MỞ ĐẦU
Trong thế giới văn minh ngày nay, các quốc gia đều đang nỗ lực xây dựng
một xã hội dân chủ, tiến bộ, đem lại cuộc sống tiện nghi, đầy đủ không chỉ cho
người dân trong nước, mà còn cho cả những người không phải công dân của nước
mình. Nói cách khác, muốn đưa đất nước phát triển giàu mạnh thì cần bảo đảm
phát triển quyền con người. Song, quyền con người lại hiện hữu trong nhiều lĩnh
vực của đời sống. Bảo vệ và phát triển quyền con người không đơn thuần chỉ là cải
thiện mức sống hoặc nâng cao trình độ nhận thức cho mọi người. Quyền con người
cũng cần phải được tôn trọng trên phương diện chính trị - pháp lý, đặc biệt là trong
lĩnh vực tố tụng hình sự - nơi mà quyền con người dễ bị xâm hại. Do đó, các nhà
nước dân chủ đều tìm cách để hoàn thiện bộ máy tư pháp, nhất là hệ thống cơ quan
tố tụng hình sự một cách tiến bộ hơn, hiệu quả hơn.
Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó của thế giới. Ngòai việc tham
gia và cam kết thực hiện hầu hết các văn kiện quốc tế về quyền con người, chúng ta
còn nhận quyền con người trong Hiến pháp và pháp luật. Trong bối cảnh Việt Nam
đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08 ngày
02/01/2002 của Bộ Chính trị, việc áp dụng các qui định trong tố tụng hình sự để
bảo đảm quyền con người còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc thì viện kiểm sát đã
cho thấy vai trò ngày một quan trọng của mình trong việc bảo vệ quyền con người,
góp phần thực hiện thành công mục tiêu chiến lược của công cuộc cải cách tư pháp.
Vì lý do đó, người viết quyết định lựa chọn đề tài: “Vai trò bảo vệ quyền con người
của Viện kiểm sát qua hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư
pháp trong giai đoạn điều tra” làm bài tiểu luận.
I.
KHÁI QUÁT CHUNG
1. Khái niệm quyền con người
1
Hà Nội, Hà Nội, 2011, tr.37
2 Nguyễn Thị Phương Nga, Viện kiểm sát với vai trò bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận
văn thạc sỹ, Hà Nội, 2014, tr.10
2
quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Tiếp nối tinh thần của Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Hồ Chí Minh, “cha đẻ”
của Hiến pháp nước VNDCCH năm 1946, lại một lần nữa thể hiện tinh thần nhân
văn sâu sắc qua việc ghi nhận các giá trị con người, các quyền cơ bản về dân chủ
và dân sinh, các quyền tự do cá nhân, tự do tín ngưỡng ở bản hiến pháp đầu tiên
của dân tộc. Xuyên suốt chiều dài lịch sử, trải qua nhiều thăng trầm và biến đổi của
hoàn cảnh địa – chính trị, quyền con người vẫn luôn được thể hiện sâu sắc qua các
bản hiến pháp tiếp theo của Việt Nam từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến các bản
Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 (sửa đổi và bổ sung năm 2001) và đặc biệt là
Hiến pháp năm 2013.
Nội dung của Quyền con người cùng với Quyền công dân trong Hiến pháp
2013 được qui định cụ thể tại Chương II với 30 Điều. Nhưng, tinh thần bảo vệ
Quyền con người của bản Hiến pháp này được thể hiện rõ nhất tại Điều đầu tiên
của Chương II. Cụ thể, Điều 14 Hiến pháp 2013 đã trịnh trọng khẳng định:
“1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người,
quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn
trọng bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo qui định của
luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an
toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.
Nhiệm vụ bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát nhân được ghi nhận tại
khoản 3 Điều 108 Hiến pháp 2013: “Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ
quyền tự do và an ninh thân thể đối với con người đã Nhà nước xây dựng khá đầy
4
đủ và hoàn chỉnh, tạo thành một hệ thống các quy phạm pháp luật áp dụng trên diện
rộng để hướng tới mục tiêu bảo vệ các giá trị con người.
Trong lĩnh vực tư pháp và xét xử, quyền tự do và an ninh thân thể của công
dân còn được thể hiện khá rõ nét. Khi tham gia tố tụng, công dân là bị cáo có quyền
mời luật sư tham gia bào chữa ngay khi bị bắt và bị giam giữ. Cụ thể Điều 11
BLTTHS quy định: “người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc
nhờ người khác bào chữa. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo
đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo
quy định của Bộ luật này”. Bên cạnh đó, mọi công dân sẽ đều được xét xử công
bằng và công khai bởi một tòa án có thẩm quyền. được lập ra theo quy định của
pháp luật…
3. Quyền con người trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014
Chức năng, nhiệm vụ bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân
không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp và BLTTHS mà còn được qui định ngay
trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân của ngành kiểm sát. Ngay tại khoản 2
Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã nêu rằng: “Viện kiểm sát
nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được được chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.
