Phát triển du lịch đồng bằng sông cửu long trong hội nhập quốc tế (tt) - Pdf 42

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành du lịch Việt Nam đang dần khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế
quốc dân, trong những năm qua ngành du lịch đã có những đóng góp quan trọng vào
quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong giai đoạn hội nhập quốc tế
khu vực và thế giới, du lịch Việt Nam đã và đang trở thành nghành kinh tế mũi nhọn,
góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, thúc đẩy quá
trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế sớm đưa Việt Nam trở thành nước
công nghiệp theo hướng hiện đại.
Nằm trong hệ thống du lịch của cả nước, với nhiều tiềm năng phát triển du lịch
Vùng ĐBSCL đã và đang tận dụng những lợi thế để phát triển du lịch trong hội nhập
quốc tế. Tầm quan trọng và chiến lược phát triển du lịch ĐBSCL đã được xác định
trong “Đề án phát triển du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đến năm
2020” đã được Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) phê duyệt
tại Quyết định số 803/QĐ-BVHTTDL ngày 9/3/2010. Trong thời gian qua du lịch
Vùng đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận: trong giai đoạn 2006-2015 lượng
khách du lịch đến vùng ĐBSCL tăng trung bình 11%/năm, trong đó khách du lịch
quốc tế tăng gần 8,5%/năm, khách du lịch nội địa tăng gần 12%/năm. Tổng thu từ
khách du lịch tăng trung bình 23,6%/năm. Năm 2015 vùng ĐBSCL đã đón hơn 12
triệu lượt khách, trong đó có hơn 1,8 triệu lượt khách du lịch quốc tế chiếm 8,27%
lượng khách quốc tế đến Việt Nam, đứng thứ 4 sau vùng Đông Nam bộ, Đồng bằng
Sông Hồng, Duyên hải Nam Trung Bộ và 10,63 triệu lượt khách nội địa (Nguồn
Tổng cục Du lịch Việt Nam, năm 2015). Tuy nhiên, du lịch vùng ĐBSCL vẫn đang
còn nhiều bất cập nên chưa phát huy được hết tiềm năng vốn có của Vùng. Vì vậy, để
khai thác và phát huy tiềm năng và thế mạnh của du lịch vùng ĐBSCL trong bối cảnh
hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu,
có cơ sở lý luận và thực tiễn, có tính khoa học để trả lời các câu hỏi: đâu là tiềm năng
và thế mạnh du lịch của Vùng, của từng địa phương trong Vùng? Làm sao để tránh
được việc trùng lắp trong xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch ở từng địa phương

ĐBSCL trong thời kỳ hội nhập.
- Hai là: Luận án phân tích rõ thực trạng phát triển các sản phẩm du lịch vùng
ĐBSCL, hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch, thực trạng cơ sở hạ tầng cho phát triển
du lịch của Vùng, hoạt động đào tạo nguồn nhân lực cho du lịch của Vùng, việc thu
hút đầu tư để phát triển du lịch của Vùng, vai trò quản lý của nhà nước đối với phát
triển du lịch của Vùng. Từ đó đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế và
tiềm năng cho phát triển du lịch của vùng ĐBSCL trong hội nhập quốc tế.
- Ba là: Luận án phân tích rõ tác động của hội nhập quốc tế đối với phát triển
du lịch vùng ĐBSCL, mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch với việc phát triển các sản
phẩm du lịch trên cơ sở lợi thế của Vùng để phát triển du lịch trong hội nhập quốc tế.
- Bốn là: Luận án đề xuất các chính sách và giải pháp có căn cứ khoa học, có
tính khả thi và có tính hiệu quả để phát triển du lịch vùng ĐBSCL trong quá trình hội
nhập quốc tế của Việt Nam.
5. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án
Chương 2: Cơ sở lý luận về du lịch và phát triển du lịch trong hội nhập
quốc tế
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và khung phân tích của luận án
Chương 4: Thực trạng phát triển du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long
trong hội nhập quốc tế
Chương 5: Định hướng, chính sách và giải pháp phát triển du lịch vùng
ĐBSCL trong hội nhập quốc tế


3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN
CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Nam” diễn ra tại Hà Nội, tháng 4/1998; Hội thảo “Xây dựng chiến lược Quốc gia về
phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam” được tổ chức vào tháng 9/1999, tại Hà Nội,
do Tổng cục Du lịch phối hợp với Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN) và
Ủy ban Kinh tế - Xã hội châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP); Diễn đàn Du lịch Á
Âu (ASEM 2008) lần thứ 3 với chủ đề “Tăng cường quan hệ đối tác Á Âu vì sự phát
triển du lịch bền vững” đã được tổ chức tại Việt Nam trong tháng 9/2008; Hội thảo
“Hoàn thiện nội dung sổ tay hướng dẫn du lịch sinh thái ở Việt Nam” tháng 5/2012;
Hội thảo “Du lịch xanh nhằm hướng tới phát triển du lịch Việt Nam bền vững” được
tổ chức tháng 4/2013 với sự phối hợp giữa dự án MEET-BIS và Tổng cục Du lịch,…
Xuất phát từ việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu đã có, tác giả đã xác định
những khoảng trống nghiên cứu liên quan đến đề tài để đưa ra hướng nghiên cứu
riêng. Ngoài ra, việc nghiên cứu phát triển du lịch vùng ĐBSCL không thể tách rời


