hoàn chỉnh, thống nhất và đa dạng hoá đã được hình thành với đầy đủ các
tại các điểm lẻ với tổng kinh phí 70 triệu đồng.
- Năm học 2007-2008, trường tiếp tục lập dự án kêu gọi đầu tư xây dựng hoàn
thiện hệ thống trường mầm non bán trú tại khu trung tâm làng Plêirơhai1, tham
mưu với lãnh đạo Đảng, Chính quyền địa phương Hội đồng nhân dân phường,
mặt trận tổ quốc phường, tổ chức hội nghị gặp mặt các doạnh nghiệp đóng chân
trên địa bàn phường tuyên truyền công tác XHHGD kêu gọi viện trợ tiền của,
công sức, vật liệu xây dựng thêm lớp học ở khu trung tâm trường.
- Năm học 2008-2009 ; kêu gọi các tổ chức nhân dân ửng hộ xây dựng hoàn
thiện hàng rào, sân chơi, nhà vệ sinh lớp học mẫu giáo tổ 4 với tổng kinh phí
huy động xây dựng là 31.000.000 đồng; mở rộng sân bê tông, cổng trường:
21.000.000 đồng; xin UBND giao thêm quỹ đất mở rông diện tích điểm trường
trung tâm 3722m2 theo đúng diện tích trường chuẩn Quốc gia.
- Năm học 2009-2010: Tôi đã lập phương án huy động XHHGD từ phụ huynh
học sinh và những nhà hảo tâm tham mưu Hội đồng nhân dân phường – UBND
phường Lê Lợi phê duyệt và đã triển khai có hệu quả. Kết quả; đã huy động
được 29.000.000đồng cải tạo làm được 304m2 sân chơi ở điểm trung tâm và
MG tổ 5; mua đồ dung trang thiết bị học tập cho trẻ.
- Năm học 2010-2011; Tiếp tục lập phương án huy động XHHGD từ phụ huynh
để tiếp tục mở rộng sân chơi và mắc hệ thống nước máy đảm bảo nước sạch cho
sinh hoạt Bán trú của học sinh tại điểm trường chính . Kết quả đã huy động được
: 27.686.200 đồng; trong đó làm sân bê tông và mắc nước máy tại điểm trung
tâm là 13.036. 000 đồng; làm giếng nước tại MG tổ 5 với tổng Kinh phí
8000.000 đồng; trang bị đồ dùng học tập cho trẻ với tổng kinh phí : 6.650.200
đồng.Ngoài ra còn huy động được các đơn vị bộ đội ủng hộ công san ủi dọn cỏ
và trồng cây xanh tại sân trường; Ngoài ra Tổ chức Đông Tây Hội NGộ tài trợ
xây mới 2 phòng học kiên cố với tổng kinh phí 467.254.362 đồng và trang thiết
bị bên trong với Kinh phí 75 000.000 đồng .
* Về huy động trẻ ra lớp mầm non:
viên đứng lớp:6; nhân viên:1và hầu như không có giáo viên giỏi các cấp. Đến
năm 2010 -2011, trường có tổng số cán bộ, giáo viên, công nhân viên của trường
: 19 người, trong đó : CBQL: 2; Giáo viên đứng lớp: 12; nhân viên:5, đội ngũ
giáo viên giỏi các cấp đã tăng lên; GV giỏi cấp trường đạt 66,6%, GV giỏi cấp
Thành phố đạt 25%.có 2 chiến sĩ thi đua cấp cơ sở; 1 chiến sĩ thi nddua cấp
Tỉnh, 100% giáo viên được xếp loại khá tốt theo chuẩn Nghề nghiệp GVMN.
