VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
--------------------
NGUYỄN THỊ TÌNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN
CHÍNH THỨC (ODA) Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI- 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
--------------------
NGUYỄN THỊ TÌNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN
CHÍNH THỨC (ODA) Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế
Mã số: 62.31.01.06
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
tế học, các nhà khoa học, các quý thầy cô của Học viện Khoa học Xã hội đã tạo điều
kiện giúp đỡ và tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu trong quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thành luận án tiến sĩ.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện, quan
tâm, giúp đỡ và khích lệ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận
án.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Tình
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................i
LÒI CẢM ƠN .............................................................................................................ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ........................................................................iv
DANH MỤC BẢNG ................................................................................................... v
DANH MỤC BIỂU .................................................................................................... v
DANH MỤC HÌNH ..................................................................................................vi
DANH MỤC HỘP ....................................................................................................vi
MỞ ĐẦU............... ..................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN............ ...................................................................................................................... 9
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ....................................................................... 9
1.2. Tình hình nghiên cứu trên trong nước ............................................................................. 16
1.3. Đánh giá chung và khung phân tích luận án ................................................................... 22
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
CG
DAC
DBCC
DBM
EPU
FDI
ICC
IMF
LDC
MACC
MOF
NEDA
NEP
NGO
NIP
ODA
OECD
PMU
PSD
QLDA
QLNN
RM
TI
UN
UNDP
UNFPA
UNICEF
USD
VNĐ
WB
Public Service Department
Ringgit
Transparency International
United Nations
United Nations Development
Programme
The United Nations Population
Fund
United Nations Children's Fund
United State Dollar
Vietnam Dong
World Bank
iv
Tiếng Việt
Ngân hàng phát triển Châu Á
Cơ quan phát triển Pháp
Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ
Ủy ban hỗ trợ phát triển
Ủy ban điều phối ngân sách phát triển
Bộ Quản lý Ngân sách
Đơn vị Kế hoạch kinh tế
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Uỷ ban Điều phối đầu tư
Quỹ tiền tệ quốc tế
Nước kém phát triển nhất
Ủy ban chống tham nhũng Malaysia
Bộ Tài chính
Viện trợ, tăng trưởng và phân cấp quản lý ở các khu vực trên
thế giới
Viện trợ phát triển chính thức (ODA) ở Malaysia giai đoạn
1971-2000
Lượng ODA cam kết tới Philippines giai đoạn1986- 2000
Cam kết, ký kết và giải ngân qua các thời kỳ
Tình hình phân cấp quản lý theo chu trình quản lý dự án
trong Nghị định 38/2013
Tình hình phân cấp quản lý theo chu trình quản lý dự án