4

mối liên kết với các địa phương trong Vùng, đồng thời cần được đặt trong trong xu
thế hội nhập quốc tế của Việt Nam.
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Các công trình nghiên cứu tiêu biểu của nước ngoài liên quan đến luận án được
tác giả tiếp cận nghiên cứu như:
Commonweath of Autralia (1991) nói về du lịch là động lực to lớn trong phát
triển kinh tế nhưng cũng có những tác động không tốt đến môi trường, văn hóa,… vì
vậy cần được quản lí chặt chẽ; Nghiên cứu của Clemmer (1991) viết về nhân tố thu
hút khách du lịch là sự hiếu khách của người làm du lịch và người dân bản xứ;
Nghiên cứu của Smith (1994); Theo Diabo (2003) Du lịch có quan hệ chặt chẽ với
các “giá trị thương mại”; Nghiên cứu của Altman và Finlayson (2003) và nhiều
nghiên cứu liên quan đến phát triển du lịch văn hóa cội nguồn; Nghiên cứu của
Altman và Finlayson (2003) cho rằng sự phát triển của du lịch đòi hỏi kỹ năng, trình
độ của người dân bản xứ như: Trình độ ngoại ngữ, kỷ luật, kỹ năng giao tiếp với

5

1.3.2. Những khoảng trống trong các công trình nghiên cứu về du lịch liên
quan đến luận án.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả không chỉ kế thừa những giá trị mà còn tìm
ra những khoảng trống trong các công trình nghiên cứu trước để bổ sung thêm từ đó
tạo nên những điểm mới trong bài nghiên cứu của mình, cụ thể: với các công trình
nghiên cứu hiện có vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về phát triển du
lịch vùng ĐBSCL trong hội nhập quốc tế, các công trình nghiên cứu dừng lại ở mức
độ tổng quát, hàn lâm chưa có nhiều khảo sát chi tiết nhằm phục vụ cho phát triển du
lịch vùng ĐBSCL, số lượng các công trình nghiên cứu còn ít. Việc nghiên cứu phát
triển du lịch Vùng chỉ tập trung ở các địa phương riêng lẻ, chưa nhấn mạnh được tầm
quan trọng của vấn đề liên kết giữa các địa phương trong vùng với các vùng khác và
vấn đề hội nhập quốc tế trong phát triển du lịch. Ngoài ra, các công trình nghiên cứu
liên quan chưa chỉ ra phải làm sao liên kết phát triển du lịch vùng ĐBSCL với các
tỉnh, thành phố phía Nam, với vùng duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, các vùng
phía Bắc, trong khu vực và thế giới, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội
từng địa phương, từng vùng, nhưng vẫn đảm bảo được sự thống nhất với chiến lược,
quy hoạch phát triển du lịch của Việt Nam. Từ những vấn đề đang bị bỏ ngỏ, tác giả
đã tiến hành nghiên cứu nhằm đóng góp thêm về mặt lý luận và thực tiễn trong hệ
thống các công trình nghiên cứu về phát triển du lịch ĐBSCL trong hội nhập quốc tế.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN DU
LỊCH TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
2.1 Dịch vụ du lịch và thị trường du lịch
2.1.1 Dịch vụ du lịch
Du lịch là một trong những lĩnh vực của ngành dịch vụ, nó mang những đặc
trưng chung của ngành dịch vụ, nhưng đồng thời cũng có những đặc điểm riêng mang
tính đặc thù. Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người khách đi du
hành, lưu trú, tạm trú với mục đích thăm quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm
hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và

phân công lao động xã hội còn mang tính chất tự nhiên, cùng với sự phát triển của
kinh tế thị trường, phân công lao động xã hội ngày càng phát triển, dẫn đến hình
thành các ngành chuyên môn hoá, từ đó hình thành các ngành - nông nghiệp, dịch vụ
và sự phân công lao động trong từng ngành cũng được phát triển, du lịch được ra đời
và phát triển cùng với sự phát triển của phân công lao động trong ngành dịch vụ. Như
vậy, kinh tế học Mácxít cho rằng chính sự phát triển của phân công lao động xã hội
dẫn đến sự ra đời và phát triển của ngành du lịch. Cũng giống như hàng hóa hữu
hình, hàng hóa dịch vụ du lịch trên thị trường cũng có hai thuộc tính cơ bản là giá trị
và giá trị sử dụng. Giá cả của các sản phẩm du lịch được biểu hiện thông qua trao đổi,
mua bán trên thị trường và cũng tuân theo yêu cầu của qui luật giá trị, qui luật cung
cầu, qui luật cạnh tranh và các quy luật kinh tế khác của nền kinh tế thị trường.
2.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch trong hội nhập
quốc tế
Từ năm 1994, khi Việt Nam bắt đầu quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Ban Bí
thư đã ban hành Chỉ thị số 46-CT/TW về “Phát triển du lịch trong tình hình mới”
nhằm đưa ra các quan điểm chỉ đạo cho phát triển du lịch trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế. Năm 1998, khi hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam diễn ra mạnh
mẽ, Bộ Chính trị đã họp bàn chuyên đề về phát triển du lịch và ban hành “Thông báo
Kết luận số 179-TB/BCT” trong đó nêu rõ ý kiến chỉ đạo: cần tập trung, đẩy mạnh
phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng của đất nước. Trong những năm gần đây
nhà nước đã ban hành nhiều văn bản thể hiện chủ trương, chính sách của nhà nước
trong phát triển du lịch: Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 về “xây dựng và
phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất
nước”; Nghị quyết số 92/NQ-CP ngày 8/12/2014 “Về một số giải pháp đẩy mạnh
phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới”; Pháp lệnh Du lịch, 2/1999 cũng đã
xác định: Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hóa
sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát triển du lịch nhằm đáp
ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế,
góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
“Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030” được Thủ

