Tìm hiểu chi tiết nghệ thuật qua các truyện ngắn việt nam hiện đại trong chương trình THPT - Pdf 42

Tìm hiểu chi tiết nghệ thuật qua các truyện ngắn Việt Nam hiện đại
trong chương trình THPT
I. Chi tiết nghệ thuật và chi tiết nghệ thuật trong truyện ngắn
1.1. Khái niệm chi tiết nghệ thuật được nhắc đến nhiều trong lí luận văn học. Chi tiết
nghệ thuật là “các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng” (Từ
điển thuật ngữ văn học). “Chi tiết là đơn vị nhỏ nhất có thể chia ra được tùy theo một
tương quan và yêu cầu nhất định” trong tác phẩm văn học (Lí luận văn học- NXB Đại học
Sư phạm)
Chi tiết nghệ thuật được biểu hiện phong phú, có thể là một nét chân dung nhân vật,
một hành vi lời nói, một biểu hiện cử chỉ, phản ứng nội tâm, một nét phong cảnh, môi
trường, một biểu hiện sinh hoạt, một khâu quan hệ nào đó trong đời sống của nhân vật...
Tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật, là sự thống nhất hữu cơ từng yếu tố
bộ phận trong tác phẩm, vì thế ở đây chi tiết đóng vai trò quan trọng. Mỗi chi tiết đặc sắc
góp phần làm nên nét độc đáo trong nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của tác
phẩm
Chi tiết trước hết mang tính tạo hình, làm đối tượng được phản ánh hiện lên một
cách chính xác, chân thực. Từ một chi tiết về nhân vật, người đọc có thể hình dung, thấy
nhân vật như đang hiển hiển trước mắt, như con người thực ở ngoài đời. Chi tiết về tiếng
chửi của Chí Phèo ở đầu tác phẩm Chí Phèo cho thấy cụ thể chân dung của một kẻ đang
đầy u uất trong cơn say. Chi tiết tiếng sáo trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ là một nét vẽ
rất thực về cảnh Tây Bắc, trực tiếp đưa người đọc vào không khí náo nức, rộn ràng, khơi
gợi nhiều khát khao của con người những đêm tình mùa xuân.
Mặt khác chi tiết còn mang sức khái quát, có khả năng nói nhiều hơn bản thân nó.
Tùy theo từng biểu hiện cụ thể mỗi chi tiết có khả năng thể hiện, giải thích, làm rõ hơn cấu
tứ nghệ thuật của nhà văn, trở thành tiêu điểm, điểm hội tụ của tư tưởng tác giả trong tác
phẩm. Mỗi chi tiết hay bao giờ cũng gợi ra những ý nghĩa sâu xa, biểu tượng cho một quan
niệm nhân sinh, một giá trị nào đó của đời sống. Kết thúc tác phẩm Chí Phèo khi nghe tin
Chí Phèo chết, Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng và thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch bỏ
không, xa nhà cửa và vắng người lại qua. Chi tiết này không chỉ miêu tả một hành vi, cử




đẩy xộc xệch, thậm chí không thừa một chi tiết nào. Khi đã đi vào truyện(...) chi tiết này
phải soi dọi cho chi tiết khác” (Ma Văn Kháng)
Những tác giả thành công ở thể loại truyện ngắn thường rất có ý thức về việc sáng
tạo yếu tố quan trọng này. Vũ Thị Thường- nhà văn chuyên viết truyện ngắn – đã nhận
thấy ưu điểm của mình qua chi tiết chi tiết là chỗ mạnh nhất của tôi.
Để hiểu sâu sắc ý nghĩa của một chi tiết trong truyện ngắn đòi hỏi năng lực cảm thụ
văn chương, khả năng trực cảm, kinh nghiệm sống, vốn văn hóa..., về các bước để khám
phá giá trị chi tiết nghệ thuật trong truyện ngắn cần chú ý:
- Giới thiệu chi tiết: có thể giúp người đọc hình dung chi tiết xuất hiện trong hoàn cảnh
nào, gắn với tình huống cụ thể nào của tác phẩm, của nhân vật. Đây là cái nền để có thể
hình dung rõ nét về chi tiết, hiểu được ý nghĩa của chi tiết trong tác phẩm.
-Thuật dựng lại chi tiết: cần nêu một cách cụ thể chi tiết như thế nào, định danh chi tiết sự
việc, chân dung, hay lời nói...
-Ý nghĩa của chi tiết
+ Trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng: thể hiện giá trị hiện thực, nhân đạo như thế nào, thể
hiện những quan niệm nhân sinh gì
+Ý nghĩa trong việc khắc họa nhân vật, nghệ thuật kể chuyện, xây dựng kết cấu truyện...
Ở trên là một số kiến thức lí luận chung nhất về chi tiết nghệ thuật trong truyện
ngắn. Phần dưới đây xin được trình bày giới thiệu một số chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong
các tác phẩm truyện ngắn hiện đại Việt nam được học trong chương trình THPT.
II. Một số chi tiết nghệ thuật đặc sắc qua các truyện ngắn hiện đại trong chương
trình THPT
1. Những chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong các truyện ngắn Việt Nam giai đoạn
1930-1945
1.1. Chi tiết bát cháo hành trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Đề tài người nông dân có thể coi là mảnh đất màu mỡ mà các nhà văn hiện thực 1930
-1945 đã gieo hạt nghệ thuật và gặt hái được những mùa bội thu. Nam Cao là người đến sau
khi mà mảnh đất ấy đã được khai vỡ, nhưng bằng tất cả tâm huyết, tình cảm của mình đối
với những con người nghèo khổ - những kẻ dưới đáy của xã hội, Nam Cao đã tìm được cho

tay Thị mà hắn “ngạc nhiên”. Ngạc nhiên cũng đúng thôi vì “từ trước đến giờ đã ai cho hắn
cái gì. Muốn cái gì hắn phải dọa nạt hay cướp giật”. Một cảm xúc khác thay cho cái ngạc
nhiên ban đầu “hắn thấy mắt ươn ướt, một chút gì như là ăn năn”. Chí ăn năn về những gì


mình đã gây ra, có thể là như lời nhà văn “người ta thường ăn năn về những việc mình làm
khi người ta không ác được nữa” nhưng dẫu sao điều ấy là không muộn. Chí ăn cháo hành và
thấy “cháo hành ăn rất ngon”. Tình người đầu tiên Chí nhận được sao không ngon cho được.
Sự chăm sóc đầy ân tình dẫu chăng còn thô vụng của Thị Nở nhưng vẫn đáng quý biết bao.
Còn gì quí giá hơn khi người ta ốm còng queo một mình mà lại được một bàn tay chăm sóc.
Chí đã khao khát biết bao một bàn tay chăm sóc như thế. Bát cháo hành - sự chăm sóc, quan
tâm vô tư của Thị Nở làm Chí nghĩ tới bà Ba Bá Kiến. Hai người đàn bà quan tâm tới Chí
nhưng một người mặt hoa da phấn, áo quần là lượt nhưng tâm địa tà dâm chỉ cốt thỏa mình,
còn một người xấu ma chê quỷ hờn nhưng tâm địa tốt, quan tâm Chí thật lòng. Bát cháo hành
trên tay hơi nghi ngút làm cho Chí “vã mồ hôi ra như tắm”. Bát cháo tưởng vặt vãnh đã trở
thành liều thuốc giải cảm hữu hiệu cho Chí.
Bát cháo hành - vị thuốc giải độc cho cuộc đời Chí. Không chỉ giải cảm, bát cháo hành
- tình người duy nhất đã gợi thức phần lương tri ngủ quên trong lốt “con quỷ dữ Chí Phèo”.
Từ ăn năn, hối hận, Chí bỗng thấy thèm lương thiện, thèm trở về cuộc sống ngày trước. Bát
cháo hành đã dẫn đường cho hi vọng hoàn lương: Thị Nở có thể làm hòa với hắn thì mọi
người cũng có thể làm hòa với hắn. Khát khao lương thiện bùng dậy mãnh liệt đã khiến Chí
dồn hết hi vọng vào Thị Nở - về cây cầu đưa hắn về với cuộc đời lương thiện. Bát cháo hành
đã hoàn thành thiên chức gọi chất người, khơi hòn than đỏ vùi trong lớp tro tàn đang âm ỉ, nó
đưa Chí qua một cuộc lột xác để về với sự lương thiện.
Nhưng bát cháo hành cũng chính là chi tiết đẩy bi kịch của Chí lên tới đỉnh điểm, dẫn
tới một kết thúc thảm thương đầy đau đớn. Sau năm ngày ở với Chí Phèo, Thị Nở “bỗng nhớ
ra mình còn một bà cô trên đời” và quyết định “dừng yêu” để xin ý kiến bà cô. Thị bị bà cô
xỉa xói vào mặt và khi quay lại nhà Chí Phèo, Thị chửi Chí bằng tất cả những lời của bà cô và
vùng vằng quay về. Chí “ngẩn người ra” và chạy vội ra níu tay Thị nhưng bị Thị dúi cho một
cái rồi bỏ về. Chí rơi xuống hố sâu của tuyệt vọng. Thị Nở đã phụ bạc hắn, hắn không còn cơ

Với hai chị em Liên thì sự mong mỏi ấy rõ ràng, cụ thể hơn. Chúng chờ tàu từ chiều cho đến
khuya để được thấy đoàn tàu và ngày nào cũng thế. Khi nhìn thấy đoàn tàu chạy qua phố
huyện thì dường như chúng mới được sống trọn vẹn một ngày.
Từ xa, hình ảnh đoàn tàu đã hiện lên với “ngọn lửa xanh biếc như trơi”,với “tiếng còi
vọng lại theo ngọn gió xa xôi”. Rồi đoàn tàu đến gần trong âm thanh dồn dập, ồn ào, rầm rộ,
tiếng ghi rít mạnh lên. Khói bừng sáng, đèn sáng trưng chiếu sáng xuống mặt đường. Một thứ
âm thanh mạnh mẽ và huyên náo hẳn. Một thứ ánh sáng lấp lánh, rực rỡ ngập tràn phố huyện.


Nhưng đoàn tàu đi qua trong khoảnh khắc rồi dần dần mất hút vào khoảng sâu của đêm tối.
Tiếng vang động nhỏ dần rồi tắt hẳn, trả lại phố huyện nét vẻ vốn có của nó.
Chi tiết đoàn tàu xuất hiện đã góp phần soi rõ tâm trạng các nhân vật, đặc biệt là chị
em Liên. Hai chị em đã chờ tàu trong niềm thiết tha, khắc khoải rồi đón tàu trong niềm háo
hức, say mê, tiễn tàu trong niềm nuối tiếc, bâng khuâng. Chúng chờ tàu không phải vì tò mò,
không phải để bán hàng, không đợi người quen mà là để được nghe âm thanh, được nhìn ánh
sáng và được sống với một thế giới khác.
Đây còn là chi tiết giàu ý nghĩa biểu tượng, góp phần thể hiện tư tưởng, chủ đề tác
phẩm. Đoàn tàu là hình ảnh biểu trưng cho quá khứ. Nó chạy về từ Hà Nội, từ miền kí ức tuổi
thơ thể hiện ước mơ và khát vọng của chị em Liên. Đó là ước mơ được quay trở về quá khứ,
sống một cuộc sống tươi đẹp như quá khứ đã qua. Khi hiện tại cuộc sống làm con người
không thỏa mãn, người ta thường có xu hướng quay trở lại quá khứ, đặc biệt là quá khứ tươi
đẹp. Đặt trong mối quan hệ với hiện tại, đoàn tàu là một thế giới khác hẳn với cuộc sống tràn
đầy bóng tối, tẻ nhạt, đơn điệu nơi phố huyện nghèo. Thế giới rực rỡ ánh sáng, ngập tràn âm
thanh, chứa đựng bao điều mới mẻ, thú vị. Và thế giới ấy còn giúp những người dân nơi phố
huyện nhận ra còn có một cuộc sống đáng sống hơn nơi phố huyện nghèo – cái ao đời phẳng
lặng kia. Chi tiết đoàn tàu xuất hiện còn khơi dậy khát vọng và ước mơ của chị em Liên, của
những người dân phố huyện về một tương lai sáng lạn. Nó đánh thức khát vọng mơ hồ trong
cõi vô thức của hai tâm hồn thơ dại: khát vọng vượt thoát, khát vọng đổi thay, khát vọng
kiếm tìm. Nhưng rồi đoàn tàu ấy lại biến mất. Ước mơ thoát khỏi hiện tại vốn đã rất mong
manh, xa xôi. Hình ảnh đoàn tàu như niềm vui, tia hi vọng chợt lóe lên rồi vụt tắt. Tất cả trở