trong Nghị định 16/2016
So sánh QLNN đối với ODA ở 3 nước: Malaysia,
Philippines và Việt Nam
51
61
78
98
111
114
131
DANH MỤC BIỂU
Biểu 4.1:
Biểu 4.2:
Biểu 4.3:
10 nhà tài trợ có cam kết ODA lớn nhất thời kỳ 19932014 ở Việt Nam
Cơ cấu ODA ký kết theo ngành, lĩnh vực giai đoạn 20052015
Vốn ODA ký kết phân theo địa bàn thời kỳ 1993-2014 ở
Việt Nam
88
109
DANH MỤC HỘP
Hộp 3.1:
Dự án đường sắt Bắc Luzon- Philippines
Hộp 4.1:
Dự án cải tiến môi trường tại Rạch Hàng Bàng- Thành
90
105
phố Hồ Chí Minh
Hộp 4.2:
Phân cấp quản lý dự án ODA
122
Hộp 4.3:
Theo dõi và đánh giá một số dự án ODA
124
vi
đạt khoảng 76,8 tỷ USD (chiếm gần 80% số vốn cam kết) và số vốn giải ngân khoảng
51,5 tỷ USD (chiếm 67% số vốn cam kết). Như vậy, số vốn giải ngân vẫn chưa đạt
mục tiêu đề ra trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và tỷ lệ giải ngân
vẫn còn thấp hơn mức trung bình của thế giới và khu vực. Nói cách khác, việc sử dụng
nguồn vốn ODA ở Việt Nam chưa thực sự mang lại hiệu quả và chưa đóng góp như
1
kỳ vọng vào quá trình cải thiện nền kinh tế đất nước. Vậy đâu là những nguyên nhân
dẫn đến tình trạng đó? Liệu đó có phải là do cơ chế, chính sách quản lý ODA còn nhiều
chồng chéo, thiếu đồng bộ, không ổn định và chưa thực sự phù hợp với thông lệ quốc
tế? Hay mô hình tổ chức quản lý, điều hành các chương trình, dự án ODA ở nước ta
chưa thỏa đáng?Hay do công tác kiểm tra, giám sát nguồn vốn ODA còn lỏng lẻo,
thiếu và yếu các chế tài xử phạt?Hay hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí trong
quá trình sử dụng vốn ODA còn diễn ra mà chưa được giải quyết triệt để; Và, liệu có
thể là do nhận thức của các cấp về nguồn vốn này còn lệch lạc, chưa đầy đủ?…Vậy,
tất cả những nguyên nhân gây nên tình trạng sử dụng ODA thiếu hiệu quả và gây thất
thoát lớn đều có liên quan (trực tiếp hoặc gián tiếp) đến QLNN đối với việc huy động
và sử dụng ODA. Do vậy, điều này đang đặt ra những thách thức về mặt QLNN để
nguồn vốn này thực sự là kênh huy động vốn quan trọng góp phần vào quá trình phát
triển kinh tế lành mạnh và bền vững ở Việt Nam.
Từ những phân tích trên cho thấy, việc QLNN đối với nguồn vốn ODA ở Việt
Nam vẫn còn chưa tốt, những chính sách được đưa ra còn mang tính tức thời chưa có
một tầm nhìn dài hạn chiến lược. Vấn đề này đòi hỏi các cơ quan quản lý Việt Nam
cần tìm hiểu, tham khảo và học hỏi kinh nghiệm quản lý nguồn vốn ODA của một số
quốc gia thành công đi trước. Điều này vừa nhằm mục đích tránh lặp lại những bước
đi sai lầm trong hoạt động quản lý ODA như đã diễn ra ở một số nước, đồng thời cũng
để học hỏi những chính sách, biện pháp mà Chính phủ các nước đó đã sử dụng thành
công nhằm đóng góp vào sự phát triển thịnh vượng của nền kinh tế, từ đó vận dụng có
chọn lọc vào hoàn cảnh cụ thể của nền kinh tế Việt Nam. Việc tìm ra, phân tích, đánh
nước Malaysia, Philippines; đánh giá, so sánh những nội dung này để thấy những mặt
được và chưa được trong hoạt động QLNN ở hai quốc gia trên.
(4) Tổng kết rút ra những bài học kinh nghiệm từ công tác QLNN đối với ODA
ở các nước.
(5) Đánh giá thực trạng QLNN đối với ODA ở Việt Nam (chỉ ra những thành
công cũng như những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong công tác QLNN)
(6) Đưa ra những kinh nghiệm có thể vận dụng vào thực tiễn quản lý Việt Nam
trên nền tảng phân tích những điểm tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và hai
quốc gia khảo sát về trình độ phát triển kinh tế xã hội, về chính sách thu hút và sử dụng
ODA...