lưu văn hóa giữa các cộng đồng dân cư trong và ngoài nước, du lịch phát triển góp
phần xây dựng ý thức bảo vệ môi trường và phát triển các kĩ năng mềm, việc phát
triển du lịch còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
2.4 Phát triển du lịch trong hội nhập quốc tế
2.4.1 Thuận lợi
Hội nhập quốc tế là việc gắn kết giữa thị trường trong nước với thị trường khu
vực và thế giới thông qua việc thực hiện mở cửa và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế,
cùng với việc gia nhập và góp phần xây dựng các thể chế kinh tế khu vực và toàn
cầu. Trong hội nhập quốc tế sâu rộng sẽ góp phần phát triển du lịch đây là vấn đề tất
yếu và mang tính khách quan. Du lịch là cầu nối giao lưu văn hóa giữa các nước, tạo
sự thân thiện, hợp tác giữa các nước, củng cố, mở rộng các mối quan hệ kinh tế quốc
tế. Du lịch là “hộ chiếu đi đến hòa bình”, làm tăng uy tín và vị thế của quốc gia trên
thị trường thế giới, đồng thời tham gia sâu rộng vào thị trường quốc tế (Tuyên bố
Manila về Du lịch). Hội nhập quốc tế đòi hỏi du lịch phải từng bước hiện đại hóa, hệ
thống hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch. Đến lượt nó, du lịch phát triển làm
cho hội nhập quốc tế của các quốc gia càng đi vào chiều sâu, hiệu quả và thu hẹp
khoảng cách phát triển giữa các nước.
2.4.2 Khó khăn và thách thức
Tuy nhiên việc hội nhập bên cạnh những mặt thuận lợi còn có nhiều khó khăn,
thách thức. Trước hết là thách thức trong năng lực cạnh tranh đặc biệt ở các nước
đang phát triển. Vấn đề lớn nhất trong hội nhập chính là việc giữ gìn và phát huy bản


8

sắc văn hóa dân tộc, bởi lẽ hội nhập là nơi giao thoa của các nền văn hóa khác nhau,
tạo điều kiện thuận lợi để các nước trao đổi và làm giàu thêm các giá trị văn hóa quốc
gia, tuy nhiên nếu không có nền tảng vững chắc sẽ làm phai nhạt bản sắc văn hóa của
dân tộc.
Trong thời gian qua, Việt Nam đã và đang trên con đường hội nhập quốc tế

3.3 Khung phân tích sự phát triển của du lịch ĐBSCL trong hội nhập quốc tế
Từ việc phân tích tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên
cứu, tác giả đã xác định các căn cứ để xây dựng mô hình nghiên cứu về các nhân tố
tác động đến phát triển du lịch ĐBSCL trong hội nhập quốc tế, bao gồm các yếu tố:
Phát triển sản phẩm du lịch; Phát triển thị trường, xúc tiến quảng bá và thương hiệu
du lịch; Đầu tư cho phát triển du lịch, Phát triển nguồn nhân lực du lịch; Hợp tác


9

quốc tế về du lịch; Đảm bảo môi trường sinh thái; Đảm bảo an ninh, an toàn trong
phát triển du lịch; Quản lí nhà nước về du lịch.
Mô hình các nhân tố tác động đến phát triển của du lịch Đồng bằng sông Cửu
Long trong hội nhập quốc tế
Phát triển sản phẩm du lịch
Phát triển thị trường, xúc tiến và
quảng bá thương hiệu du lịch
Đầu tư cho phát triển du lịch
Phát triển nguồn nhân lực du lịch
Hợp tác quốc tế về du lịch

Phát triển du
lịch ĐBSCL
trong hội
nhập quốc tế

Đảm bảo môi trường sinh thái
Đảm bảo an ninh, an toàn trong phát
triển du lịch
Quản lý nhà nước về du lịch

Giai đoạn 2000 – 2015
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Địa
phương
Kiên Giang
Tiền Giang
Vĩnh Long
Trà Vinh
Long An
Cần Thơ
Bến Tre
Sóc Trăng
Bạc Liêu
Cà Mau
Đồng Tháp
An Giang
Hậu Giang
Tổng
% so với
cả nước
Cả nước

2000
42,900
49,790
26,870
6,700
4,410
79,740
32,030

83,850
73,500
28,930
84,650
9,780

248,245
64,922
66,629
45,748
53,494
304,929
134,400
60,746
109,070
192,000
170,330
163,213
47,410

334,908
93,989
80,368
48,301
73,530
435,970
151,600
114,574
132,765
203,500

67,790

491,346
108,897
117,658
65,125
112,231
537,579
201,879
263,869
232,295
243,342
115,356
308,776
64,080

515,913
114,342
123,541
68,381
117,823
564,458
211,973
277,062
243,910
255,510
121,124
324,215
67,284


11.479,3

30.000

96.000

130.000

160.000

200.000

230.000

337.830

Nguồn: Tổng cục thống kê, Tổng cục du lịch, Hiệp hội du lịch ĐBSCL, 2016
Hệ thống cơ sở vật chất đã và đang được chú trọng đầu tư tại các địa phương, cơ
sở lưu trú ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng. Kèm theo đó các điểm vui
chơi giải trí, cơ sở ăn uống cũng phát triển đáp ứng được nhu cầu của du khách. Hệ
thống giao thông đường bộ, đường thủy, đường hàng không đã và đang được nâng
cấp để đáp ứng sự phát triển du lịch của Vùng. Vì vậy, số lượng khách du lịch đến
Đồng bằng sông Cửu Long nhờ vậy cũng đã tăng trưởng và hiện (2015) đạt gần 20
triệu lượt khách/ năm, trong đó có gần 1,5 triệu khách quốc tế, điều này đã tạo tiền đề
để du lịch Đồng bằng sông Cửu Long phát triển mạnh hơn trong tương lai khi hội
nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.