* Nhận thức về giáo dục:
Các tầng lớp nhân dân đã thấy rõ vị trí, vai trò to lớn của GD-ĐT là quốc sách
hàng đầu trong việc thúc đẩy KT-VH-XH phát triển theo định hướng XHCN, đã
quan tâm đến việc đến việc đưa con em ra lớp mầm non. Đảng ủy, HĐND,
UBND phường Lê Lợi đã xây dựng được Nghị quyết chuyên đề và kế hoạch
phát triển giáo dục giai đoạn 2005- 2010 phù hợp với phường Lê Lợi, cùng các
Chỉ thị, Nghị quyết về phổ cập trẻ em 5 tuổi , tăng cường phổ cập giáo dục tiểu
học - xoá mù chữ. Tiếp theo đó các chi bộ Đảng, tổ dân phố, các đoàn thể của
phường đã có những việc làm cụ thể và sát thực để vận động học sinh ra lớp và
đóng góp tiền của xây dựng trường. Từ năm học 2005-2006 đến nay cuộc vận
động "ngày toàn dân đưa trẻ đến trường" mồng 5 tháng 9 hàng năm đạt kết quả
tốt, huy động được tăng từ 50,3% năm học 2004-2005 lên 97% năm 20102011,số trẻ trong độ tuổi đến trường và tỷ lệ đi học chuyên cần của trẻ đạt 95100%, không còn tình trạng sau lễ Noen và tết Nguyên đán hàng năm là học
sinh dân tộc thiểu số bỏ học theo cha mẹ lê rẫy. Cũng từ đó UBND phường và
Hội cha mẹ học sinh đã xây dựng được quỹ khuyến học, giúp đỡ học sinh
nghèo, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, khen thưởng học sinh giỏi. Một số cá
nhân, đoàn thể,tổ dân phố đã phối hợp cùng với nhà trường làm tốt công tác
trên.
Nguyên nhân của những thành tựu trên là do các tầng lớp nhân dân phường Lê
Lợi đã vượt mọi khó khăn để chăm lo cho việc học tập của con em, nhận thức về
công tác giáo dục của đồng bào đã được nâng lên, phần lớn nhà giáo tận tuỵ với
nghề. Nhà trường đã tham mưu tích cực và hiệu quả cho Đảng, Chính quyền
phường Lê Lợi về những chủ trương, chính sách đúng đắn, kịp thời cho phát
mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân.
Nâng cao nhận thức, bồi dưỡng kiến thức cập nhật thông tin nắm những hiểu
biết mới cần thiết về chăm sóc giáo dục trẻ mầm non,làm chuyển biến trong mọi
cấp, mọi ngành,trường mầm non đến từng gia đình và tầng lớp nhân dân, giúp
họ định hướng đúng đắn, xác định rõ trách nhiệm, tham gia một cách tự giác
vào việc xây dựng, phát triển GDMN trong địa bàn phạm vi của mình.
6- Mang lại hiệu quả trong việc duy trì sĩ số, chống bỏ học, động viên trẻ đến
trường mầm non thực hiện tốt chủ trương phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi
chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp 1 nâng cao tỷ lệ phổ cập GD Tiểu học đúng độ tuổi.
7- Nhà trường đạt được chất lượng và hiệu quả trong công tác chăm sóc - giáo
dục trẻ,tạo niềm tin trong nhân dân đối với nhà trường và khi xã hội thấy hoạt
động của nhà trường đem lại hiệu quả thì các lực lượng xã hội sẽ tham gia, hoà
mình cùng GDMN.
Các biện pháp thực hiện XHHGDMN trên góp phần giải quyết những đòi hỏi
cấp bách trước mắt, vừa có tính lâu dài, tạo cơ sở cho các bước phát triển tiếp
theo của trường mầm non Nắng Mai. Tuy nhiên theo phạm vi của đề tài đây
mới chỉ là biện pháp giới hạn ở cấp cơ sở và áp dụng đối với GDMN phù hợp ở
phường Lê Lợi nơi trường mầm non Nắng Mai đóng chân. Song, nó cũng là
những biện pháp, cách làm gợi ý bước đầu cho các cán bộ quản lý trường học
đặc biệt là cán bộ quản lý trường mầm non trong công tác tham mưu, phối hợp
thực hiện XHHGDMN ở cơ sở nhất là đối với các xã, phường còn khó khăn
như Lê Lợi.
II- Kiến nghị: