HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
= = = =¶¶¶ = = = =
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN TIÊU CHÍ 17
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI XÃ CƯƠNG GIÁN, HUYỆN NGHI XUÂN,
TỈNH HÀ TĨNH
Người thực hiện
Lớp
Khóa
Ngành
Giáo viên hướng dẫn
:
:
:
:
:
HOÀNG ĐỨC TỚI
MTB
57
MÔI TRƯỜNG
TS PHAN TRUNG QUÝ
HÀ NỘI – 2016
57
MÔI TRƯỜNG
TS PHAN TRUNG QUÝ
XÃ CƯƠNG GIÁN, HUYỆN NGHI XUÂN,
TỈNH HÀ TĨNH
HÀ NỘI – 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Đánh giá tình hình
thực hiện tiêu chí 17 trong xây dựng nông thôn mới tại xã Cương Gián,
huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh” là công trình nghiên cứu của bản thân.
Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong khóa luận đã được nêu rõ trong
phần tài liệu tham khảo. Các số liệu và kết quả trình bày trong khóa luận hoàn
toàn trung thực, nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Hoàng Đức Tới
iii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu, thực tập tốt nghiệp và hoàn thành
Khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được
sự quan tâm, giúp đỡ rất nhiệt tình về nhiều mặt của các tổ chức và các cá
nhân trong và ngoài trường.
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Kí hiệu viết tắt
Nghĩa đầy đủ
BCĐ
Ban chỉ đạo
BQL
Ban quản lý
BTBDHMT
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
BVMT
Bảo vệ môi trường
CN
Công nghiệp
ĐBSCL
NTM
Nông thôn mới
TDMNPB
Trung du miền núi phía Bắc
TĐT
Tổng điều tra
TN
Tây Nguyên
UBND
Ủy ban nhân dân
XKLĐ
Xuất khẩu lao động
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1
not found
Hình 3.3 Ra quân dọn vệ sinh môi trường. Error: Reference source not found
Hình 3.4 Thôn xóm được trồng nhiều cây xanh...Error: Reference source not
found
Hình 3.5 Hệ thống kênh mương thoát nước bằng bê tông có nắp đậy....Error:
Reference source not found
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức kiểm tra, xử lý vi phạm thực tiêu chí MT.......Error:
Reference source not found
viii
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước có nền kinh tế nông nghiệp, lực lượng lao động
tập trung chủ yếu ở nông thôn. Theo thống kê năm 2014,nước ta có trên
66,9%dân số sinh sống ở khu vực nông thôn (Tổng cục thống kê, 2014) với
các ngành nghề chủ yếu là sản xuất nông – lâm– ngư nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ, là nơi sản xuất quan trọng góp phần lớn vào cơ cấu kinh tế
của đất nước. Hiện nay, nông thôn nước ta đang trong quá trình đổi mới và
phát triển, quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa đã đem lại những thành tựu
kinh tế- xã hội to lớn, góp phần quan trọng trong phát triển lực lượng sản
xuất, tăng năng suất lao động xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng xuất hiện biến đổi tiêu cực làm
ảnh hưởng tới sức khỏe và chất lượng cuộc sống người dân do kinh tế ngày
càng phát triển đòi hỏi nhu cầu sản phẩm tăng cả về chất lượng và số lượng
gây gánh nặng cho sản xuất nông nghiệp và làm ô nhiễm môi trường trong
sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi. Mặt khác khi đời sống của người dân
được cải thiện và nâng cao làm lượng rác thải và nước thải tăng và về số
giải pháp thực hiện tốt tiêu chí này, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá tình hình thực hiện tiêu chí 17 trong xây dựng nông thôn mới tại xã
Cương Gián, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh”
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu và đánh giá tình hình thực hiện tiêu chí 17 trong quá trình
xây dựng nông thôn mới theo các nội dung tiêu chí khác nhau tại xã Cương
Gián.
- Xác định những tồn tại/ khó khăn trong quá trình thực hiện tiêu chí 17
trong xây dựng nông thôn mới tại xã Cương Gián.
- Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện quá trình
thực hiện tiêu chí 17 trong xây dựng nông thôn mới tại xã Cương Gián.
2
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Nông thôn Việt Nam
1.1.1. Các khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm nông thôn
Khái niệm nông thôn được thống nhất với quy định theo Thông tư số
54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị
các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban
nhân dân xã"
• Thôn (hay còn gọi là Làng) là tổ chức dân cư cấp cơ sở tại các vùng
nông thôn Việt Nam.
• Xã hiện nay là tên gọi chung các đơn vị hành chính thuộc cấp thấp
nhất ở khu vực nông thôn, ngoại thành, ngoại thị của Việt Nam.
Một xã bao gồm nhiều thôn (hoặc ấp, xóm, làng, bản) hợp thành. Tuy
chiếm từ 25 - 40% tổng sản phẩm trong nước và đạt trên 40% tổng giá trị giá
trị xuất khẩu cho cả nước. Trong nhiều năm qua, sản xuất nông nghiệp ở nông
thôn chiếm từ 25 - 40% tổng sản phẩm trong nước và đạt trên 40% tổng giá trị
giá trị xuất khẩu cho cả nước.
Hiện nay, quá trình đô thị hoá đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi
cả nước. Ở tầm vĩ mô, một mặt đô thị hoá là một trong những giải pháp quan
trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội theo hướng chuyển dịch cơ
cấu kinh tế đáp ứng mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá; phát triển mạnh
các ngành công nghiệp và thương mai – dịch vụ mà Đảng và Nhà nước đã đề
ra trong giai đoạn từ nay đến năm 2020. Mặt khác đô thị hoá cũng là một
trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự phát triển của một đất nước. Tuy
nhiên bên cạnh những tác động tích cực, vẫn còn có không ít những bất cập,
tồn tại đặt ra cần phải giải quyết, đặc biệt là vấn đề lao động - việc làm đối
với một bộ phận lớn dân cư nông thôn.
-Đặc điểm chung của nông thôn:
Những hạn chế
1. Thiếu vốn sản xuất
4
Đây là nguyên nhân số 1. Khoảng 91,53% số hộ nghèo là thiếu vốn.
Nông dân nghèo vốn thấp, làm không đủ ăn, thường xuyên phải đi làm thuê
hoặc đi vay tư nhân để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày nên không có
vốn để sản xuất, không được vay ngân hàng vì không có tài sản thế chấp.
2. Không có kinh nghiệm làm ăn
Kinh nghiệm làm ăn và kỹ thuật sản xuất rất hạn chế. Khoảng 45,77%
hộ thiếu kinh nghiệm làm ăn. Nguyên nhân là do họ thiếu kiến thức, kỹ thuật
canh tác, áp dụng kỹ thuật không phù hợp với đất đai, cây trồng, vật nuôi;
không có cơ hội học hỏi thêm kinh nghiệm, không được hổ trợ cần thiết và
một phần là do hậu quả của một thời gian dài họ sống trong cơ chế bao cấp.
về chiều rộng và chiều sâu, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển; bộ mặt nông
thôn có nhiều đổi mới.
• Phát triển nhanh mạng lưới điện ở nông thôn đã tạo điều kiện thuận
lợi để điện khí hoá NT, NN, phục vụ sản xuất và đời sống. Đây là một trong
những nội dung quan trọng hàng đầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá NN,
NT. Dưới sự triển khai của các cấp, các ngành và Chính phủ mang lại kết quả
tốt, có bước phát triển mới.
• Giao thông nông thôn đã phát triển cả về số lượng và chất lượng ở
đường xã, đường liên thôn và đường nội đồng góp phần tích cực tạo điều kiện
thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư về khu vực NT, tạo công ăn, việc làm, xoá
đói, giảm nghèo và là yếu tố cơ bản giải quyết được nhiều vấn đề KT-XH
khác. Tuy nhiên hệ thống đường giao thông NT ở vùng sâu, vùng núi cao, hải
đảo vẫn nhiều khó khăn.
• Hệ thống thuỷ lợi được chú trọng xây dựng mới và nâng cấp song
chưa đồng đều. Cụ thể như số trạm bơm nước phục vụ sản xuất NLTS trên địa
bàn xã vùng nhiều nhất là ĐBSH (3,7 trạm/xã), ĐBSCL (2,5 trạm/xã),
BTBDHMT (1,4 trạm/xã); thấp nhất là vùng TN, ĐNB chỉ đạt mức 0,2
trạm/xã.
• Hệ thống trường học các cấp ở khu vực NT được xây dựng mới, nâng
cấp và cơ bản xoá xong tình trạng trường tạm, lớp tạm.
• Hệ thống cơ sở y tế nông thôn tiếp tục được tăng cường khá toàn diện,
thực sự trở thành tuyến chăm sóc sức khoẻ ban đầu, quan trọng của dân cư
nông thôn.