phiện nhất vùng mà đó là chỗ ở của con ở, thậm chí không bằng con ở. Căn buồng ấy
giống như một miền đời bị quên lãng
Trong căn buồng ấy, chân dung số phận khổ đau của đời Mị được nhà văn khắc họa
thật rõ nét: Mị sống câm lặng như đá núi “ không nói”, lầm lụi, chậm chạp trơ lì như “
con rùa” quẩn quanh nơi xó cửa. Nếu ở trên, Mị có lúc tưởng mình là “con trâu con ngựa”
- nhưng hình ảnh đó mới chỉ gợi nỗi khổ cực vì lao động vất vả thì hình ảnh “ con rùa” có
sức ám ảnh mang ý nghĩa về thân phận bị đè nén, bị bỏ quên. Mị mất hết ý niệm về không
gian, thời gian: chỉ thấy trăng trắng không biết là sương hay là nắng. Cuộc sống của Mị
không có sắc màu, âm thanh, không có cả ngắn dài thời gian, không chia biệt đêm ngay.


Không chỉ có thể, Mị còn không có ý thức về sự sống đợi đến bao giờ chết thì thôi. Phải
chăng thứ ngục thất tinh thần ấy đã làm héo mòn, tàn úa từng ngày từng tháng tâm hồn Mị.
Mị sống như loài thảo mộc cỏ cây không hương không sắc, lay lắt, dật dờ, vô hồn, vô cảm.
Không còn nữa một cô Mị đẹp như đóa ban trắng của núi rừng Tây Bắc vừa thắm sắc,
đượm hương, một người cô Mị khao khát tình yêu và tự do có ý thức sâu sắc về quyền
sống, từng thiết tha xin cha “ đừng gả con cho nhà giàu”, từng có ý định ăn lá ngón là kết
thúc chuỗi ngày sống mà như chết. Như vậy, vượt lên trên nghĩa tả thực về không gian
sống của MỊ, căn buồng ấy là biểu tượng cho ngục thất tinh thần, địa ngục trần gian giam
cầm khát vọng sống, khát vọng tự do của đời Mị.
Chi tiết đó đã góp phần thể hiện tư tưởng, thái độ của nhà . Nhà văn đã tố cáo sâu
sắc chế độ cai trị miền núi đã đầy đọa con người, làm tê liệt quyền sống, quyền khao khát
hạnh phúc của họ. Đồng thời, Tô Hoài bày tỏ tấm lòng xót xa thương cảm cho số phận
người phụ nữ vùng núi cao Tây Bắc khi Cách mạng chưa về. Đó cũng là cảm hứng nhân
đạo quen thuộc trong văn học
Nếu hình ảnh căn buồng Mị nằm là một trong những chi tiết có sức ám ảnh ở truyện
ngắn Vợ chồng A Phủ nhất thì hình tượng tiếng sáo đêm tình mùa xuân lại có sức quyến rũ
lòng người nhất. Hình tượng tiếng sáo nằm ở phần giữa tác phẩm, ngòi bút Tô Hoài đã rất
dụng công để miêu tả những thanh âm của tiếng sáo vùng núi cao Tây Bắc trong đêm tình
mùa xuân. Sau những chuỗi ngày sống chỉ mang ý nghĩa của sự tồn tại,tê liệt, chai lì cái

Chi tiết góp phần thể hiện tư tưởng, thái độ của nhà văn và thành công của ngòi bút
Tô Hoài. Đó là tấm lòng nâng niu trân trọng của nhà văn đối với nét đẹp văn hóa của và vẻ
đẹp tâm hồn con người Tây Bắc. Chi tiết giàu chất thơ, lai láng dư vị trữ tình có sức sống
lâu bền trong tâm hồn người đọc.
2.2.Chi tiết nụ cười và nước mắt , chi tiết nồi cháo cám trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim
Lân.
Chọn nạn đói năm 1945 – trang sử bi thương nhất của lịch sử dân tộc làm bối cảnh
của câu chuyện, Kim Lân đã kể cho ta nghe một câu chuyện lạ lùng nhất trong cuộc sống :
chuyện anh Tràng bỗng nhiên có người đàn bà về trong những ngày tối sầm vì đói khát ấy.
Chính tình huống độc đáo và éo le ấy đã nảy sinh bao nét tâm lí ngổn ngang, bao niềm vui,
nỗi buồn. Và hình ảnh nụ cười, nước mắt trở đi trở lại nhiều lần trong tác phẩm được coi là
những chi tiết nghệ thuật đặc sắc góp phần thể hiện tài năng của Kim Lân trong việc khắc
họa tâm lí nhân vật và thể hiện tư tưởng nhà văn, chủ đề tác phẩm.


Hình ảnh nụ cười được nhà văn nhắc đến nhiều lần khi khắc họa chân dung nhân vật
Tràng. Khi đẩy xe bò thóc hắn vuốt mồ hôi trên mặt cười, trên đường dẫn người vợ nhặt
về: hắn tủm tỉm cười, hai con mắt sáng lên lấp lánh,khi trẻ con trêu chọc Tràng bật cười
Bố ranh. Khi người vợ nén tiếng thở dài trước quang cảnh của nhà Tràng, hắn “ quay lại
nhìn thị cười cười”. Bà cụ Tứ về, Tràng tươi cười mời mẹ ngồi lên giường…
Nụ cười của Tràng đã góp phần khắc họa tính cách, tâm lí tính cách thuần phác,
nhân hậu, yêu đời của gã trai quê mùa, thô kệch; nói cùng ta niềm hạnh phúc, sung sướng
của con người trong tận cùng đói khát vẫn không thôi khao khát tình yêu, tổ ấm gia đình.
Đặt trong bối cảnh của câu truyện viết về nạn đói thảm thương 1945, hình ảnh nụ cười của
Tràng (lặp lại 8 lần) giống như cơn gió mát lành làm dịu đi cái căng thẳng ngột ngạt, cái
trăm đắng ngàn cay của con người ngày đói, thể hiện cái nhìn lạc quan, niềm hi vọng của
nhà văn vào cuộc sống. Phải chăng, nhà văn đã gửi gắm một thông điệp giản dị: chỉ có tình
yêu thương mới có thể mang đến niềm vui, nụ cười hạnh phúc cho con người.
Bên cạnh việc khắc họa tâm lí của Tràng qua nụ cười, Kim Lân cũng chú ý nét tâm
lí của nhân vật bà cụ Tứ qua chi tiết giọt nước mắt. Khi hiểu ra cơ sự nhặt vợ của con “ kẽ

người. Thứ hạnh phúc bé nhỏ, mong manh vừa mới nhen nhúm ngay lập tức bị đe dọa bởi
cái đói. Nỗi xót xa, buồn tủi thấm trong trang văn của Kim Lân như lan sang người đọc.
Nhưng vượt lên trên nghĩa tả thực, bát cháo cám còn làm ngời sáng trước mắt ta tấm lòng,
tình cảm của người mẹ già khốn khó. Bà cụ Tứ vừa múc cháo, vừa đùa vui: “ Chè khoán
đây, ngon đáo để cơ”. Nào phải bà không thấu cái vị đắng ngắt, chát xít của cháo cám, đâu
phải bà không hay về tương lai mù xám của những đứa con mình? Người mẹ già ấy đã có
nén lại nỗi lo lắng thắt lòng cho tương lai đôi trẻ, đã vượt qua mọi sượng sùng, ngần ngại
với người con dâu về gia cảnh nhà mình để khơi dậy chút nguuồn vui cho không khí gia
đình. Bên tận cùng nỗi xót xa, ta lại cảm động vô cùng trước mênh mông tấm lòng người
mẹ. Hơn nữa, chẳng phải ngẫu nhiên Kim Lân lại để cho người mẹ già nua tuổi tác, xế
bóng ngả chiều lại là người khơi niềm vui trong thảm cảnh ngày đói. Là Kim Lân thấy lửa,
khơi lửa và tin rằng có lửa ngay trong đống tro tưởng sắp lụi tàn, thấy mầm xanh sự sống
chẳng những vươn lên từ thân non hay một đời cây cường tráng mà còn khỏe khoắn vươn
lên từ chính một gốc cây sắp tròn cổ thục. Không nghi ngờ gì nữa, món chè khoán của bà
cụ Tứ làm một chi tiết Kim Lân trọn vẹn gởi trao niềm tin và khát vọng sống của con
người.


Chi tiết bát cháo cám cũng thể hiện khát khao hạnh phúc gia đình của người đàn bà
vô danh. Ta hiểu thị nhắm mắt đưa chân không đơn thuần vì miếng ăn, thị không bỏ đi khi
chứng kiến gia cảnh bần hàn của Tràng, nay ta càng thấu hiểu sâu sắc hơn cái khát vọng có
một bến đỗ cho con thuyền phiêu dạt, một tổ ấm dừng chân nơi thị trong cái cử chỉ “ điềm
nhiên và vào miệng miếng cháo cám”. Cái cử chí và thái độ ấy cho thấy thị thật ý tứ, sẵn
sàng đồng cam cộng khổ với gia đình Tràng. Hạnh phúc mong manh vừa nhen nhóm ấy,
phải chăng cần lắm những đôi bàn tay nâng niu như vậy. Lời nói của bà cụ Tứ và hành
động của người con dâu chính là cách những người phụ nữ giữ gìn, bảo vệ và vun đắp cho
niềm hạnh phúc vừa mới chớm nở.
Sáng tạo chi tiết bát cháo cám, Kim Lân không chỉ gợi lại sinh động thảm trạng ngày
đói năm nào mà nhà văn còn muốn ca ngợi tình người nồng thắm nơi những tấm lòng
thuần hậu, chất phác. Trong cảnh đói bi thương ấy, họ vẫn không thôi yêu thương, vẫn

và đơn thương độc mã. Đau thương là kết cục tất yếu khi kẻ thù cầm súng ta chưa cầm giáo
mác. Và khi có giáo mác trong tay, sức sống tinh thần quật cường trong Tnú cũng dân làng
lại bừng dậy. Xác mười tên giặc ngổn ngang quanh đống lửa xà nu. Rồi Tnú đi lực lượng
và với chính bàn tay tật nguyền ấy, anh đã bóp chết tên tướng chỉ huy trong hầm cố thủ.
Bàn tay Tnú vì thế còn là biểu tượng cho sức mạnh quật cường của người Tây Nguyên: từ
trong đau thương mà mạnh mẽ vừng lên, vươn dậy.
Xây dựng chi tiết đôi bàn tay Tnú, Nguyễn Trung Thành tha thiết ngợi ca phẩm chất
cao quý của người anh hùng và cũng là của chính người dân Tây Nguyên ông từng tha thiết
yêu thương và gắn bó. Bàn tay Tnu có thể xem là một điển hình nghệ thuật độc đáo kết
tinh tài năng, tâm huyết của người con Tây Nguyên – Nguyễn Trung Thành.
“Ở truyện ngắn, mỗi chi tiết đều có vai trò quan trọng như một chữ trong một bài
thơ tứ tuyệt. Trong đó, có những chữ đóng vai trò đặc biệt như nhãn tự trong thơ vậy ”
( Nguyễn Đăng Mạnh). Bàn tay T nú hẳn cũng là nhãn tự đặc biệt để ta trông nhìn soi
chiếu phẩm chất người anh hùng.
3. Những chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong các truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975
đến hết thế kỉ XX
3.1.Chi tiết tấm ảnh nghệ thuật trong bộ lịch cuối năm trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa.
Nguyễn Minh Châu là nhà văn của những biểu tượng. Truyện ngắn của Nguyễn Minh
Châu sau 1975 đạt được sự hàm súc, đa nghĩa một phần là nhờ nhà văn đã sáng tạo được


những hình ảnh, chi tiết giàu giá trị biểu tượng. Tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa là một
trường hợp như vậy.
Hình ảnh tấm ảnh trong bộ lịch cuối năm đã khép lại tác phẩm nhưng đọng lại mãi với
những suy tư, tự nghiệm của nghệ sĩ Phùng và người đọc: “Không những trong bộ lịch
năm ấy …hoà lẫn trong đám đông”. Không khó khăn mấy người đọc cũng nhận thấy ở
đây dường như có hai bức ảnh trong một khuôn hình
Trước hết đó là một bức ảnh thuần nghệ thuật dành cho những nhà sành nghệ thuật:
Một bức ảnh mang vẻ đẹp toàn mĩ, vốn là một cảnh đắt trời cho, kết tinh công phu và sự
may mắn của người nghệ sĩ (sau hàng tuần mai phục, Phùng đã chộp được). Một bức ảnh

hơn vào chính bức ảnh của mình, chính thứ nghệ thuật tưởng như đã hoàn mĩ của mình.
Không ai bắt anh làm thế và không ai biết anh làm thế, nhưng với trách nhiệm, lương tâm
của một nghệ sĩ chân chính buộc anh phải liên tục trăn trở như vậy. Con người Phùng hay
cũng chính hình ảnh tác giả bởi nhà văn đã từng đặt mệnh lệnh cho mình: Không có quyền
miêu tả cuộc sống một cách hời hợt. Sự lo lắng cho con người đã trở thành nỗi quan hoài
thường trực.
Không phải đến cuối chi tiết bức hình mới xuất hiện và cũng không phải ngẫu nhiên
mà Nguyễn Minh Châu lại kết thúc truyện ngắn của mình bằng chi tiết này: Phùng nhận
nhiệm vụ chụp ảnh cho bộ lịch cuối năm là anh đã khoác vào mình một thiên chức quan
trọng của nghệ thuật (làm sao phải đẹp để thoả mãn nhà xuất bản và thị hiếu mọi người
nhưng đồng thời lại nói được trung thực nhất về cuộc sống). Phùng đã làm nên bức ảnh
bằng tất cả niềm đam mê và trách nhiệm và anh đã có được niềm vui của một người nghệ
sĩ chân chính. Nhưng khép lại tác phẩm, chính bức ảnh ấy lại làm anh không dứt khỏi
những ưu tư, vỡ ra bao nhiêu nhận thức. Chi tiết bức ảnh đã trở thành một cấu tứ cho
truyện ngắn này.
Riêng tôi vẫn tự đặt câu hỏi: Nếu được chụp lại bức ảnh Phùng sẽ chụp như thế nào?
Điều đó hẳn cũng có nhiều thú vị!
3.2. Chi tiết cây si ở đền Ngọc Sơn trong Một người Hà Nội của Nguyễn Khải
Một người Hà Nội của Nguyễn Khải là một tác phẩm có thể đối thoại cởi mở với
người đọc về rất nhiều điều. Truyện chứa đựng cả một cái nhìn, một quan niệm, cách khám
phá mới về con người của nhà văn. Con người không chỉ được xác lập từ những chuẩn khô
cứng mà còn ở cả chiều sâu tâm linh, con người có hệ giá trị, có chiều sâu văn hoá…Ở
cuối truyện ngắn này, Nguyễn Khải đã dùng một chi tiết để tô đậm hơn vẻ đẹp rộng rãi của


hạt bụi vàng Hà Nội – Bà Hiền. Đẩy sự giác ngộ và niềm ngưỡng mộ của nhân vật tôi
(người cháu) với bà cô Hiền lên đến đỉnh điểm, hoàn toàn bị thuyết phục.
Hình ảnh cây ở đền Ngọc Sơn hiện ra với bao nhiêu chiêm nghiện suy tuy của
người phụ nữ lớn tuổi đã đi gần hết đời người và từng trải qua bao nhiêu thời cuộc: “Mùa
hè năm nọ,….Cây cổ thụ đổ nghiêng tán đè lên hậu cung đền Ngọc Sơn. Một phần bộ rễ

tầng nữa chăng, cái tầng vô hình, không thể biết. Vẻ đẹp rộng rãi ở con người bà Hiền
cũng góp phần làm nên chất váng lấp lánh ở con người này
Nguyễn Khải chưa hẳn đã là nhà văn của những biểu tượng, nhưng chi tiết cây si ở
đền Ngọc Sơn là một sáng tạo gợi nhiều suy nghĩ.
Thay cho lời kết
Có thể nói, còn có rất nhiều những chi tiết hay trong tác phẩm văn học Việt Nam
trong chương trình, và những chi tiết được kể đến trên đây chỉ là một số trong rất nhiều
những chi tiết hay. Việc tìm hiểu chi tiết nghệ thuật mang ý rất thiết thực trong xu hướng
học và thi cử hôm nay- gắn liền với việc đọc hiểu văn bản theo đúng nghĩa của nó. Rất
mong được học tập, tiếp thu đồng nghiệp trong việc tìm hiểu về vấn đề này qua các bản
báo cáo khác.
Ngày 15 tháng 8 năm 2013




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status