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu công tác QLNN đối với viện trợ phát triển chính
thức ở một số nước Châu Á (Malaysia, Philippines) và Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
➢ Phạm vi về nội dung: Luận án nghiên cứu công tác QLNN đối với ODA ở các
nước tiếp nhận (công tác QLNN đối với ODA ở nước cho vay cũng như công tác
QLNN đối với ODA mà nước tiếp nhận dành cho nước khác không thuộc phạm vi
nghiên cứu của luận án này) với những nội dung cụ thể: Xây dựng chiến lược, quy
3
hoạch, định hướng thu hút và sử dụng ODA; Hệ thống pháp luật điều chỉnh vốn ODA;
Mô hình QLNN về ODA; Thẩm định, phê duyệt các dự án ODA; Giám sát, đánh giá
việc sử dụng ODA.
➢ Phạm vi về không gian: Ngoài Việt Nam, luận án sẽ tập trung nghiên cứu công
tác QLNN đối với ODA ở hai nước Châu Á, cụ thể là ở Đông Nam Á, đó là: Malaysia
(đại diện cho nước quản lý ODA hiệu quả), Philippines (đại diện cho nước quản lý
ODA chưa hiệu quả). Lý do mà tác giả lựa chọn các quốc gia trên:
Thứ nhất, những nước Đông Nam Á nhận được tương đối nhiều sự giúp đỡ của
của các quốc gia như sau:
- Nghiên cứu Malaysia trong giai đoạn 1970-2000. Sở dĩ nghiên cứu trong giai
đoạn này là vì:
+ Đây là giai đoạn Malaysia thu hút được số lượng lớn nguồn vốn ODA, do đó
cơ chế, chính sách của nhà nước sử dụng để quản lý nguồn vốn ODA ở Malaysia tương
đối đa dạng và nhiều chính sách sử dụng phù hợp, có hiệu quả;
+ Mặt khác, khoảng thời gian 1970- 2000 được chia thành hai giai đoạn: (i)
Giai đoạn 1 từ 1970 đến 1990 là giai đoạn Malaysia thực hiện Chính sách kinh tế mới
(NEP) thông qua 4 kế hoạch 5 năm, bắt đầu từ kế hoạch 5 năm lần 2 (1971- 1975).
Mục tiêu của NEP này là tạo ra sự cân bằng và đồng đều trong phát triển kinh tế giữa
các vùng, giữa các chủng tộc và xóa đói giảm nghèo. Mục tiêu trong thu hút và sử
dụng ODA ở giai đoạn này cũng không nằm ngoài mục tiêu chung của nền kinh tế.
Đây được coi là giai đoạn quan trọng, là công trình lớn của chính phủ để đưa Malaysia
đến chỗ phát triển như ngày nay. Giai đoạn 2 từ 1991- 2000 là một giai đoạn nằm trong
Chương trình phát triển quốc gia 30 năm (1991- 2020). Do đó, đây là khoảng thời gian
chính phủ Malaysia có những quyết tâm lớn trong điều hành kinh tế vĩ mô. Chính sách,
thể chế quản lý nền kinh tế nói chung và ODA nói riêng đi vào chiều sâu hơn, thực
chất hơn và đề cao tính hiệu quả nên công tác QLNN về ODA ở Malaysia trong giai
đoạn này sẽ giúp một số quốc gia tiếp nhận trong khu vực và trên thế giới có thể tham
khảo, học hỏi những điểm tốt để vận dụng vào hoàn cảnh nước mình.
- Nghiên cứu Philippines trong giai đoạn 1965-2006. Với Philippines lý do lựa
chọn nghiên cứu trong giai đoạn này là:
+ Từ năm 1965 Philippines bắt đầu nhận được nhiều viện trợ từ cộng đồng quốc
tế và đến năm 2006 thì lượng viện trợ nước ngoài vào Philippines cũng bắt đầu suy
giảm, là khoảng thời gian Philippines có nhiều chính sách điều hành kinh tế vĩ mô
trong đó những chính sách điều hành nguồn vốn ODA rất đáng lưu ý (từ nhận thức,
quan điểm cho tới cách điều hành, quản lý) cần phải được đưa ra để bàn bạc và là bài
học nên tránh cho các nước khác.
+ Trong giai đoạn 40 năm (1965- 2006) thì khoảng thời gian 1965- 1986 là đáng
lưu tâm hơn cả, là giai đoạn đã đi vào lịch sử trong quá trình xây dựng và phát triển
Việt Nam, Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế,… để tiến hành tổng hợp, so sánh,
phân tích và đánh giá. Tất cả các dữ liệu và số liệu được sưu tầm để phục vụ nghiên
cứu đề tài đều đã được xuất bản công khai từ các nguồn chính thức, đáng tin cậy. Một
số nguồn tài liệu phải trả bản quyền đã được thanh toán đầy đủ đúng quy định, đảm
bảo tính hợp quy bản quyền tác giả, bản quyền dữ liệu.
Thứ hai, sử dụng phương pháp chuyên gia. Phương pháp này được sử dụng chủ
yếu dưới hình thức trao đổi trực tiếp nhằm tham khảo ý kiến của các nhà khoa học,
các chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực ODA. QLNN về ODA là một nội dung không
mới nhưng đến nay vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề, nghiên cứu sinh sử dụng phương
pháp này nhằm thu thập thêm nhiều nhận định từ góc độ những nhà khoa học, những
6
cán bộ làm công tác quản lý ODA cũng như những chuyên gia trong ngành. Những
nội dung trao đổi với các chuyên gia tập trung vào những vấn đề chủ yếu của Việt
Nam hiện nay: Tình hình giải ngân vốn ODA thời gian qua? những yếu tố nào làm
chậm giải ngân của các chương trình/dự án? Lĩnh vực ưu tiên sử dụng vốn ODA có
phù hợp? Tình trạng thất thoát, lãng phí trong sử dụng ODA? Chất lượng các công
trình dự án được đầu tư bằng vốn ODA? Phân cấp trong quản lý và sử dụng ODA?
Đánh giá tác động của ODA đến phát triển kinh tế xã hội cũng như nợ công? những ví
dụ cụ thể về quản lý ODA tại Việt Nam? Một số bài học từ thực tiễn quản lý ODA ở
các nước Châu Á (Malaysi, Philippines) cho Việt Nam?
Thứ ba, sử dụng phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu
trong chương 3 và chương 4 của luận án. Số liệu được thống kê, xử lý và trình bày một
cách rõ ràng, từ đó rút ra những xu hướng, quy luật, đưa ra những nhận định khách
quan nhất có thể về đối tượng nghiên cứu.
Thứ tư, sử dụng phương pháp phân tích hệ thống, toàn diện và logic khi nghiên
cứu QLNN đối với ODA ở các nước Malaysia, Philippines và Việt Nam, đánh giá từng
nội dung QLNN về ODA trong mối quan hệ với các yếu tố tác động như: chính trị,
kinh tế, xã hội, văn hóa, gắn với từng hoàn cảnh cụ thể.
ODA và bối cảnh kinh tế chính trị thế giới hiện nay.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Luận án đã phân tích thực trạng QLNN về ODA ở các nước Châu Á là
Malaysia, Philippines và Việt Nam, đưa ra những ý kiến nhận xét về tính hiệu quả và
không hiệu quả từ công tác QLNN về ODA ở các quốc gia này, từ đó tổng kết và rút
ra bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam.
- Ngoài ra, những vấn đề thực tiễn khác mà luận án đề cập góp phần thiết thực
vào việc hoàn thiện QLNN về ODA ở Việt Nam trong thời gian tới.
- Luận án sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, nhà hoạch định chính
sách và độc giả quan tâm đến chủ đề này. Đồng thời, là tài liệu có thể tham khảo trong
quá trình giảng dạy, học tập và nghiên cứu ở các cơ sở đào tạo có liên quan.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ Lục, Danh
mục các chữ viết tắt, Danh mục các bảng, biểu, hình, Luận án được kết cấu thành 4
chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với viện trợ phát triển
chính thức
Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với viện trợ phát triển chính thức ở một
số nước Châu Á
Chương 4: Vận dụng bài học kinh nghiệm từ công tác quản lý nhà nước đối với viện
trợ phát triển chính thức ở một số nước Châu Á vào thực tiễn Việt Nam
8
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Có thể khẳng định, QLNN đối với ODA ở các nước tiếp nhận trong đó có các
mỗi quốc gia nếu nó được sử dụng hợp lý. Do sự khan hiếm các nguồn lực trong nước
và do trở ngại của các điều kiện tự nhiên khác, các quốc gia đang phát triển bù đắp sự
thiếu hụt bằng nguồn vốn viện trợ nước ngoài. Nói chung, viện trợ nước ngoài được
cấp để giảm thâm hụt ngân sách, xúc tiến thương mại và để cân nhắc những chiến lược
9
phát triển. Những nội dung cơ bản đó được đề cập trong công trình nghiên cứu:
“Comparative study of global role of foreign aid in the development and associates
strategies for Pakistan” của Mehmood UI- Hassan Khan (2008). Theo nghiên cứu của
tác giả Mehmood UI- Hassan Khan, viện trợ nước ngoài có thể ảnh hưởng đến các
chính sách vĩ mô và vi mô của các nước tiếp nhận. Để bù đắp hai khoảng trống quan
trọng của nền kinh tế là chênh lệch xuất nhập khẩu và khoảng cách đầu tư- tiết kiệm,
các nước đang và chậm phát triển phải dựa vào viện trợ nước ngoài. Tuy nhiên, nghiên
cứu cũng cho rằng viện trợ phát triển có hiệu quả hay không thì tùy thuộc vào cách
thức quản trị tại nước tiếp nhận. Nghiên cứu đã lấy Pakistan làm minh chứng cho
những vấn đề trên [124].
Tiếp tục xoay quanh vai trò của ODA đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở các
nước đang và chậm phát triển, trong cuốn sách mang tên: “Foreign Aid Isn't?” của
Prakash Loungani năm 2006 hay “Is Aid Effective?” của Mark McGillivray (2005),
các tác giả đã có một cách tiếp cận khác về ODA, đó là ngờ vực về vai trò của ODA
đối với sự phát triển kinh tế của các nước đang và chậm phát triển. Các tác giả cho
rằng viện trợ nước ngoài là không cần thiết và cũng không đủ để nâng cao mức sống
ở các nước đang phát triển. Nó không cần thiết vì một số quốc gia đã có thể nâng cao
được mức sống mà không cần đến viện trợ, trong khi nhiều quốc gia vẫn còn sa lầy
trong nghèo đói mặc dù nhận được viện trợ nước ngoài rất lớn [135], [122].
Đề cập tới điều kiện viện trợ, có nghiên cứu “Whose aid? Whose influence?
China, emerging donnors and the silent revolution in development asisstance” của
Ngaire Wood (2008). Bài viết nói rằng, thực trạng gần đây, trật tự của các quốc gia
cung cấp ODA đang bị lung lay trước sự thay đổi quyền lực trên phạm vi toàn cầu.
trình phát triển, tuy nhiên trong suốt 50 năm qua dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng sự
nghèo khổ trên thế giới vẫn là một vấn đề nghiêm trọng. Báo cáo đề cập khá kỹ đến
mối quan hệ giữa môi trường chính sách của nước tiếp nhận với hiệu quả của viện trợ:
viện trợ phát huy tác dụng trong một môi trường chính sách, thể chế tốt và sẽ không
hiệu quả nếu môi trường chính sách của nước tiếp nhận là tồi [51] .
Hai tác giả Craig Burnside and David Dollar với tác phẩm “Aid, Policies and
Growth”, (1997) và “Aid, Policies, and Growth: Revisiting the Evidence” (2004) cũng
tiếp tục đề cập đến mối liên hệ giữa viện trợ, chính sách và tăng trưởng. Nhóm tác giả
đã sử dụng dữ liệu của 56 quốc gia nhận viện trợ để xây dựng mô hình hồi quy tìm ra
mối liên hệ giữa các biến số này. Tác giả khẳng định viện trợ có tác dụng tích cực nếu
trong môi trường chính sách tài khóa, tiền tệ và chính sách thương mại tốt được tạo ra
bởi chính phủ của nước tiếp nhận, còn trong môi trường, chính sách vĩ mô tồi thì ngược
lại. Đây là một nghiên cứu rất công phu để nói về vai trò của nhà nước ở nước tiếp
nhận với việc nâng cao hiệu quả viện trợ [90], [91].
Với tác phẩm “Aid, Growth and Devolution” (2011) của Christian Lessmann
và Gunther Markwardt, các tác giả tập trung vào phân tích mối quan hệ giữa phân cấp,
phân quyền và hiệu quả viện trợ- vấn đề vẫn còn nhiều tranh cãi hiện nay. Nhóm
nghiên cứu sử dụng số liệu của 60 quốc gia để hồi quy và đưa ra kết luận rằng viện trợ
có hiệu quả ở những nước có sự quản lý tập trung và kém hiệu quả hoặc thậm chí có
hại ở những nước thực hiện phân cấp quản lý [97].
11
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với ODA ở Malaysia và
Philippines
Trong bài viết:“Managing the Development Process and Aid”, nhóm tác giả
Izumi Ohno và Masumi Shimamura (2007) đã nêu kinh nghiệm của 3 nước Châu Á:
Philippines, Malaysia và Thái Lan trong công tác lập quy hoạch, phê duyệt dự án, phối
hợp quản lý của các cơ quan kinh tế trung ương trong quản lý các dự án đầu tư công
12
Bài nghiên cứu: “Effective Technical Cooperation for Capacity Development:
Malaysia Country Case Study” của nhóm tác giả Lim Pao Li, Mr. James Lee và Mr.
Mike Ratcliffe năm 2008 lại tập trung vào phân tích quan hệ hợp tác kỹ thuật giữa
Malaysia và Nhật Bản, bên cạnh đó cũng chỉ ra những thành tựu mà Malaysia đã đạt
được trong mối quan hệ hợp tác này [120].
Trong báo cáo: “Malaysia Achieving the Millennium Development Goals” của
Liên hợp quốc (UN) năm 2006, cho rằng Malaysia đã hoàn thành được tám mục tiêu
phát triển thiên niên kỷ trong đó có mục tiêu trở thành đối tác phát triển toàn cầu. Từ
một nước nghèo đói sau khi thoát khỏi thuộc địa của Anh, Malaysia đã phải huy động
vốn từ cộng đồng quốc tế. Khoản vốn ít ỏi mà Malaysia nhận được vào những năm
1970 đã dùng để khắc phục tình trạng đói nghèo và tình trạng bất bình đẳng trong xã
hội. Thời kỳ sau đó viện trợ nước ngoài đã giúp Malaysia nâng cao được tiềm lực khoa
học công nghệ, tăng cường các kỹ năng chuyên môn như lập kế hoạch, thực hiện, đánh
giá, phân tích chính sách, phát triển thể chế…cũng như cải thiện nhiều lĩnh vực khác.
Báo cáo cũng chỉ ra, ngoài hỗ trợ về mặt tài chính mà Malaysia nhận được thì quốc
gia này còn nhận được sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật mà chủ yếu là từ nhà cung cấp Nhật
Bản. Hỗ trợ kỹ thuật đã có tác động tích cực đến môi trường chính sách ở Malaysia
như tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, thị trường tài chính phát triển và
nguồn nhân lực được cải thiện. Để đạt được những thành công đó, Malaysia đã có một
cơ chế quản lý tốt, một đội ngũ nhân viên được đào tạo và một nền văn hóa có trách
nhiệm giải trình tốt. Tuy nhiên báo cáo đã không đi sâu đề cập đến phương thức quản
lý ODA, không nói rõ quy trình giám sát và đánh giá dự án như thế nào, nhưng đây là
một tài liệu hay để tác giả luận án có thể tham khảo [137].
Tình hình thu hút và sử dụng ODA của Philippines trong khoảng thời gian từ
1986-2006 đã được Eduardo C. Tadem mô tả chi tiết trong tác phẩm: “The crisis of
official development assistance to the Philippines: New global trends and old local
issues” (2007). Bài viết cho rằng nền kinh tế Philippines đã phụ thuộc rất lớn vào
ODA ở Philippines trong giai đoạn 2003-2008 và so sánh với giai đoạn 1986-1988.
Tác giả cho rằng, hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA ở Philippines đã giảm ở thời kỳ
nghiên cứu so với thời kỳ trước đó. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra nguyên nhân của việc
sử dụng không hiệu quả ODA, nguyên nhân đó xuất phát từ cả hai phía (phía nước
nhận viện trợ và phía các nhà tài trợ). Nguyên nhân xuất phát từ phía nhận viện trợ là
do cơ chế điều phối ODA chưa hiệu quả, thiếu năng lực và trách nhiệm của chính
quyền địa phương cộng với nạn tham nhũng phổ biến ở Philippines. Bên cạnh đó, việc
gia tăng “quyền lực mềm” (như lợi ích về an ninh, chính trị, tìm kiếm nguồn tài
nguyên, thúc đẩy thương mại…) của bên cấp viện trợ cũng là nguyên nhân cơ bản dẫn
đến việc sử dụng ODA ở quốc gia này chưa đạt kết quả tốt [111].
Quan điểm của Bernadette E.Phelan và Naoyuki Yoshino được thể hiện trong
bài viết: “A simulation of the macroeconomic impact of ODA with the debt factor: the
Philippine experience” năm 1995 lại đưa ra một góc nhìn khác về về tác động của
ODA đối với nền kinh tế. Hai tác giả cho rằng ODA mang lại gánh nặng nợ nần hơn
là tác động tích cực đến nền kinh tế. Những lý do để biện minh cho quan điểm này
của tác giả là: i) Sự tham gia ngày càng tăng của Chính phủ vào hoạt động đầu tư được
tài trợ bởi vốn ODA làm hạn chế đầu tư tư nhân; (ii) Dòng vốn ODA chảy vào có xu
14
hướng làm giảm lãi suất trong nước, giảm tiết kiệm trong nước, giảm cung cấp tín
dụng trong nước và thắt chặt đầu tư hơn; (iii) Phần lớn các nguồn vốn ODA được đầu
tư vào cơ sở hạ tầng mà khả năng hấp thụ vốn tại các dự án này thấp. Và những điều
này rất đúng với trường hợp của Philippines vào những năm 1970-1980. Philippines
đã nhận được một khoản viện trợ rất lớn từ cộng đồng quốc tế vào năm 1970 nhưng
không cải thiện được tình hình kinh tế trong nước và đã tạo ra gánh nặng nợ nần
nghiêm trọng cho nền kinh tế sau này [89].
Công trình của Jim Morrell (1999) “Aid to the Philippines: Who benefits” đã
trình bày về viện trợ phát triển cho Philippines trong thời kỳ đầu xây dựng đất nước
với nhà tài trợ chính là Mỹ. Sự hỗ trợ đó đã làm cho Philippines thoát khỏi tình trạng
Hong đã đánh giá khá cao về sự hài hòa giữa viện trợ và chính sách thương mại ở Việt
Nam. Việt Nam hoàn toàn làm chủ được chính sách thương mại khi nhận viện trợ từ
các nước OECD. Cùng với những cải cách của Chính phủ và tạo thuận lợi của các
nước tài trợ ODA, Việt Nam đã có những thành công về thương mại xuất khẩu. Nhưng
bài viết cũng lưu ý, các mặt hàng chế biến của Việt Nam vẫn khó khăn trong xuất
khẩu, giá trị gia tăng không cao, vẫn khó thâm nhập vào thị trường các nước OECDnơi mà các doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh khốc liệt,…viện trợ nước ngoài
cần hướng tới khắc phục những vấn đề đó [87].
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
1.2.1 Tình hình nghiên cứu về ODA và quản lý nhà nước đối với ODA nói chung
Về lý thuyết ODA nói chung và vai trò của ODA đối với sự phát triển kinh tế xã
hội, trong nước có tương đối nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề này, tiêu biểu là cuốn
sách “Hỗ trợ phát triển chính thức ODA- Những điều căn bản và thực tiễn ở Việt Nam”
của tác giả Hà Thị Ngọc Oanh (1998), “Những điều cần biết về viện trợ phát triển
chính thức” của nhóm tác giả Trần Đình Tuấn, Đặng Văn Nhiên (1993); và tác phẩm:
“Tổng quan về viện trợ phát triển chính thức Việt Nam” của tổ chức Liên hợp quốc
năm 2000. Tất cả các tác phẩm này đã đề cập khá cụ thể về lý thuyết ODA nói chung,
như: khái niệm ODA, đặc điểm ODA, vai trò của ODA đối với sự phát triển kinh tế
xã hội ở các nước tiếp nhận, đồng thời các tác giả cũng khái quát tình hình thu hút và
sử dụng ODA ở Việt Nam đến thời điểm các tác giả nghiên cứu [55], [74], [44].
Tác giả Lưu Ngọc Trịnh với cuốn sách mang tên: “Vốn vay ưu đãi ở Việt Nam
những năm gần đây. Thực trạng vấn đề và giải pháp- Trường hợp Nhật Bản”, NXB
Lao Động Xã hội năm 2002 đã khẳng định Nhật Bản là nhà tài trợ lớn nhất ở Việt Nam
cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Cuốn sách khái quát về Ngân hàng Hợp tác
quốc tế Nhật Bản (JBIC)- tổ chức có số vốn viện trợ lớn nhất cho Việt Nam, tình hình
vốn vay của JBIC ở Việt Nam. Cuốn sách có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn JBIC tại Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả của các hoạt
động kinh tế đối ngoại giữa Việt Nam với Nhật Bản và quốc tế. Ngoài ra, cuốn sách
cũng góp phần hiện thực hóa chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước Việt Nam,
thích hợp với chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam [72].
Bài viết của tác giả Nguyễn Hồng Sơn: “Viện trợ phát triển chính thức (ODA)thực trạng, triển vọng và hàm ý chính sách cho Việt Nam” đăng trên tạp chí Những
Việt Nam” của Nguyễn Thị Hoàng Oanh được đăng trên tạp chí Khoa học thương mại,
số 8/2004, hay bài viết: “Kinh nghiệm thu hút và sử dụng vốn ODA của EU tại các
nước Châu Á” của Hoàng Xuân Trung đăng trên tạp chí Nghiên cứu Châu Âu số
6/2008, các tác giả đều đề cập đến kinh nghiệm thành công và không thành công trong
thu hút và sử dụng ODA ở các nước trên thế giới, từ đó rút ra một số bài học cho Việt
Nam. Tuy vậy, những bài viết này chưa đề cập nhiều đến công tác QLNN đối với ODA
ở các quốc gia, nên bài học rút ra còn chung chung, chưa bộ lộ rõ những vấn đề quản
lý từ phía nhà nước [54], [73].
Trong luận án tiến sỹ kinh tế: “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hỗ trợ phát
triển chính thức (ODA) tại Việt Nam” của Lê Ngọc Mỹ (2005) thì đưa ra kinh nghiệm
cho Việt Nam khi phân tích thực tiễn thu hút và sử dụng vốn ODA của Philippines.
17