Khoản 2 Điều 3 và khoản 2 Điều 4 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân làm
rõ hơn nội dung của khoản 2 Điều 2, trong đó có nội dung về bảo vệ quyền con
người. Cụ thể, viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm:
“Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy
CHỨC NĂNG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA VIỆN KIỂM SÁT
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA
6
Ở Việt Nam, Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất được giao chức năng thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Hoạt động công tố và kiểm
sát điều tra được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án hình sự và trong suốt quá trình
điều tra các vụ án hình sự.
Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra
và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người
vô tội; không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các
quyền con người, quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự
do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật; việc điều tra được khách quan,
toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá
trình điều tra được phát hiện kịp thời; khắc phục và xử lý nghiêm minh; việc truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can phải có căn cứ và đúng pháp luật.
Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có
nhiệm vụ, quyền hạn: Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều
tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; đề ra
yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra; khi xét thấy cần
thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật;
yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của
pháp luật; nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình
sự; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và
các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn
các quyết định của Cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật. Trường hợp
không phê chuẩn thì trong quyết định không phê chuẩn phải nêu rõ lý do; huỷ bỏ
làm rõ căn cứ khởi tố bị can trước quyết định việc phê chuẩn hay huỷ bỏ quyết định
khởi tố bị can. Quyết định khởi tố vụ án chỉ là một bước để khởi động quá trình
điều tra sự thật của vụ án và chưa trực tiếp gây ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của
bất kỳ cá nhân, tổ chức nào. Nhưng quyết định khởi tố bị lại tác động trực tiếp và
tức thì tới những quyền lợi cụ thể của cá nhân người bị tình nghi, bị can. Do đó,
8
pháp luật tụng hình sự không qui định việc khởi tố vụ án phải có sự phê chuẩn của
Viện kiểm sát, nhưng để bảo bảo vệ quyền con người thì quyết định khởi tố bị can
buộc phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát. Nếu hết thời hạn tạm giữ vẫn không
đủ căn cứ phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với người đang bị tạm giữ thì
Viện kiểm sát ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can và yêu cầu cơ quan
đã khởi tố bị can trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
2. đối việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn.
Trước đây, BLTTHS năm 2003 đã qui định mọi trường hợp bắt người đều
phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, tuy nhiên cũng có những ngoại lệ, tức là
không phải xin phê chuẩn trước khi bắt, đó là: bắt quả tang, bắt người đang bị truy
nã và bất khẩn cấp. Qui định này của BLTTHS 2003 đã làm nảy sinh hiện tượng
nhiều trường hợp cơ quan điều tra viện lý do trong tình thế khẩn cấp để áp dụng
lệnh bắt khẩn cấp một cách tùy tiện, thiếu thận trọng, dẫn đến xâm phạm quyền con
người, quyền công dân. Do đó, để ngăn chặn hiện tượng tiêu cực nêu trên, cũng
như để bảo vệ quyền con người tốt hơn, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung qui định:
bắt người bị giữ trong trường khẩn cấp. Nếu qua nghiên cứu hồ sơ, chứng cứ có
trong hồ sơ chưa thể hiện rõ căn cứ để bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
thì Viện kiểm sát có quyền không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp. Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên phải trực tiếp gặp, hỏi người bị giữ
trong trường hợp khẩn cấp trước khi xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết
định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Trong thời
3. Đối với các biện pháp điều tra như: khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư
tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, và các biện pháp biện pháp điều tra tố
tụng đặc biệt.
Nếu xét thấy hồ sơ không đủ căn cứ để áp dụng các biện pháp điều tra khám
xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư tín, bưu phầm thì Viện kiểm sát ra quyết định
không phê chuẩn lệnh khám xét của Cơ quan điều tra. Các điều 193 và 197
BLTTHS năm 2015 đã qui định rõ: các lệnh khám xét phải được Viện kiểm sát
10
phê chuẩn trước khi thi hành. Đồng thời, Điều tra viên phải thông báo cho Viện
kiểm sát cùng cấp về thời gian và địa điểm tiến hành khám xét để cử Kiểm sát
viên kiểm sát việc khám xét, trừ trường hợp khám xét khẩn cấp.
Quyền phê chuẩn các lệnh khám xét của Viện kiểm sát trong luật tố tụng
hình sự chính là nhằm đảm bảo thực hiện quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời
sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, danh dự, uy tín của mỗi con người,
đã được ghi nhận trong Hiến pháp.
BLTTHS 2015 là một bộ luật có nhiều điểm mới, trong đó phải kể đến các
biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, gồm: ghi âm, ghi hình bí mật; nghe điện thoại
bí mật; thu thập bí mật dữ liệu điện tử. Để đảm bảo khi tiến hành các biện pháp
điều tra tố tụng đặc biệt, Cơ quan điều tra không xâm phạm đến quyền con người,
cụ thể là quyền bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, danh dự
uy tín... mọi quyết định áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải được
Viện kiểm sát phê chuẩn trước khi thi hành. Nếu nhận thấy không có hoặc không
đủ đủ căn cứ để áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, cũng như việc áp
dụng các biện điều tra tố tụng đặc biệt này trái theo quy định của pháp luật, xâm
phạm đến quyền con người, quyền công dân thì Viện kiểm sát có quyền không phê
chuẩn quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Nếu xét thấy các
biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt không còn cần thiết, Viện kiểm sát có quyền
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, hoặc khi cần thiết phải nhận dạng người
hay đồ vật, Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên tiến hành việc đối chất hoặc nhận
dạng.
Thêm nữa, Viện kiểm sát còn có thể trực tiếp tiến hành một số hoạt động
điều tra trong trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn
lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội
phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không
được khắc phục hoặc trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết
định việc truy tố.
12
Không chỉ vậy, trong quá trình kiểm sát điều tra, khi xác định thuộc trường
hợp bắt buộc phải có người bào chữa theo quy định tại khoản 1 Điều 76 BLTTHS
2015 mà người bị buộc tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người
bào chữa, thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (trong có Viện kiểm sát)
phải chỉ định người bào chữa cho họ.
Sau khi nhận được kết luận điều tra cùng hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra
chuyển sang, nếu có một trong những căn cứ xác định bị can không phạm tội; bị
can phạm tội nhưng thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại và
người bị hại không yêu cầu hoặc rút yêu cầu hoặc có căn cứ để miễn trách nhiệm
hình sự đối với bị can thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án.
Với nhiệm vụ, quyền hạn và các biện pháp thực hiện trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự, Viện kiểm sát vừa là người quyết định việc truy tố người phạm tội
trước Tòa án để xét xử, bảo đảm nguyên tắc, bất cứ hành vi phạm tội nào xâm
phạm đến quyền con người đều phải được phát hiện, xử lý trước pháp luật, vừa
bảo đảm các hoạt động điều tra, các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người bị
tình nghi, bị can, bị cáo được tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Như vậy, sự
tham gia của Viện kiểm sát trong giai đọan điều tra vụ án hình sự để thực hành
92,65%. VKS không phê chuẩn 96 lệnh bắt khẩn cấp; hủy quyết định tạm giữ và
không phê chuẩn gia hạn tạm giữ đối với 345 người; không phê chuẩn lệnh tạm
giam và lệnh bắt tạm giam 405 bị can; không gia hạn tạm giam 37 bị can; yêu cầu
Cơ quan điều tra bắt tạm giam 48 bị can, góp phần bảo đảm việc bắt, tạm giữ, tạm
giam đúng các quy định của pháp luật. Nhiều địa phương có số người bị bắt, tạm
giữ chuyển khởi tố hình sự đạt tỉ lệ cao như: Bình Định, Hải Dương, Cao Bằng,
Sóc Trăng, Hà Giang, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Hưng Yên, Hải Phòng… [3-48]3
VKSND các cấp đã nắm vững, đánh giá đúng, kịp thời các diễn biến của tình
hình tội phạm xảy ra và thông qua việc kiểm sát phân loại xử lý của các Cơ quan
điều tra đã phát hiện tình trạng bỏ sót, bỏ lọt nhiều vụ việc có dấu hiệu tội phạm để
yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố điều tra hoặc VKS ra quyết định khởi tố. Theo
báo cáo của VKSND tối cao thì năm 2011 VKSND các cấp thực hành quyền công
tố và kiểm sát điều tra 87.667 vụ/141.073 bị can, tăng 8.823 vụ/17.329 bị can so
3 Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Báo cáo chuyên đề “Xác định vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát
hoạt động xét xử”, Hà Nội, Tháng/2013 .
14
với năm 2010. Cơ quan điều tra đã xử lý 71.337 vụ/114.907 bị can, đạt tỷ lệ
81,37% số vụ. Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã giải quyết được 61.788
vụ/109.226 bị can, trong đó quyết định truy tố 61.227 vụ/107.940 bị can, chiếm tỷ
lệ 98,9% số vụ đã giải quyết.4
Về chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra hình
sự, trong lĩnh vực kiểm sát việc khởi tố còn để xảy ra những tình trạng bỏ sót, bỏ
lọt tội phạm hoặc khởi tố không đúng pháp luật, có nhiều trường hợp bị khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử oan, sai khi chưa đầy đủ dấu hiệu của tội phạm, gây ra
nhiều hậu quả đáng tiếc, làm ảnh hưởng tới quyền lợi ích hợp pháp của công dân.