6
• Mạng lưới thông tin, văn hóa phát triển nhanh, góp phần cải thiện đời
sống tinh thần của nhân dân.
• Chợ nông thôn đã được kiên cố hoá hơn trước.
• Hệ thống tín dụng nhân dân nông thôn tiếp tục tăng, tạo điều kiện
nhất là TDMNPB (chỉ 12,7% và 4,4%). Tỷ lệ hộ NT có hố xí tăng từ 88,8%
năm 2006 lên 91,4% năm 2011, trong đó hố xí tự hoại/bán tự hoại tăng nhanh
từ 16,9% lên 44,1%. Xử lý rác sinh hoạt khu vực NT tuy có nhiều khó khăn
nhưng tỷ lệ hộ có người đến thu gom rác đạt gần 25% vào năm 2011. Dù có
những bước tiến bộ so với 5 năm trước đây song môi trường ở NT vẫn là một
trong ít những lĩnh vực có nhiều hạn chế, yếu kém nhất trong bức tranh toàn
cảnh có nhiều khởi sắc về KT-XH ở NT nước ta. Những con số dưới 1/5 số xã
và dưới 1/10 số thôn có hệ thống thoát nước thải chung; dưới 45% số xã và
dưới 1/3 số thôn có tổ chức (hoặc thuê) thu gom rác thải và gần 1/4 hộ có
người đến thu gom rác từ kết quả TĐT năm 2011 đã thể hiện điều đó. Sự kém
26 phát triển về hạ tầng hệ thống nước thải và dịch vụ thu gom rác thải đặc
biệt xảy ra ở các vùng TDMNPB và TN (Tổng cục Thống Kê, 2011)
• Làng nghề nông thôn được khôi phục và phát triển, tạo nhiều việc
làm, góp phần thúc đẩy sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
Cùng với sự ra đời của các khu CN, cụm CN, nhiều làng nghề được khôi phục
và phát triển đã thu hút được nhiều nguồn vốn trong dân cư, tạo được việc
làm tại chỗ cho hàng chục vạn lao động và đào tạo, bồi dưỡng những lao động
phổ thông thành lao động có kỹ thuật. Đến năm 2011, khu vực NT có 961 xã
có làng nghề, chiếm 11% tổng số xã (tỷ lệ tương ứng của các năm 2001 và
2006 lần lượt là 6% và 8%). Số lượng làng nghề cũng tăng: Năm 2011 có
1.322 làng nghề so với 1077 làng nghề của năm 2006 và 710 làng nghề của
năm 2001. Tuy nhiên, mặt trái của các làng nghề NT cũng còn nhiều, nhất là
tình trạng gây ô nhiễm môi trường NT: nước thải, chất thải do các làng nghề
tạo ra tại các vùng quê gây ô nhiễm nguồn nước, không khí, đất đai ảnh
hưởng đến cây trồng, vật nuôi và sức khỏe người dân còn rất phổ biến. Theo
kết quả TĐT năm 2011, tỷ lệ làng nghề sử dụng thiết bị xử lý nước, chất thải
độc hại chỉ đạt 4,1% và thực trạng này đang cho thấy rõ nguy cơ gây ô nhiễm
môi trường rất cao của các làng nghề ở NT nước ta (Tổng cục Thống kê,
2011)
8
bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ. Sức mạnh của hệ
9
thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự
xã hội.
1.2.1.2. Xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để
cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của
mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công
nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được
đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao.
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn
dân, của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã
hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp.
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích
cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp,
dân chủ, văn minh.
1.2.2. Đặc trưng của nông thôn mới
Theo cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới”(Nhà xuất
bản Lao động, 2010), đặc trưng của Nông thôn mới thời kỳ CNH –HĐH, giai
đoạn 2010-2020, bao gồm:
- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn
được nâng cao.
- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã
hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ.
- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy.
- An ninh tốt, quản lý dân chủ.
- Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao...
phát huy sức mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn, nhất là hội
nông dân.
11
1.2.4. Thời gian và phạm vi thực hiện
- Thời gian thực hiện: Từ năm 2010 đến năm 2020.
- Phạm vi: Thực hiện trên địa bàn nông thôn của toàn quốc.
1.2.5 Nội dung của chương trình
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một
chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc
phòng, gồm 11 nội dung sau:
1. Quy hoạch xây dựng nông thôn mới.
2. Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội.
3. Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập.
4. Giảm nghèo và an sinh xã hội.
5. Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở
nông thôn.
6. Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn.
7. Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn.
8. Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn.
9. Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
10. Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị
- xã hội trên địa bàn.
11. Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn.
1.2.6. Nguyên tắc và nguồn lực xây dựng nông thôn
1.2.6.1. Nguyên tắc
Nội dung xây dựng nông thôn mới hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia được quy
định tại Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ.
Xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể
- Tiêu chí thứ 11: Tỷ lệ hộ nghèo
- Tiêu chí thứ 12: Cơ cấu lao động
- Tiêu chí thứ 13: Hình thức lại tổ chưc sản xuất
- Tiêu chí thứ 14: Giáo dục
- Tiêu chí thứ 15: Y tế
- Tiêu chí thứ 16: Văn hóa
- Tiêu chí thứ 17: Môi trường
- Tiêu chí thứ 18: Hệ thống tổ chức chính trị
- Tiêu chí thứ 19: An ninh trật tự xã hội
14
1.2.8. Tiêu chí 17 mục tiêu thực hiện tiêu chí 17
Tiêu chí môi trường là một trong những tiêu chí của bộ tiêu chí quốc
gia về xây dựng nông thôn mới được các cấp, các ngành hết sức quan tâm.
Theo Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 về “Phê duyệt Chương trình
mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020”. Bao
gồm 5 nội dung:
a. Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc
gia
Nước sạch theo quy chuẩn quốc gia là nước đáp ứng các chỉ tiêu theo
quy định của Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt:
QCVN02:2009/BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 17/6/2009.
Nước hợp vệ sinh là nước sử dụng trực tiếp hoặc sau khi lọc thỏa mãn
các yêu cầu chất lượng: không màu, không mùi, không vị lạ, không chứa
thành phần có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, có thể dùng để ăn
uống sau khi đun sôi.
b. Tỷ lệ số cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường
Cơ sở sản xuất kinh doanh đạt đủ các tiêu chuẩn quy định về môi
- Thôn, xã có tổ dịch vụ thu gom rác thải và xử lý tại bãi rác tập trung.
- Các cơ sở sản xuất, kinh doanh phải thực hiện thu gom, xử lý chất
thải, nước thải theo quy định.
- Các cơ sở sản xuất kinh doanh phải thực hiện thu gom, phân loại chất
thải rắn thông thường tại nguồn bằng các dụng cụ hợp vệ sinh theo hướng dẫn
của tổ thu gom; phải kí hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất
thải.
e. Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch
Nghĩa trang nhân dân được xây dựng phục vụ cho việc chôn cất của
nhân dân trong xã hoặc cụm xã. Phải được quy hoạch phù hợp với khả năng
khai thác quỹ đất; phù hợp với tổ chức phân bố dân cư và kết nối công trình
hạ tầng kỹ thuật; đáp ứng nhu cầu an táng trước mắt và lâu dài được UBND
huyện, xã phê duyệt.
Mỗi xã chỉ nên xây dựng một nghĩa trang với các hình thức mai táng
khác nhau. Đối với các xã có nhu cầu khác nhau theo từng dân tộc, tôn giáo
16
thì nên bố trí thành các khu táng riêng biệt. Đối với các điểm dân cư tập
chung có 2- 3 xã gần nhau (trong bán kính 3 km) thì quy hoạch một nghĩa
trang nhân dân chung cho các xã đó.
Khoảng cách an toàn vệ sinh môi trường tối thiểu từ nghĩa trang đến
đường bao khu dân cư, trường học, bệnh viện, công sở, được quy định như
sau:
Bảng 1.1 : Khoảng cách ly vệ sinh của nghĩa trang đến các công trình khác
Đối tượng cần cách ly
Khoảng cách tới nghĩa trang
Nghĩa trang
Nghĩa trang
xanh, có lối đi thuận lợi cho việc thăm viếng, có mương rãnh thoát nước. Mộ
phải đặt theo hàng, xây dựng đúng diện tích và chiều cao quy định.
1.3. Hiện trạng thực hiện chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới
1.3.1. Kinh nghiệm từ một số nước trên thế giới
1.3.1.1 Xây dựng nông thôn mới Nhật Bản
Công tác xử lý và bảo vệ môi trường của Nhật Bản đã được thực hiện
và trải qua cả một quá trình dài. Từ những năm 1950 đến đầu thập niên 1960,
ngay sau Thế chiến II, mục tiêu khôi phục kinh tế đã được Chính phủ Nhật
17