ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ HOÀI THU
GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
CỦA CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN PHỔ THÔNG HIỆN
HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thái Nguyên – 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ HOÀI THU
GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
CỦA CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN PHỔ THÔNG HIỆN
HÀNH
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Dương Thu Hằng
Nguyễn Thị Hoài Thu
iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chương trình
CT
Dạy học
DH
Học sinh
HS
Giáo dục
GD
Giáo viên
GV
Phổ thông
PT
1.1.2. Mối quan hệ giữa văn hóa và tác phẩm văn học ..................................... 10
1.1.3. Diện mạo văn hóa, văn học Việt Nam thời kỳ trung đại ........................ 12
1.2. Hệ giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu trong văn học Việt Nam thời kỳ
trung đại ............................................................................................................. 19
1.2.1. Sự khoan dung ......................................................................................... 19
1.2.2. Tinh thần yêu nước.................................................................................. 23
1.3. Thực trạng dạy - học các tác phẩm văn học Việt Nam thời trung đại trong nhà
trường phổ thông ............................................................................................... 26
1.3.1. Đặc điểm của chương trình Ngữ văn phổ thông, Sách giáo khoa hiện hành 26
1.3.2. Những khó khăn cơ bản trong dạy - học các tác phẩm văn học Việt Nam
trung đại trong nhà trường phổ thông ............................................................... 29
v
Chương 2 NHẬN DIỆN NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
TIÊU BIỂU TRONG CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM THỜI
TRUNG ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN PHỔ THÔNG HIỆN
HÀNH ............................................................................................................... 32
2.1. Truyền thống yêu nước, yêu độc lập- tự do ............................................... 32
2.1.1. Yêu nước là tự hào dân tộc ..................................................................... 32
2.1.2. Truyền thống căm thù giặc sâu sắc ......................................................... 36
2.1.3. Truyền thống yêu nước thể hiện ở khát vọng độc lập ............................. 40
2.1.4. Truyền thống yêu quê hương, đất nước .................................................. 42
2.2. Truyề n thố ng nhân đa ̣o............................................................................... 44
2.2.1. Ca ngợi, trân trọng vẻ đẹp của con người .............................................. 44
2.2.2. Đồng tình với khát vọng của con người .................................................. 47
2.2.3. Đồng cảm, xót thương cho số phận bi kịch của người phụ nữ trong xã hội
phong kiến ......................................................................................................... 49
2.2.4. Hướng tới những giải pháp đem đến hạnh phúc cho con người, cuộc sống.
3.4.3. Chủ đề Tích hợp giáo dục văn hóa ứng xử trong tình bạn, tình yêu ...... 88
3.4.4. Chủ đề Tích hợp giáo dục văn hóa ứng xử trong gia đình ..................... 91
3.4.5. Chủ đề Tích hợp giáo dục văn hóa ứng xử với thiên nhiên .................... 94
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 102
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 107
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, toàn cầu hoá không chỉ mang lại thời cơ
lớn mà còn tạo ra những thách thức đối với tất cả các quốc gia, đặc biệt là với
các nước đang phát triển. Trước xu thế toàn cầu hoá, văn hoá Việt Nam có cơ
hội giao lưu với các nền văn hoá khác trên thế giới. Đây cũng là giai đoạn mà
các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc phải đối diện với những tác động
tiêu cực của quá trình hội nhập. Hội nhập quốc tế và giữ gìn bản sắc văn hoá
dân tộc là những nhu cầu tất yếu, khách quan để một dân tộc có thể tồn tại và
phát triển trong xu thế toàn cầu hoá. Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan,
lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này vừa có mặt tích cực vừa có
mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh” [48].
Hội nhập quốc tế và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là hai mặt thống nhất,
có quan hệ chặt chẽ với nhau. Thách thức lớn nhất đối với Việt Nam là làm thế
nào để nền văn hóa dân tộc vừa có thể tiếp thu được các giá trị thời đại, tinh
hoa văn hoá nhân loại, vừa có thể giữ được bản sắc dân tộc vốn có; tiếp tục phát
triển trong sự giao lưu với cộng đồng thế giới mà không bị hoà tan, không bị
nhấn chìm vào các nền văn hóa khác hoặc trở thành “cái bóng mờ” của dân tộc
khác, nền văn hoá khác.
Văn hóa và những giá trị văn hóa truyề n thố ng là mô ̣t vấ n đề đã đươ ̣c đề
câ ̣p rấ t nhiề u. Về văn hóa không thể không nhắc tới cuốn Việt Nam văn hóa sử
cương của Đào Duy Anh in lần đầu tiên năm 1938 được ấn hành bởi Quan Hải
Tùng Thư. Ngoài ra, còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác như: Cơ sở văn
hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm, Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế của Nguyễn Chí Bền, Văn hóa truyền thống dân tộc với việc giáo
dục thế hệ trẻ của Nguyễn Hồ ng Hà, Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị
văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập của Ngô Đức Thịnh,
Văn hóa gia đình Việt Nam của Vũ Gia Khánh…
Trong bài viế t Một số vấ n đề lí luận nghiên cứu hê ̣ giá tri ̣ văn hóa truyề n
thố ng trong đổ i mới và hội nhập, tác giả Ngô Đức Thinh
̣ cho rằ ng: “Chúng ta bảo
3
tồn văn hoá truyền thống hay các giá trị văn hoá truyền thống phải trên nguyên
tắc phát triển, vì mục tiêu phát triển. Nói cách khác, cái gì trong kho vốn giá trị
truyền thống đóng vai trò động lực thúc đẩy phát triển thì chúng ta bảo tồn, phát
huy, còn cái nào cản trở, kìm hãm sự phát triển thì cần hạn chế và dần loại trừ. Do
vậy, nguyên tắc phát triển phải là nguyên tắc mang ý nghĩa chỉ đạo cho việc bảo
tồn, phát huy giá trị truyền thống”. [42]
Bàn về nhiê ̣m vu ̣ Giữ gìn và phát huy giá tri ̣ truyề n thố ng của con người
Việt Nam - Một yêu cầu tấ t yế u khách quan trong sự nghiê ̣p công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n
đại hóa, tác giả Trương Hoài Phương viết: “Nhiệm vụ giữ gìn và phát huy các giá
trị truyền thống của con người Việt Nam là yêu cầu tất yếu khách quan trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Muốn thực hiện đươ ̣c nhiê ̣m vu ̣ đó cầ n có
hai nguyên tắ c. Thứ nhấ t, tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức
về các giá trị truyền thống của con người Việt Nam. Thứ hai, thường xuyên quan
tâm, tạo lập môi trường xã hội lành mạnh, đấu tranh chống nguy cơ xói mòn các
phổ biến về tư tưởng, tình cảm, thói quen, tập quán, lối sống và cách ứng xử của
một cộng đồng người nhất định, được hình thành và phát triển trong lịch sử, đã trở
nên ổn định và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Một số biểu hiện của giá
tri văn
hóa truyề n thống đã được đề cập đến như: Tinh thần yêu nước; tinh thần tự
̣
chủ, tự lực, tự cường, ý thức độc lập tự do; tinh thần nhân ái, khoan dung; tinh thần
đoàn kết; tinh thần cần cù, tiết kiệm; tinh thần hiếu học; tinh thần mong muốn cuộc
sống bình dị, yên ổn trong hòa bình, đề cao các giá trị văn hóa làng xã, dòng họ,
gia đình; tinh thần nhẫn nại chịu đựng; giản dị, khiêm tốn, chất phác, thật thà...”
[12, tr 21]. Đó là những giá trị văn hóa truyền thống cơ bản, vô cùng quý báu, đã
tạo nên cốt cách riêng biệt của con người Việt Nam.
Những công triǹ h nghiên cứu kể trên đã tiế p câ ̣n giá tri ̣ văn hóa ở nhiề u
phương diêṇ khác nhau. Tuy nhiên chưa có mô ̣t công trình nào đề câ ̣p đế n vấ n đề
giá tri ̣của văn hóa truyề n thố ng trong các tác phẩ m văn ho ̣c Viê ̣t Nam trung đa ̣i
ở chương trình Ngữ văn phổ thông hiêṇ hành. Khai thác đề tài giá tri truyề
n thố ng
̣
trong các tác phẩ m văn ho ̣c trung đa ̣i Viê ̣t Nam sẽ bổ sung thêm hướng nghiên
cứu về văn hóa Viê ̣t đồ ng thời sẽ góp phầ n đổ i mới da ̣y - ho ̣c Ngữ văn ở trường
phổ thông. Đề tài của chúng tôi kế thừa, tiếp nối những công trình, bài nghiên cứu
trước đó, đồng thời phát triển một số điểm, cung cấp thêm tài liệu tham khảo về
5
dạy học các tác phẩm văn học Việt Nam trung đại trong chương triǹ h Ngữ văn
phổ thông hiện hành.
Trong chương trin
̀ h Ngữ văn phổ thông hiêṇ hành có 50 tác phẩ m/đoạn
5. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nhận diện những giá trị văn hóa truyền thống của các tác phẩm văn học
trung đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn phổ thông hiện hành.
- Tích hợp giáo dục giá trị văn hóa truyền thống trong dạy- học các tác
phẩm văn học Việt Nam thời trung đại trong chương trình Ngữ văn phổ thông
hiện hành.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận văn, chúng tôi vận dụng đồng bộ các phương pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê, phân loại các tác phẩm văn học
Việt Nam trung đại trong chương trình Ngữ văn phổ thông hiện hành và tổng hợp các
giá trị văn hóa truyền thống trong các sáng tác đó theo những tiêu chí nhất định.
- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Sử dụng phương pháp tiếp cận văn hóa
học để giải mã các giá trị văn hóa tìm ra nền tảng nền tảng hệ giá trị văn hóa truyền
thống của các tác giả văn học Việt Nam trong chương trình phổ thông.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp phương pháp nghiên cứu văn
hóa, nghiên cứu lịch sử - xã hội, lí luận văn học,...trên cơ sở kế thừa và khai thác
thế mạnh của các ngành khoa học khác, tìm hiểu mối quan hệ giữa yếu tố đó và
văn học.
Ngoài ra luận văn của chúng tôi còn sử dụng các thao tác nghiên cứu khác
như tổng hợp, phân tích, so sánh...
6. Đóng góp mới của luận văn
Đây là công trình đầ u tiên nghiên cứu hê ̣ thố ng các giá tri ̣ văn hóa truyề n
thố ng tiêu biể u của các tác phẩ m văn ho ̣c Việt Nam trung đa ̣i trong chương trình
Ngữ văn phổ thông.
7
cận: tiếp cận giá trị học, tiếp cận hoạt động, tiếp cận nhân cách và tiếp cận ký hiệu
học. Trong bốn cách tiếp cận này thì tiếp cận giá trị học có một lịch sử lâu đời.
Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam của tác giả Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa:
“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con
người với môi trường tự nhiên và xã hội” [39]. Như vậy, với cách định nghĩa này
thì nội hàm của khái niệm văn hóa bao gồm: Thứ nhất, đó là những giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người
và vì con người. Thứ hai, những giá trị mà con người sáng tạo ra đó phải mang
tính nhân tính nghĩa là nó phải mang tính người. Đến năm 1982, tại Hội nghị thế
giới về các chính sách văn hóa đã thông qua tuyên bố: “Trong ý nghĩa rộng nhất,
ngày nay văn hóa có thể được coi là toàn bộ các đặc tính đặc biệt về tâm hồn, vật
chất, trí tuệ và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội. Nó không
9
chỉ bao gồm nghệ thuật và văn học, mà cả lối sống, các quyền cơ bản của nhân
loại, các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng” [58].
Về giá trị và giá trị văn hóa: giá trị là phạm trù gắn liền với sự xuất hiện của
con người (tách khỏi động vật) và phát triển cùng đời sống con người như là một
chủng loại có văn hoá. Giá trị là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của
con người về tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng chân, thiện, mĩ, giúp khẳng
định và nâng cao bản chất người. Giá trị văn hóa là sự khẳng định của con người
với sự tồn tại vật chất, tinh thần của bản thân mình, quan hệ, hành vi, thái độ, khích
lệ, động viên con người sống theo thang giá trị của mình. Giá trị văn hóa truyền
thống là những giá trị tốt đẹp tiêu biểu cho một nền văn hóa, tạo nên bản sắc văn
hóa của một dân tộc, được chắt lọc, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong
suốt chiều dài phát triển của lịch sử. Các giá trị văn hóa truyền thống đó kết tinh lại
trong quan niệm, tư tưởng, triết lý, trong đạo đức và cách thức ứng xử, phản ánh
Như vậy, theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, các giá trị văn hóa truyền
thống không chỉ có vai trò to lớn đối với sự tồn vong mà còn khẳng định sức sống
mãnh liệt của dân tộc trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Ngày nay, các giá trị
văn hóa truyền thống dân tộc đóng một vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc sẽ tạo
nên sức mạnh trong công cuộc phát triển đất nước và giảm bớt, loại trừ hay ít ra
làm hạn chế không ít những tiêu cực phát sinh từ mặt trái của cơ chế thị trường.
Một trong những nguồn có thể khai thác và giáo dục giá trị văn hóa truyền thống
đó là thông qua dạy học các tác phẩm văn học Việt Nam trung đại ở chương trình
Ngữ văn phổ thông hiện hành.
1.1.2. Mối quan hệ giữa văn hóa và tác phẩm văn học
Như trên đã nói, văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều
cách hiểu khác nhau, liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Có thể hiểu, văn hoá là một hiện tượng khách quan, là tổng hoà của tất cả các khía
cạnh của đời sống bao quanh con người, tồn tại hữu thức và cả vô thức trong mỗi
cá nhân con người. Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhất của cuộc sống cũng mang
dấu hiệu văn hoá.
11
Trên thực tế, văn hóa của bất kỳ quốc gia nào cũng được phản ánh trong
văn học. Văn học là nghệ thuật dùng ngôn từ và hình tượng để thể hiện đời sống
và xã hội con người. “Văn học ở thời nào cũng phải đặt trong cấu trúc tổng thể
của văn hoá, nhưng ở ta xem xét văn học và tiếp cận văn học từ góc độ văn hoá
hiện nay vẫn là vấn đề hết sức mới mẻ. Trước đây, văn học và văn hoá bị xem xét
một cách biệt lập do người ta quan niệm văn học có đặc trưng loại biệt. Bây giờ
đặc trưng loại biệt không phải là không còn, nhưng trong nhiều cách tiếp cận thì
cách tiếp cận văn học từ góc độ văn hoá đang cho thấy là một hướng tiếp cận có
hiệu quả. Cách tiếp cận này xem văn học như một thành tố trong cấu trúc của tổng
văn học vì vậy cũng đa dạng như văn hoá. Chính sách đối với văn học là một phần
của chính sách văn hoá mà tiêu điểm là con người với những nhu cầu tinh thần
ngày càng phát triển.