11


151,000

163,000

153,000

153,000

161,000

Tiền Giang

144,000

319,000

402,000

414,000

479,000

458,000

459,000

482,000

Vĩnh Long


6,260

6,573

Long An

0,740

1,120

4,592

5,010

5,556

6,705

7,020

7,371

Cần Thơ

60,580

104,840

163,835


2,470

4,380

5,945

7,015

10,890

17,559

17,470

18,344

Bạc Liêu

3,370

6,000

10,714

12,093

15,290

16,231


5,814

6,908

6,675

14,729

15,465

An Giang

14,000

30,000

47,400

44,500

51,534

56,885

60,195

63,205

Hậu Giang



1.137,112

1.187,405

1.248,489

16.95

21.81

17.67

16.86

16.40

15.01

15.08

15.72

2.140,100

3.477,500

5.049,855

6.014,032

6
7

8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32

Điểm du lịch

Nhà lưu niệm Bác Tôn
Đình Châu Phú
Làng Chăm
KIÊN GIANG
Hòn phụ tử - Chùa Hang
Đình Nguyễn Trung Trực
Chùa Sắc Tứ Tam Bảo
Thạch Động
Mũi Nai
Hòn Đất
Phú Quốc

Địa chỉ

Nội dung

Tân An
Huyện Mộc Hoá
Huyện Tân Hưng

Thăm quan, nghiên cứu lịch sử
Thăm quan, nghiên cứu
Thăm quan, thắng cảnh

TP Mỹ Tho
Huyện Gò Công
H. Đồng Tâm
Huyện Cái Bè

Thăm quan, tâm linh

Tp. Cần Thơ

Thăm quan lịch sử
Thăm quan sinh thái, miệt vườn
Thăm quan, nghiên cứu
Thăm quan

Huyện Tri Tôn
TP Long Xuyên
Thị xã Châu Đốc
Thị xã Châu Đốc

Thăm quan lịch sử
Thăm quan di tích lịch sử
Thăm quan di tích
Thăm quan, nghiên cứu

Huyện Hà Tiên
Rạch Giá
Rạch Giá
Thị xã Hà Tiên
Thị xã Hà Tiên
Huyện Hòn Đất
Huyện Phú quốc

Thăm quan, lễ hội
Thăm quan lịch sử
Thăm quan, tâm linh
Thăm quan, nghiên cứu
Nghỉ dưỡng tắm biển

Để tạo điều kiện cho du lịch phát triển vùng ĐBSCL, các dự án quan trọng trong
lĩnh vực kết cấu hạ tầng, nhiều hạng mục cho phát triển du lịch vùng ĐBSCL đã được
đầu tư phát triển, nguồn vốn đầu tư này đã góp phần quan trọng vào phát triển du lịch
vùng ĐBSCL. Kinh phí đầu tư cho phát triển du lịch vùng ĐBSCL được huy động cả
trong và ngoài nước. Tuy nhiên, so với cả nước và một số vùng khác thì nguồn vốn
đầu tư cho phát triển du lịch vùng ĐBSCL còn chiếm tỷ lệ thấp.
4.2.4. Thực trạng nguồn nhân lực cho phát triển lịch vùng ĐBSCL
Con người luôn đóng một vai trò quan trọng trong các hoạt động kinh tế, cũng
như du lịch nói riêng. Hiểu được điều này nên trong thời gian qua ĐBSCL luôn chú
trọng đến việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội và
du lịch. Chính vì vậy, nguồn nhân lực của Vùng cũng như nguồn nhân lực cho ngành
du lịch đã được cải thiện đáng kể về số lượng, chất lượng và cơ cấu, góp phần cho sự
phát triển kinh tế - xã hội và du lịch của vùng ĐBSCL.
Trong những năm gần đây, mặc dù nguồn nhân lực cho phát triển du lịch của
Vùng đã có những bước phát triển nhất định nhưng còn nhiều bất cập thiếu về số
lượng, cơ cấu ngành nghề chưa hợp lí, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu
cầu phát triển ngành du lịch trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Nguồn nhân lực cho phát triển du lịch vùng ĐBSCL chưa được đào tạo chuyên môn
nghiệp vụ một cách có hệ thống, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và ngoại ngữ chưa
đáp ứng được nhu cầu cho phát triển du lịch của Vùng trong hội nhập quốc tế.
4.2.5 Tác động của hội nhập quốc tế với sự phát triển du lịch vùng ĐBSCL
Sự phát triển của du lịch không nằm ngoài quy luật khách quan của quá trình
toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, hơn thế nữa, với đặc điểm là ngành kinh tế “liên


