CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO
(ĐGCG) CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1
Đầu tư quốc tế:
1.1.1.1. Khái niệm về đầu tư quốc tế
Đầu tư quốc tế là một quá trình trong đó có sự di chuyển vốn từ quốc gia này
sang quốc gia khác để thực hiện các dự án đầu tư nhằm đưa lại lợi ích cho các bên
tham gia.
Với khái niệm đầu tư quốc tế như thế, cho thấy mục tiêu của sự chuyển dịch vốn
ra nước ngoài chính là lợi nhuận, cho nên ý nghĩa thực tiễn của khái niệm này là:
-
Đối với nhà doanh nghiệp đóng vai trò là người tìm đối tác đầu tư nước ngoài
cùng hợp tác làm ăn với mình thì họ phải sẵn có trong tay dự án đầu tư mang tính khả
thi cao, có như vậy mới tạo ra được sự quan tâm của đối tác.
-
Đối với doanh nghiệp khi đóng vai trò là nhà đầu tư ra nước ngoài thì trước khi
chuyển vốn ra nước ngoài phải nghiên cứu kỹ: môi trường đầu tư ở nước sở tại (nơi mà
doanh nghiệp lựa chọn để đầu tư) và sự tác động đến khả năng sinh lời của dự án; tính
rủi ro của môi trường đầu tư.
-
Đối với Chính phủ muốn tăng cường thu hút vốn đầu tư quốc gia mình thì phải
tạo ra môi trường đầu tư mang tính cạnh tranh cao ( so với với môi trường đầu tư của
triển kinh tế trong nước.
1.1.1.3. Các hình thức đầu tư quốc tế
1.1.1.3.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình
thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết
lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản
lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
Đặc điểm của hình thức đầu tư trực tiếp:
-
Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu hoặc tối đa tùy
theo quy định của luật đầu tư từng nước, ví dụ như luật đầu tư Việt Nam quy định “số
vốn góp tối thiểu của của phía nước ngoài phải bằng 30% vốn pháp định của dự án”.
-
Quyền điều hành doanh nghiệp phụ thuộc độ góp vốn của chủ đầu tư trong vốn
pháp định.
-
Lợi nhuận các chủ đầu tư có được phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh
và tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định của doanh nghiệp.
Các hình thức đầu tư trực tiếp:
-
Đóng góp vốn để xây dựng xí nghiệp mới.
-
ra đầu tư.
-
Số vốn mua cổ phần ở một chủ đầu tư bị hạn chế.
-
Đầu tư dưới hình thức tiền tệ.
Hình thức đầu tư rất đa dạng: trái phiếu, cổ phiếu, công cụ phái sinh….
1.1.1.3.3 Hình thức tính dụng quốc tế
Về thực chất đây cũng là hình thức đầu tư gián tiếp nhưng nó có những đặc
điểm riêng, cho nên trong thực tế, hình thức này vẫn được phân loại như một loại hình
độc lập.
Tính dụng quốc tế là hình thức đầu tư dưới dạng cho vay vốn và kiếm lời thông
qua lãi suất tiền vay.
Đây là hình thức chủ yếu vì nó có những ưu điểm sau đây:
-
Vốn chủ yếu dưới dạng tiền tệ, dễ dàng chuyển thành các phương tiện đầu tư
khác.
-
Nước tiếp nhận đầu tư toàn quyền sử dụng vốn cho các mục đích riêng rẽ của
mình.
-
Chủ đầu tư nước ngoài có thu nhập ổn định thông qua lãi suất, số tiền này không
-
Muốn sử dụng vốn phải có dự án và được thẩm định bởi nhiều bên.
-
Việc triển khai dự án phải có sự giám sát hiệu quả đầu tư về phía bên cho vay và
bên nước nhận nợ vay.
1.1.1.3.4 Vai trò của đầu tư quốc tế:
1.1.1.3.4.1 Đối với các nước xuất khẩu vốn:
-
Giúp củng cố vai trò chính trị và vị thế kinh tế của nước đầu tư trong khu vực và
trên thế giới. Nền kinh tế quốc gia sẽ có điều kiện thuận lợi thâm nhập sâu hơn vào nền
kinh tế thế giới, thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước đầu tư.