Năm 2011, qua việc thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, VKSND các cấp
đã hủy 237 quyết định khởi tố bị can không có căn cứ, tăng 31 bị can và yêu cầu
nghiệp cách mạng của Đảng, dũng cảm đấu tranh bảo vệ công lý và pháp chế xã
hội chủ nghĩa, có tinh thần trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp;
Cần có kế hoạch quy hoạch cán bộ và kế hoạch đào tạo, thường xuyên và kịp
thời trang bị những kiến thức về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xã hội, kiến thức
về khoa học pháp lý để cán bộ, kiểm sát viên nắm vững chính sách pháp luật, thực
hiện có hiệu quả công tác kiểm sát. Hàng năm có kế hoạch cử các Kiểm sát viên
biệt phái sang một số cơ quan, đơn vị hoặc cử những cán bộ xuất sắc sang tập huấn
nghiệp vụ tại một số nước (ví dụ như Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức…) để
trang bị thêm kiến thức, nghiệp vụ phục vụ công tác nghiệp vụ ngành kiểm sát sau
này;
Kiểm sát viên được pháp luật bảo đảm vị thế, Kiểm sát viên là người đại diện
cho lợi ích công và hoạt động độc lập. Không bị lệ thuộc hay phụ thuộc vào bất kỳ
cơ quan, tổ chức nào, để bảo đảm các hoạt động của Kiểm sát viên được vô tư,
khách quan và đúng quy định của pháp luật.
2.2 Đổi mới phương thức quản lý
Về công tác chỉ đạo, điều hành cũng phải đổi mới. Chúng ta cần tiến hành
đồng bộ các giải pháp sau:
Tăng cường, bổ sung nhân lực để thực hiện tốt công tác quản lý, điều hành
các hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát. Đảm bảo việc
thường xuyên cử cán bộ xuống cơ sở để trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ cho
16
cán bộ kiểm sát viên cấp dưới trong công tác thực hiện chức năng nhiệm vụ của
mình.
Tăng cường hoạt động quản lý nghiệp vụ, kiểm tra và gắn hoạt động của
mình với VKS địa phương. Các đơn vị nghiệp vụ của VKSND tối cao phải tăng
cường đến với cơ sở, nắm bắt kịp thời tình hình để hướng dẫn về nghiệp vụ, tháo
gỡ khó khăn, vướng mắc cho cơ sở.
sự. Trách nhiệm của các cá nhân khi để xảy ra sai sót hoặc truy tố sai hoặc kết tội
oan người vô tội, các biện pháp sử lý đối với những vi phạm đó, trách nhiệm Viện
kiểm sát thực hành quyền công tố nhà nước và kiểm sát hoạt động tư pháp.
Hàng năm, tiến hành các phiên họp liên ngành để bàn bạc thống nhất tháo gỡ
vướng mắc bất cập trong hoạt động của mình, phối hợp giải quyết án điểm, tổ chức
phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp.
Bên cạnh đó, cũng cần xây dựng quy định phối hợp giữa Cục Điều tra và Vụ
Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự với các nội dung: Trách
nhiệm tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; trách
nhiệm phối hợp trong việc thực hiện công tác chuyên môn; trao đổi thông tin về
tình hình vi phạm, tội phạm trong lĩnh vực tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình
sự; tổ chức các cuộc họp, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, quy định về các biện
pháp xử lý đối với những hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình xử lý tố giác,
tin báo về tội phạm. Với mục đích tăng cường trách nhiệm và nâng cao chất lượng,
hiệu quả công tác tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
trong lĩnh vực tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự và công tác kiểm sát việc tạm
giữ, tạm giam và thi hành án hình sự.
18
KẾT LUẬN
VKSND là một cơ quan tư pháp quan trọng trong TTHS, là cơ quan tiến
hành tố tụng. Chức năng của VKS trong TTHS là thực hành quyền công tố và kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS. Thông qua các hoạt động của mình, VKS
đã góp phần bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá
nhân, cơ quan, tổ chức trong pháp luật TTHS. Việc bảo vệ quyền con người của
VKS trong TTHS thể hiện trên hai phương diện: Một là đấu tranh chống tội phạm,
phát hiện kịp thời để đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật đối với người phạm
tội xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp, trong đó có quyền của con người.
của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát hoạt động xét xử”, Hà Nội. 48
20