14

ngành, liên vùng và xã hội hóa cao”, sự phát triển du lịch không thể bó hẹp trong một
lãnh thổ “khép kín” mà luôn vươn ra khỏi phạm vi hành chính một địa phương, một
quốc gia, một khu vực. Quá trình hội nhập quốc tế đã tạo ra sự liên kết giữa các điểm

danh nghĩa du lịch để thực hiện các hoạt động thu thập tình báo, móc nối gây cơ sở,
hoạt động tôn giáo trái pháp luật; tình trạng người nước ngoài du lịch tại đây hoạt
động sai mục đích nhập cảnh, vi phạm quy chế quản lý tạm trú và các vi phạm pháp
luật khác diễn ra khá phổ biến… một số hiện tượng tiêu cực khác như: ăn xin, bán
hàng rong không đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm, nạn trộm cắp, hoạt động của
một số băng, nhóm tội phạm trong Vùng, cũng làm ảnh hưởng đến sự an toàn, an
ninh trong phát triển du lịch của Vùng ĐBSCL.
4.2.8 Thực trạng quản lý nhà nước cho phát triển lịch vùng ĐBSCL
Công tác quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch của Vùng chậm được đổi
mới. Luật Du lịch và các luật liên quan, hệ thống văn bản pháp quy hướng dẫn thi
hành luật còn thiếu đồng bộ, chưa huy động được các nguồn lực cho phát triển du lịch
của Vùng. Nhiều chính sách còn chồng chéo trói chân lẫn nhau. Việc quản lý nhà


15

nước về du lịch vẫn còn những hạn chế, bất cập cụ thể như trong các lĩnh vực: vệ sinh
môi trường, đảm bảo chất lượng sản phẩm, ứng dụng những công nghệ mới trong
hoạt động du lịch, đảm bảo vệ sinh thực phẩm và trong tuyên truyền quảng bá sản
phẩm du lịch... Bộ máy quản lý nhà nước về du lịch còn cồng kềnh chưa được hiện
đại hóa so với tốc độ phát triển ngày càng nhanh của ngành du lịch vùng ĐBSCL.
Phương thức tổ chức và quản lý ngành du lịch vùng ĐBSCL còn nhiều bất hợp lý, cơ
chế phối hợp giữa các ban ngành liên quan đến du lịch chưa rõ ràng, còn có sự chồng
chéo. Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành chưa được hình thành,
hợp chuẩn khu vực và quốc tế. Bộ máy của ngành du lịch vùng ĐBSCL đã có đổi
mới nhưng chưa thực sự phát huy hiệu lực, hiệu quả. Một trong những hạn chế quan
trọng trong quản lí có ảnh hưởng lớn đến phát triển du lịch ĐBSCL là việc chưa tạo
được sự liên kết du lịch giữa các địa phương trong Vùng, sản phẩm du lịch đặc thù ở
mỗi địa phương chưa được xác định rõ nên xảy ra hiện tượng trùng lắp tạo nên sự
cạnh tranh trong nội bộ Vùng.

5.1 Xu hướng phát triển du lịch thế giới, khu vực và Việt Nam tác động đến phát
triển du lịch vùng ĐBSCL trong hội nhập quốc tế
5.1.1 Xu hướng phát triển của du lịch thế giới và khu vực
Ngành du lịch thế giới thật sự bắt đầu phát triển mạnh từ giữa thế kỷ thứ XX.
Mặc dù ra đời muộn hơn các ngành khác nhưng du lịch lại phát triển với tốc độ nhanh
hơn và được coi là ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều nước, không chỉ tạo ra GDP
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mà còn tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác phát
triển. Theo dự báo của Tổ chức Du lịch thế giới đến năm 2020, ngành du lịch toàn
cầu sẽ phát triển mạnh mẽ, số lượng khách du lịch quốc tế sẽ tăng nhanh đạt khoảng
1,602 tỷ lượt người vào năm 2020. Doanh thu từ hoạt động du lịch toàn cầu sẽ đạt
khoảng 2.000 tỷ USD. Thế kỷ XXI sẽ hình thành các trào lưu du lịch mới như: du
lịch tìm hiểu các nền văn hóa trên thế giới, du lịch khám phá, mạo hiểm và du lịch
xanh đang là xu thế được nhiều du khách lựa chọn.
5.1.2 Xu hướng phát triển du lịch của Việt Nam trong hội nhập quốc tế
Du lịch Việt Nam hiện nay cũng đang hòa mình vào dòng chảy của du lịch thế
giới, là quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam có lợi thế về vị trí địa lí,
kinh tế, chính trị và tài nguyên du lịch. Trong giai đoạn 2008-2009 mặc dù thế giới
chịu tác động của khủng hoảng kinh tế nhưng ngành du lịch Việt Nam vẫn thu hút
mạnh mẽ du khách quốc tế. Xu hướng phát triển của du lịch của Việt Nam trong thế
kỷ XXI sẽ là: Du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch kết hợp du lịch hội nghị
(MICE), du lịch khám phá, du lịch lễ hội; du lịch kết hợp nghỉ ngơi với tham quan,
thăm thân nhân, bạn bè hoặc kết hợp với đi hành hương sẽ có chiều hướng tăng; hình
thức du lịch nghỉ ngơi giải trí cuối tuần cũng sẽ tăng; du lịch tham quan kết hợp với
giáo dục sẽ phổ biến, hình thức du lịch tham quan kết hợp với cổ động trong các cuộc
thể thao tranh cúp quốc tế hoặc du lịch kết hợp với công tác ở nước ngoài cũng tăng;
du lịch kết hợp mua sắm, chữa bệnh, du lịch xanh, về các miền sông nước. Là một
trong những thành viên của khối ASEAN, Việt Nam cũng đang hội nhập vào xu thế
phát triển du lịch của khu vực.
5.2 Định hướng và mục tiêu phát triển du lịch ĐBSCL trong hội nhập quốc tế
5.2.1 Định hướng phát triển du lịch ĐBSCL trong hội nhập quốc tế