-
Khi nước đầu tư xuất khẩu vốn sẽ làm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và công
nghệ vì khi đó, họ có thể khai thác tối đa nguồn vốn và công nghệ này tại các nước
nhận đầu tư. Bên cạnh đó, nước đầu tư còn có thể giảm chi phí xuất khẩu tới thị trường
nước đầu tư, tận dụng được lợi thế của nước nhận đầu tư.
-
Thông qua hoạt động đầu tư ra nước ngoài, quốc gia sẽ có thêm nguồn nguyên
liệu, nhiên liệu… phục vụ cho sự phát triển kinh tế trong nước. Các doanh nghiệp
nước ngoài là điểm đến của hàng hóa, thiết bị, bí quyết công nghệ (y khoa, chế biến
thực phẩm…), nhân công...
1.1.1.3.4.2 Đối với nước tiếp nhận vốn đầu tư:
Hiện nay, dòng chảy của tư bản quốc tế vào hai khu vực chính: các nước tư bản
phát triển và các nước chậm và đang phát triển. Đối với cả hai khu vực này, đầu tư
quốc tế đều có vai trò quan trọng đặc biệt.
a. Đối với các nước tư bản phát triển như Mỹ và Tây Âu:
Đầu tư của nước ngoài có ý nghĩa quan trọng như các chuyên gia kinh tế của
Mỹ sau khi nghiên cứu hiện tượng Nhật Bản đầu tư ồ ạt vào Mỹ (từ 1951 đến 1991,
Nhật Bản đã đầu tư 148.6 tỷ USD vào Mỹ, chiếm 42.4% tổng số vốn đầu tư của Nhật
Bản ra nước ngoài) đã đưa ra nhận định việc đầu tư của Nhật Bản đem lại nhiều cái lợi
cho nên kinh tế Mỹ hơn là mặt hại, những cái lợi đó là:
-
Giúp giải quyết những vấn đề khó khăn về kinh tế xã hội trong nước như: thất
nghiệp, lam phát…
-
Việc mua lại những công ty, xí nghiệp có nguy cơ bị phá sản giúp cải thiện tình
hình thanh toán, tạo công ăn việc làm mới cho người lao động.
-
Tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình bội chi
ngân sách của Mỹ.
-
Giúp các nhà doanh nghiệp Mỹ học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của Nhật
kiện tiếp nhận kĩ thuật, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài.
1.1.1.3.4.3 Đối với doanh nghiệp:
-
Đầu tư ra nước ngoài giúp các doanh nghiệp thâm nhập sâu vào thị trường thế
giới, tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt hơn, nhờ đó mà nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
-
Đầu tư ra nước ngoài giúp mở rộng thị trường do khi xuất khẩu ra nước ngoài,
các doanh nghiệp có thể gặp phải những rào cản của nước tiếp nhận đầu tư nhưng khi
xuất khẩu thông qua đầu tư trực tiếp lại không gặp phải trở ngại này ngoài ra còn được
hưởng những ưu đãi từ nước tiếp nhận đầu tư.
-
Đầu tư ra nước ngoài giúp các doanh nghiệp tăng nội lực kinh doanh: tích lũy
kinh nghiệm trên thương trường quốc tế; học hỏi tiếp thu công nghệ và bí quyết công
nghệ; sử dụng đội ngũ quản lý và khoa học kỹ thuật bản xứ… và áp dụng những thành
công ở nước ngoài vào hoạt động kinh doanh của công ty mẹ trong nước.
-
Đầu tư ra nước ngoài tạo ra khả năng cho doanh nghiệp thực hiện “chuyển giá”
để giảm thiểu mức thuế đóng góp cho toàn bộ hệ thống công ty ở các nước khác nhau.
Nhờ đó mà tối đa hóa lợi nhuận thu được.
-
Chảy máu chất xám, sự mất vị thế độc quyền về công nghệ cũng như nguyên
nhân chuyển vốn ra nước ngoài để đầu tư.
-
Tạo ra thị trường cạnh tranh với sản xuất và kinh doanh trong nước.
1.1.1.3.5.2
-
Đối với nước nhập khẩu vốn đầu tư:
Lợi dụng có sự chênh lệch về trình độ phát triển công nghệ kỹ thuật giữa các
nước, những nước có trình độ phát triển cao hơn khi đầu tư ra nước ngoài ở một số dự
án họ chuyển công nghệ cũ, lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường.
-
Bị thất thu thuế do có sự “chuyển giá” ở các công ty đa quốc gia, mà sự kiểm
soát hiện tượng “chuyển giá” rất khó khăn.
-
Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác kiệt quệ vì mục tiêu thu hồi vốn nhanh và
lợi nhuận của các nhà đầu tư.
-
Các nhà đầu tư nước ngoài thông qua các dự án FDI cạnh tranh gay gắt với các
2009
2010
Đầu tư trực tiếp
Đầu tư gián tiếp
Tổng đầu tư Tốc độ tăng trưởng
Tổng đầu tư
Tốc độ tăng trưởng
801.7
22.2
9662
13.8
954.8
19.1
10317
7. 2
1222.5
22.0
11450
11.0
1285.3
4.9
12639
10.4
1407.3
5.1
13888
9.9
1470.6
4.5
cao, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở nước ngoài. Chính vì lý do này, hiện tại và
tương lai, đầu tư quốc tế gián tiếp vẫn là hình thức đầu tư cơ bản trên toàn cầu.
Năm
Tổng đầu tư
Trong đó
FDI
FII
2004
100 %
7.69 %
92.31 %
2005
100 %
8.47 %
91.53 %
2006
100 %
9.65 %
90.35 %
2007
100 %
9.23 %
90.77 %
2008
100 %
phát triển để khai thác tài nguyên của các nước này với tư cách là thuộc địa, thì sau
chiến tranh thế giới thứ 2, khu vực Tây Âu là nơi thu hút nhiều vốn đầu tư nhất. Thời
gian này, Tây Âu thu hút đến 158 tỷ USD vốn đầu tư, trong đó phân nửa là vốn đầu tư
của Mỹ nhằm khôi phục lại Châu Âu sau chiến tranh thế giới. Ngày nay, các nước công
nghiệp phát triển vẫn là vùng thu hút vốn đầu tư nhiều nhất: năm 1999, các nước công
nghiệp phát triển chiếm 76.5% tổng số vốn đầu tư FDI của thế giới, là 865 tỷ USD.
Trong khi đó, các nước đang phát triển chiếm ¾ dân số thế giới, chỉ chiếm 23.5% vốn
9
đầu tư FDI, khoảng 192 tỷ USD. Trong những năm gần đây và dự báo trong những
năm tới, tỷ trọng FDI vào các nước công nghiệp phát triển sẽ giảm, nhưng vẫn chiếm
tỷ trọng cao so với các nước đang phát triển.
Sở dĩ các nước công nghiệp phát triển thu hút nhiều vốn FDI là do:
-
Làn sóng hợp nhất, thôn tính các công ty quốc tế diễn ra chủ yếu ở các nước
phát triển.
-
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã làm tích tụ và tập trung các ngành công
nghiệp mũi nhọn ở các nước tư bản phát triển như ngành bán dẫn vi điện tử, ngành
công nghệ sinh học, sản xuất người máy... Lợi nhuận siêu ngạch thu được từ các ngành
này đã tạo ra lực hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu tư quốc tế.
-
Các nước công nghiệp phát triển được xem là thị trường có khả năng tiêu thụ và
954.8
1222.5
1285.3
1407.3
1470.6
1541.2
Tỷ trọng
Đầu tư vào các nước
Đầu tư vào các nước
phát triển
Giá trị
Tỷ trọng
đang phát triển
Giá trị
Tỷ trọng
(%)
(%)
100
485.6
60.57
100
555.6
58.19
100
36.94
36.45
10
Nguồn: UNCTAD- World Investment Prospects to 2010 (IMF)
1.1.2
1.1.2.1
Khái niệm về ĐGCG
Khái niệm:
Định giá chuyển giao là việc sử dụng các phương pháp để xác định giá cả của
các nghiệp vụ chuyển giao trong nội bộ một MNC phù hợp với thông lệ quốc tế và
được chấp nhận bởi các quốc gia nơi mà các công ty con của MNC đang hoạt động.
Việc định giá chuyển giao là cần thiết cho công tác quản trị của các thành viên
trong các MNC, nhưng khi giá chuyển giao nội bộ cao hơn hay thấp hơn giá thị trường
thì xảy ra hoạt động chuyển giá, đồng thời đây cũng là phương pháp giúp chính phủ
xác định xem các MNC có thực hiện chuyển giá hay không.
1.1.2.2
Các phương pháp định giá chuyển giao:
1.1.2.2.1 Phương pháp giá tự do có thể so sánh được (Comparable Uncontrolled
Price Method - CUP):
Nội dung: so sánh giá cả phải trả cho các hàng hoá hoặc dịch vụ được chuyển
giao trong một nghiệp vụ chuyển giao có kiểm soát với giá cả phải trả cho các hàng
hoá và dịch vụ chuyển giao trong một nghiệp vụ chuyển giao tự do có thể so sánh
được.
Nếu công ty này chỉ sản xuất và thực hiện mua bán theo hợp đồng cho chỉ mỗi
công ty mẹ và không gia công cho bất cứ công ty nào khác thì phần lợi nhuận tăng
thêm này sẽ được tính theo một tỷ lệ trên giá vốn sao cho hợp lý.
-
Nếu công ty sản xuất ra sản phẩm vừa bán cho công ty mẹ và công ty độc lập
khác thì phần lợi nhuận tăng thêm sẽ được phân bổ theo tỷ lệ tổng vốn tham gia vào
quá trình sản xuất sản phẩm. Bên cạnh đó, còn phải so sánh giá cả hàng hóa dịch vụ
trong nghiệp vụ mua bán nội bộ và nghiệp vụ mua bán với công ty độc lập.
-
Thêm vào đó, một số yếu tố như chức năng hoạt động của cơ sở kinh doanh sẽ
kéo theo một số các chi phí kèm theo sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ lãi gộp .
-
Các nghĩa vụ thực hiện hợp đồng như các ràng buộc giao hàng về thời gian, số
lượng và chất lượng sản phẩm, lưu kho, lưu bãi…
Phương pháp này thường được áp dụng trong một số trường hợp sau:
-
Đối với công ty sản xuất, chế biến, lắp ráp, chế tạo và bán cho các bên liên kết,
gia công chế biến và phân phối.
12
Các chi phí phản ánh chức năng của doanh nghiệp (ví dụ: đại lý phân phối độc
quyền, thực hiện các chương trình quảng cáo, khuyến mại, bảo hành...).
-
Chủng loại, quy mô, khối lượng, thời gian quay vòng của sản phẩm mua vào để
bán lại và tính chất hoạt động của giao dịch trên thị trường (ví dụ: bán buôn, bán lẻ, ...).
-
Phương pháp hạch toán kế toán (tức là phải đảm bảo các yếu tố cấu thành lợi
nhuận gộp và doanh thu của giao dịch liên kết và giao dịch độc lập là tương đương
nhau hoặc cùng được áp dụng chung các chuẩn mực kế toán).
1.1.2.2.4 Phương pháp chiết tách lợi nhuận (Profit Split Method - PSM):
13
Phương pháp PSM được sử dụng trong những trường hợp, các MNC có mối liên
kết mua bán qua lại quá chặt chẽ, các giao dịch với khối lượng lớn và phức tạp (với
những trường hợp này, các phương pháp như CUP, RPM tỏ ra không hiệu quả).
Phương pháp này dựa vào lợi nhuận thu được từ một giao dịch liên kết, tổng
hợp của nhiều thành viên trong MNC thực hiện, sau đó thực hiện tính toán lợi nhuận
cho từng thành viên tham gia liên kết giống như cách các bên giao dịch độc lập phân
chia lợi nhuận trong những điều kiện tương đương.
Các giao dịch tổng hợp thường là các giao dịch đặc thù, duy nhất bao gồm nhiều
giao dịch liên kết có liên quan chặt chẽ về các đặc tính sản phẩm.
Ví dụ: Một công ty X là công ty độc lập ở Việt Nam, có liên kết với công ty Y
là thành viên của tập đoàn sản xuất xe ô tô. Công ty Y sẽ chuyển đầu vào cho công ty
phát triển sản phẩm là tài sản vô hình độc quyền hoặc các giao dịch trong quy trình sản
xuất, kinh doanh chuyển tiếp giữa các bên liên kết từ khâu nguyên vật liệu đến thành
phẩm cuối cùng để lưu thông sản phẩm gắn liền với việc sỡ hữu hoặc quyền sỡ hữu trí
tuệ duy nhất.
1.1.2.2.5 Phương pháp so sánh lợi nhuận (Comparable profit method - CPM):
Phương pháp so sánh lợi nhuận là phương pháp mở rộng của phương pháp giá
bán lại và phương pháp giá vốn cộng lãi. Phương pháp này dựa vào tỷ suất sinh lời của
sản phẩm trong các giao dịch độc lập được chọn để so sánh làm cơ sở xác định tỷ suất
sinh lời của sản phẩm trong giao dịch liên kết khi các giao dịch này có điều kiện giao
dịch tương đương nhau. Phương pháp này không cho ra kết quả về giá mà tính ra được
thu nhập thuần trước thuế là cơ sở tính thuế thu nhập doanh nghiệp (thu nhập doanh
nghiệp) và được áp dụng với một trong các điều kiện sau:
-
Không có sự khác biệt về điều kiện giao dịch khi so sánh giữa giao dịch độc lập
và giao dịch liên kết gây ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất sinh lời.
-
Trường hợp có các khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất sinh lời nhưng các
khác biệt này đã được loại trừ bằng cách xác định giá trị bằng tiền của các khác biệt
trọng yếu đó để điều chỉnh, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể có thể tăng hoặc giảm giá
trị nhằm loại trừ các khác biệt trọng yếu đó.
Các yếu tố ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất sinh lời như:
-
Các yếu tố về tài sản, vốn và chi phí sử dụng cho việc thực hiện chức năng
chính của doanh nghiệp (ví dụ: sản xuất, chế biến trên cơ sở sử dụng máy móc do
nên phương pháp này sẽ bị gặp khó khăn khi các nghiệp vụ phát sinh có mối quan hệ
ràng buộc chặt chẽ với nhau. Các chuyển giao mang tính chất đa dạng và phức tạp sẽ
khó tìm được các giao dịch tương ứng để có thể so sánh được.
1.1.3
Khái niệm về nguyên tắc căn bản giá thị trường (Arm’s Length Principle
– ALP)
Để hạn chế hành vi chuyển giá, các quốc gia cần áp dụng nguyên tắc dựa trên
nguyên lý giá thị trường ALP (The Arm’s –Length Principle) trong việc định giá các
nghiệp vụ chuyển giao nội bộ nhằm đảm bảo tính công bằng trong thương mại. Nguyên
tắc ALP chính là cơ sở cho các nghiệp vụ mua bán, trao đổi hàng hóa và cung cấp dịch
vụ giữa các quốc gia. Nguyên tắc này đòi hỏi các nghiệp vụ mua bán nội bộ trong các
16
MNC phải được thực hiện như các nghiệp vụ mua bán diễn ra giữa các bên độc lập với
nhau nhằm thể hiện được tính khách quan của quan hệ thị trường.
Giá thị trường được xác định dựa vào:
-
So sánh giá giao dịch độc lập
-
Giá bán lại
-
So sánh lợi nhuận
Chuyển giá là một trong những vấn đề phức tạp và khó tiếp cận trong thời đại kinh tế
17
quốc tế hội nhập, khi mà các MNC này có nhiều chi nhánh, công ty con trên nhiều
quốc gia khác nhau mà các công ty này mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho
nhau. Các hoạt động này có thể chứa đựng trong đó là các hoạt động “chuyển giá”, giá
cả của hàng hóa dịch vụ trong các nghiệp vụ chuyển giao này được tính theo một xu
hướng chủ quan mà không hề dựa trên chi phí thực tế tạo nên sản phẩm hay dịch vụ
được cung cấp. Thông qua hoạt động chuyển giá sẽ mang về cho các MNC một
khoảng lợi nhuận lớn trong khi các MNC này không cần phải nỗ lực nâng cao chất
lượng sản phẩm, dịch vụ hay mở rộng phát triển thị trường mà chỉ cần những hoạt
động phù phép trên sổ sách kế toán.
Tuy nhiên, một nguyên nhân quan trọng khác dẫn đến hoạt động chuyển giá
xảy ra đó là tính đặc thù của sản phẩm, có những sản phẩm không tìm thấy hay rất
khó tìm thấy các sản phẩm tương tự thay thế. Chúng ta thường tìm thấy đặc tính này
đối với các tài sản cố định vô hình như lợi thế thương mại, bản quyền sáng chế,
phát minh, bí quyết công nghệ… Chính do tính đặc thù cao này đã gây ra những
khó khăn khi áp dụng nguyên tắc ALP vào trong việc định và so sánh giá thị trường.
Mục đích cuối cùng của hoạt động chuyển giá là tối đa hóa lợi nhuận của MNC
bằng cách tối thiểu hóa thuế thu nhập doanh nghiệp mà MNC phải nộp cho các chính
phủ. Chính vì mục đích là tối thiểu hóa số thuế phải nộp nên MNC sẽ tiến hành điều
phối thu nhập của các công ty con tại các quốc gia có thuế suất cao sang các quốc
gia có thuế suất thuế thu nhập thấp. Việc chuyển lợi nhuận này có thể được thực hiện
trên phần thu nhập trước thuế hay sau thuế dựa trên cấu trúc bảng báo cáo thu nhập
sau:
18
xuất qua thẳng công ty phân phối mà không qua trung tâm xuất hóa đơn. Hình thức
này thường xảy ra trong ngành dược phẩm.
Hình 2: Mô hình trung tâm xuất hóa đơn
Nguồn: Thạc sĩ: Huỳnh Thiên Phú “ Chuyển giá của các công ty đa quốc gia
trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế “ năm 2009
20
Bước 1: Công ty sản xuất tại Mỹ sẽ chuyển hàng trực tiếp sang công ty phân
phối tại Mexico.
Bước 2: Hóa đơn được xuất từ công ty phân phối tại Mỹ sang trung tâm xuất
hóa đơn bằng tiền đô la Mỹ.
Bước 3: Trung tâm xuất hóa đơn nắm lấy quyền sở hữu hợp pháp của hàng hóa
từ công ty sản xuất tại Mỹ.
Bước 4: Trung tâm xuất hóa đơn sẽ xuất hóa đơn lại cho công ty phân phối
tại Mexico bằng đồng Pesos. Thông qua việc này sẽ định vị lại loại ngoại tệ của cả
đơn vị sản xuất và trung tâm xuất hóa đơn.
Thông thường, các trung tâm xuất hóa đơn này để tránh bị cáo buộc là chuyển
lợi nhuận thì giá bán lại họ sẽ lấy giá vốn cộng thêm một tỷ lệ hoa hồng rất nhỏ. Tỷ lệ
hoa hồng mà trung tâm được hưởng chỉ đủ để trang trải chi phí hoạt động của trung
tâm.
1.1.5
Lý thuyết kinh tế về định giá chuyển giao tối ưu (Economic theory behind
optimal transfer pricing)
Theo lý thuyết kinh tế về định giá chuyển giao tối ưu thì việc định giá chuyển
giao tối ưu sẽ tối đa hóa lợi nhuận tổng thể của công ty ttrong một thế giới không thực
Nếu doanh nghiệp có thể bán sản phẩm của nó trên thị trường không hoàn hảo,
nó không cần phải là người chấp nhận giá. Trong trường hợp này có hai thị trường với
hai mức giá khác nhau ( Pf và Pt). Thị trường tổng hợp được hình thành từ hai thị
trường khác nhau. Điểm C là điểm tổng kết ngang của hai điểm A và B.
Biểu đồ 3: Định giá chuyển giao với thị trường không hoàn hảo bên ngoài
Nguồn: />
1.2 Các hình thức chuyển giá thông qua các hình thức ĐTNN
1.2.1 Hình thức chuyển giá trong giai đoạn đầu của quá trình đầu tư quốc tế
23
a. Chuyển giá thông qua hình thức nâng cao trị giá tài sản góp vốn.
Khi đầu tư dưới dạng liên doanh, việc nâng cao giá trị tài sản đóng góp sẽ làm
cho phần vốn góp của “bên cố ý nâng giá trị góp vốn” tăng lên, nhờ đó sự chi phối các
quyết định liên quan đến hoạt động của dự án liên doanh sẽ gia tăng và mức lời được
chia cũng tăng (vì mức lời được chia cho các bên theo tỷ lệ góp vốn pháp định). Ngoài
ra, khi dự án kết thúc hoạt động thì tỷ lệ trị giá tài sản được chia cao hơn.
Đối với các công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài thì việc nâng giá trị tài sản góp
vốn sẽ giúp họ tăng mức khấu hao trích hàng năm (nghĩa là lợi nhuận giảm), tác động
làm tăng chi phí đầu vào. Việc tăng mức khấu hao tài sản cố định sẽ giúp chủ đầu tư:
-
Mau hoàn vốn đầu tư cố định, nhờ đó giảm thiểu rủi ro đầu tư.
-
Giảm mức thuế thu nhập doanh nghiệp phải đóng góp cho nước tiếp nhận đầu
Các công ty mẹ thường sử dụng các hợp đồng tư vấn hay thuê chuyên gia. Một
số đối tác liên doanh còn bị ép nhận chuyên gia với chi phí rất cao nhưng hiệu quả
mang lại thì thấp. Chi phí này phía liên doanh nước chủ nhà gánh chịu.
Một số công ty thuê người quản lý doanh nghiệp FDI với lương cao, ngoài ra
còn phải trả một khoản tiền lớn cho công ty nước ngoài cung cấp nhà quản lý. Ở một
số trường hợp cũng có hiện tượng thực hiện chuyển giá ở khâu này (khi công ty cung
cấp nguồn nhân lực cũng là công ty con của cùng một tập đoàn).
Một số trường hợp còn thực hiện chuyển giá thông qua hình thức đào tạo ở nước
ngoài: cử chuyên viên, công nhân sang học tập, thực tập tại công ty mẹ (tu nghiệp sinh)
với chi phí cao. Việc chuyển tiền về công ty mẹ với mức cao để tổ chức huấn luyện đào
tạo cũng là một dạng chuyển giá.
Một hình thức nữa cũng được coi là chuyển giá của các công ty có vốn FDI là
trả lương, chi phí cho chuyên gia tư vấn được gởi đến từ công ty mẹ. Loại hình tư vấn
rất khó xác định số lượng và chất lượng để xác định chi phí cao hay thấp. Lợi dụng
điều này, nhiều công ty có vốn FDI thực hiện hành vi chuyển giá mà thực chất là
chuyển lợi nhuận về nước dưới danh nghĩa là “phí” dịch vụ tư vấn.
d. Thực hiện chuyển giá thông qua việc điều tiết giá mua bán hàng hóa
Khi thuế nhập khẩu cao thì công ty mẹ ở nước ngoài bán nguyên liệu, hàng hóa
với giá thấp nhằm tránh nộp thuế nhập khẩu nhiều. Trong trường hợp này, công ty mẹ
sẽ tăng cường hoạt động tư vấn, huấn luyện, giúp hỗ trợ tiếp thị với giá cao để bù đắp
lại hoặc mua lại sản phẩm với giá thấp.
Đối với các hàng hóa nhập khẩu mà thuế suất thấp thì công ty ký hợp đồng nhập
khẩu với giá cao nhằm nâng chi phí, từ đó tránh thuế thu nhập doanh nghiệp.
25