động trong lĩnh vực du lịch, trong đó có khoảng 200.000 lao động trực tiếp.
- Về thu nhập du lịch, giá trị GDP du lịch và nhu cầu đầu tư: Năm 2020 thu
nhập xã hội từ hoạt động du lịch đạt khoảng 1.400 triệu USD, giá trị GRDP du lịch
của Vùng đạt khoảng 860 triệu USD. Năm 2030 thu nhập xã hội từ hoạt động du lịch
đạt khoảng 3.000 triệu USD, giá trị GRDP du lịch của vùng đạt khoảng 1.200 triệu
USD.
- Đầu tư cho du lịch giai đoạn 2016-2020 khoảng 970 triệu USD. Giai đoạn
2021 – 2030 khoảng 2.300 triệu USD.
Du lịch của Vùng được phân chia thành các cụm chính sau:
- Cụm thứ nhất bao gồm: Thành phố Cần Thơ, tỉnh An Giang, Kiên Giang và
Hậu Giang, chủ yếu khai thác sản phẩm du lịch với mục đích thương mại, du lịch lễ
hội và đặc biệt là sản phẩm du lịch tham quan sông nước.
- Cụm thứ hai là bán đảo Cà Mau gồm: Tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu và Sóc Trăng,
với các sản phẩm du lịch quan trọng là du lịch sinh thái tại các khu rừng ngập mặn và
du lịch văn hóa, du lịch lễ hội gắn với lễ hội văn hóa của dân tộc Khmer tại Sóc
Trăng.
- Cụm thứ ba là duyên hải phía Đông gồm: Tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh
Long và Trà Vinh, khai thác du lịch khám phá di tích lịch sử cách mạng, du lịch sông
nước, du lịch miệt vườn và du lịch thăm quan làng nghề.
- Cụm thứ tư là Đồng Tháp Mười gồm: tỉnh Long An và Đồng Tháp với sản
phẩm chủ đạo là du lịch sinh thái khám phá Tràm Chim và sản phẩm tham quan các
khu rừng đặc dụng ngập nước.
- Đặc biệt Phú Quốc sẽ phát triển thành đặc khu kinh tế mở của cả nước kết hợp
với du lịch nghỉ dưỡng biển cao cấp, kết hợp với các hoạt động giải trí như casino,
các loại hình văn hoá nghệ thuật đặc trưng của Vùng.
Về các tuyến du lịch của Vùng được chia thành: tuyến du lịch đường bộ (thành
phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ – Cà Mau), tuyến du lịch đường hàng không (với 4 sân
bay Cần Thơ, Phú Quốc, Rạch Giá và Cà Mau), tuyến du lịch đường sông (Các tuyến
dọc sông Hậu và sông Tiền cùng với các tuyến đường sông nối với thành phố Hồ Chí
Minh) và tuyến du lịch đường biển (Cảng An Thới ở Phú Quốc).

5.3.2 Chính sách và giải pháp phát triển thị trường, xúc tiến quảng bá
thương hiệu cho phát triển du lịch ĐBSCL
- Chính sách: Mở rộng thị trường khách quốc tế trong đó tập trung vào khu vực
Đông Nam á, Đông Bắc Á, thị trường Tây Âu; Phối hợp với các quốc gia trong vùng
quảng bá “Du lịch Mekong” trong đó có ĐBSCL như một điểm đến hấp dẫn trên bản
đồ du lịch khu vực và thế giới; Đa dạng hóa các loại sách, báo, ấn phẩm tuyên truyền
về du lịch của Vùng với nhiều hình thức và nội dung phong phú; Tận dụng những lợi
thế của công nghệ thông tin để đẩy mạnh e-marketing cho du lịch ĐBSCL; Xây dựng
một số tour du lịch đặc sắc của vùng ĐBSCL.
- Giải pháp thực hiện: Trước hết cần xác định thị trường mục tiêu trong phát triển
du lịch của Vùng, xác định đúng đối tượng khách du lịch và lên kế hoạch tiến hành
xúc tiến cách cụ thể, rõ ràng qua từng giai đoạn và từng thị trường nhất định; Chuyên
nghiệp hóa các hình thức xúc tiến, quảng bá du lịch, trọng tâm của chiến lược quảng
bá tập trung vào các thị trường mục tiêu và các sản phẩm du lịch tiêu biểu gắn liền
với thương hiệu du lịch của vùng kết hợp với quảng bá hình ảnh du lịch quốc gia;
Đẩy mạnh quảng bá “Du lịch Mekong” trong đó có ĐBSCL như một điểm đến hấp
dẫn trên bản đồ du lịch khu vực và thế giới; xây dựng hình ảnh du lịch ĐBSCL thống
nhất, hấp dẫn để giới thiệu đến du khách trong và ngoài nước; Các địa phương trong
Vùng cần tăng cường phối hợp để xây dựng và phát triển thương hiệu du lịch du lịch


19

của Vùng; Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về du lịch cho
người dân trong Vùng; đa dạng hóa các loại sách, báo, ấn phẩm tuyên truyền về du
lịch của Vùng với nhiều hình thức và nội dung phong phú.
5.3.3 Chính sách và giải pháp đầu tư và thu hút vốn đầu tư cho phát triển
du lịch vùng ĐBSCL.
- Chính sách: Quy hoạch phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng cho phát triển du lịch
giữa các địa phương trong Vùng, phát triển hệ thống giao thông kết nối với TP. HCM

đủ về kiến thức, các kĩ năng cần thiết và thái độ phục vụ đáp ứng được từng nghiệp
vụ cụ thể trong lĩnh vực du lịch của Vùng thông qua các giải pháp chính sau: Đẩy
mạnh xã hội hóa trong công tác đào tạo; Mời các chuyên gia nước ngoài về tập huấn
nghiệp vụ cho người đang hoạt động trong lĩnh vực du lịch tại ĐBSCL; Xây dựng và
hoàn thiện cơ chế, chính sách về phát hiện và bồi dưỡng, sử dụng nguồn nhân lực du
lịch của Vùng; Chú trọng duy trì và phát triển hệ thống cơ sở đào tạo, dạy nghề và cơ
sở nghiên cứu về du lịch của vùng ĐBSCL; Huy động các nguồn vốn cho phát triển
nhân lực ngành Du lịch vùng ĐBSCL.


20

5.3.5 Chính sách và giải pháp phát triển du lịch vùng ĐBSCL trong hội
nhập quốc tế
- Chính sách: Liên kết mở các tour du lịch đến ĐBSCL với các quốc gia khu
vực Bắc Mỹ, Tây Âu, Đông Bắc Á; Liên kết hợp tác phát triển du lịch giữa vùng
ĐBSCL với các nước ASEAN và Trung Quốc; Xúc tiến, ký kết hợp tác và phối hợp
phát triển du lịch giữa ĐBSCL với các tổ chức du lịch quốc tế, các nước trong khu
vực và với các quốc gia riêng lẻ.
- Giải pháp thực hiện: Quá trình liên kết, hợp tác quốc tế về du lịch của vùng
ĐBSCL trong thời gian tới, cần tập trung theo hướng: Đẩy mạnh liên kết, hợp tác
phát triển du lịch vùng ĐBSCL với các tổ chức du lịch quốc tế và các quốc gia phát
triển; Liên kết, hợp tác với các quốc gia trong khu vực; Thúc đẩy việc liên kết hợp tác
tiểu vùng sông Mekong du lịch ĐBSCL; Liên kết sự phát triển du lịch chung của
vùng Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ cũng như của du lịch cả nước.
5.3.6 Chính sách và giải pháp bảo vệ môi trường, sinh thái trong phát triển
du lịch vùng ĐBSCL
- Chính sách: Ban hành chính sách về bảo tồn và phát triển hệ sinh thái tự nhiên
trong Vùng, có cơ chế đặc thù để bảo vệ một số vùng có hệ sinh thái đặc sắc như
Tràm Chim, hệ sinh thái sông nước, hệ sinh thái biển Phú Quốc; Xử phạt nghiêm


trạng trộm cắp, cướp giật, ăn xin, nạn chèo kéo khách,...tạo môi trường an ninh cho
du khách khi đến vùng ĐBSCL; Phối hợp với các ngành chức năng tăng cường phòng
chống tệ nạn xã hội, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn cho du khách và bảo vệ môi
trường du lịch vùng ĐBSCL; Tuyên truyền, vận động người dân trong Vùng tham gia
tích cực vào việc đảm bảo an ninh, quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân,
vừa góp phần giữ vững an ninh, quốc phòng trong Vùng ĐBSCL vừa thúc đẩy sự
phát triển của du lịch trong Vùng; Đầu tư phát triển hệ thống giao thông trên các
tuyến biên giới, xây dựng, nâng cấp các đồn, trạm biên phòng trong Vùng, kết hợp
với xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong Vùng, phát triển các khu dân cư và hạ
tầng kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ biên giới, hải đảo vùng ĐBSCL; Kết hợp phát
triển kinh tế du lịch gắn với đảm bảo an ninh quốc phòng; Nâng cao hiểu biết, nhận
thức và trách nhiệm của người dân về các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà
nước, bài trừ các tệ nạn xã hội như mê tín dị đoan, tảo hôn,…
5.3.8 Chính sách và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý để phát triển du
lịch vùng ĐBSCL trong hội nhập quốc tế
- Chính sách: Cần có cơ chế phối hợp giữa Chính phủ, các bộ ngành liên quan
với chính quyền các địa phương trong vùng ĐBSCL để phát triển du lịch. Phát huy
vai trò của Hiệp hội du lịch Vùng ĐBSCL, kết nối giữa các địa phương, các doanh
nghiệp hoạt động du lịch trong Vùng; Mỗi địa phương trong Vùng cần cử một phó
chủ tịch tỉnh chuyên trách theo dõi, quản lý, phối hợp các hoạt động du lịch trong
Vùng. Kịp thời tháo gỡ những khó khăn trong hoạt động du lịch; Thường xuyên tập
huấn cho cán bộ quản lý hoạt động du lịch trong Vùng để nâng cao trình độ và hiệu
quả quản lý.
- Giải pháp thực hiện: Có sự phối hợp giữa các Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch với các bộ, ngành Trung ương và các địa phương trong vùng để nghiên cứu, đánh
giá toàn diện, đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống về thực trạng và tiềm năng phát triển
du lịch vùng ĐBSCL; Tăng cường sự liên kết vùng trong phát triển du lịch; Hình
thành Ban Điều phối phát triển du lịch vùng ĐBSCL để thực hiện vai trò nhạc trưởng
cho các hoạt động liên kết phát triển du lịch trong vùng; Nghiên cứu sửa đổi bổ sung

trên địa bàn vùng ĐBSCL, hỗ trợ đầu tư cho các điểm du lịch trọng yếu của Vùng để
thu hút du khách trong và ngoài nước; Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, thực hiện
tốt cơ chế "một cửa"; Hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm thúc đẩy phát triển
du lịch.
Kiến nghị Chính phủ và Bộ ngoại giao: Nghiên cứu miễn thị thực Visa nhập
cảnh cho một số quốc gia thân hữu, đối tác của Việt Nam với thời gian dài hơn, hợp
lý hơn và chi phí thấp để thu hút khách quốc tế. Tạo thuận lợi và rút ngắn thời gian
cấp visa, thị thực cho khách du lịch quốc tế.
Kiến nghị đối với Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Thúc đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu
tư Nhà nước do Bộ trực tiếp quản lý vào vùng ĐBSCL nhằm hỗ trợ cho phát triển du
lịch.
Kiến nghị với Bộ Tài nguyên và Môi trường: Cần bổ sung các quy định về phân
loại tỷ lệ sử dụng đất đối với các dự án khu du lịch vùng ĐBSCL, để làm cơ sở tính
toán tiền thuê đất hợp lý phù hợp với cơ chế thị trường, đảm bảo lợi ích của Nhà
nước, nhà đầu tư và người dân.
5.4.2 Kiến nghị đối với các địa phương trong vùng ĐBSCL
Đối với các địa phương trong Vùng cần nâng cao hiệu quả quản lý của các sở
văn hóa, thể thao và du lịch, phối hợp tốt giữa sở văn hoá – thể thao và du lịch của
các địa phương trong vùng ĐBSCL với Hiệp hội du lịch ĐBSCL. Xây dựng quy
hoạch, chiến lược phát triển du lịch của các địa phương phải gắn với chiến lược phát
triển du lịch của toàn Vùng, có những quy định về diện tích tối thiểu đối với một dự
án trong các khu du lịch vùng ĐBSCL, phù hợp với từng loại hình khu du lịch và
từng địa bàn theo định hướng phát triển du lịch của từng địa phương.
Nâng cao nhận thức của chính quyền các địa phương trong Vùng về tầm quan
trọng của phát triển du lịch. Chú trọng xây dựng hệ thống thông tin quản lí du lịch
của các địa phương trong Vùng và Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hiệp hội du lịch
vùng ĐBSCL trong việc phối hợp, liên kết và phát triển các hoạt động du lịch trong
Vùng, đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế.



về thị trường, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, văn hóa, xã hội,…cho ngành du lịch.
Nghiên cứu phát triển du lịch của Vùng không chỉ phục vụ cho hoạt động du
lịch của Vùng mà còn là căn cứ để phát triển các mô hình liên kết với các Vùng du
lịch lân cận nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Luận án
đánh giá một cách khoa học tiềm năng du lịch của Vùng về điều kiện tự nhiên, văn
hóa, xã hội, kinh tế để ĐBSCL phát triển du lịch. Đây là cơ sở khoa học cho việc xây
dựng các chiến lược phát triển du lịch có tính bền vững phù hợp với điều kiện của
Vùng.
Phân tích cụ thể từ đó đưa ra những đánh giá toàn diện về thực trạng phát triển
du lịch vùng ĐBSCL giai đoạn 2000-2015. Phân tích những đóng góp tích cực của
ngành du lịch đối với tăng trưởng kinh tế, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa
đói giảm nghèo cũng như giải quyết vấn đề việc làm cho người dân. Bên cạnh đó
đánh giá tác động của du lịch trong hội nhập kinh tế trên một số mặt. Từ những phân
tích trên cũng giúp đánh giá được những mặt mạnh, mặt yếu và nguyên nhân, nêu lên
những cơ hội và những thách thức trong quá trình phát triển du lịch của ĐBSCL từ đó


24

có một cái nhìn khách quan và tổng quát nhằm đưa ra những giải pháp phù hợp và sát
với thực tế tình hình phát triển du lịch của Vùng.
Luận án đã xác định những định hướng, mục tiêu và các giải pháp cho phát triển
du lịch vùng ĐBSCL đến năm 2025 và tầm nhìn 2030, dựa trên cơ sở nghiên cứu dự
báo tình hình xu hướng phát triển của du lịch thế giới, du lịch của vùng Châu Á –
Thái Bình Dương và Việt Nam. Dự báo đóng góp của ngành du lịch vào tốc độ tăng
trường GDP, tỷ trọng GDP du lịch, đóng góp vào nguồn thu ngân sách, phát triển cơ
sở vật chất, thu hút nguồn lao động ở vùng ĐBSCL. Từ thực trạng đã được phân tích,
luận án đề xuất các giải pháp phát triển một cách toàn diện, trên cơ sở mô hình: khối
liên kết ngành, liên kết các doanh nghiệp, liên kết các cơ quan quản lí nhà nước về du
lịch trong điều phối và tổ chức thực hiện. Bên cạnh các chính sách và giải pháp để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status