1.1.3. Diện mạo văn hóa, văn học Việt Nam thời kỳ trung đại
1.1.3.1. Hoàn cảnh lịch sử - xã hội
Chế độ phong kiến Việt Nam tồn tại gần 10 thế kỉ (từ năm 938 đến năm
1858). Trải qua nhiều triều đại, lịch sử Việt Nam chứng kiến không ít những biến
động trong đường lối cai trị cũng như hệ thống cầm quyền. Đời Lí- Trần, tinh thần
đoàn kết của nhân dân được nêu cao nhằm thực hiện hai nhiệm vụ to lớn là bảo vệ
và xây dựng đất nước. Thời kì hoàng kim nhất của lịch sử phong kiến là triều đại
Hậu Lê (1428- 1489) qua ba đời vua trị vì, đặc biệt là đời vua Lê Thánh Tông. Sau
nhà Hậu Lê, xã hội dần bước vào thời kì hỗn loạn: Nội chiến Lê- Mạc (1540- 1592),
Trịnh- Nguyễn phân tranh (1627- 1672), .... Những biến cố khiến mâu thuẫn giữa
nhân dân với giai cấp thống trị ngày càng sâu sắc; đất nước loạn li; kỉ cương đạo
đức phong kiến suy tàn, rạn nứt. Thế kỉ XVIII, trước những biến cố lịch sử, phong
trào khởi nghĩa của nông dân phát triển mạnh mẽ. Năm 1771, lần đầu tiên trong
lịch sử phong kiến Việt Nam, những người nông dân bước lên võ đài chính trị với
một khí thế mạnh mẽ, tự chủ nắm chắc ngọn cờ giữ và dựng nước: Cuộc khởi nghĩa
Tây Sơn thắng lợi, triều đại Tây Sơn ra đời và thực hiện nhiều chính sách có lợi
cho đất nước. Tuy nhiên, nhà Tây Sơn cũng sụp đổ và thay thế bằng một triều đại
khác- triều đình nhà Nguyễn.
13
Năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu cuộc xâm lược nước ta. Khởi nghĩa đã
nổ ra khắp nơi chống triều đình phong kiến và chống Pháp xâm lược. Trước những
biến cố lớn lao, xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX có sự biến đổi sâu sắc. Cuộc
xâm lược của thực dân Pháp đem theo nền tư bản tấn công vào Việt Nam, cùng
với nó là mối giao lưu văn hóa bắt buộc, tất yếu làm hao hụt khá nhiều giá trị tư
có thành lũy xây theo kiểu Pháp cổ; nổi lên ở thành Hà Nội là cột cờ được xây
dựng cao đẹp. Các ngành nghệ thuật dân gian tiếp tục phát triển theo các hình
thức cũ.
Văn hóa, giáo dục thời kì trung đại của nước ta là tiền đề xuất hiện tầng lớp
trí thức có học vấn, có khả năng sáng tác văn học. Văn hóa, giáo dục ảnh hưởng
trực tiếp đến nền văn học nước nhà trong giai đoạn này.
1.1.3.3. Tình hình văn học
Trong gần mười thế kỉ, lịch sử - văn học - văn hóa luôn gắn bó chặt chẽ với
nhau. Văn học trung đại là tấm gương phản chiếu thực tại xã hội, đời sống, tâm
hồn cũng như tư tưởng dân tộc Việt Nam thời trung cổ rõ nhất, đa dạng và sinh
động nhất.
Việc phân kì văn học trung đại cần dựa trên nhiều tiêu chí: Căn cứ vào lịch
sử, xã hội, văn hóa và quy luật nội tại của văn học; Căn cứ vào các sự kiện văn
học như tác giả, tác phẩm, nội dung tư tưởng, thể loại,…; Căn cứ vào đặc điểm
và tính chất của nền văn học: thi pháp, tư tưởng thẩm mĩ,… Dưới đây chúng tôi
chọn cách phân chia theo bốn giai đoạn văn học của một bộ phận lớn giới nghiên
cứu:
* Thế kỷ X đến thế kỷ XIV
Thời kì này tồn tại hai dòng văn học chủ yếu là dòng văn học tôn giáo và
văn học yêu nước. Thế kỉ X, Phật giáo trở thành quốc giáo và ảnh hưởng sâu rộng
đến đời sống và khả năng tư duy của người Việt. Nhiều sáng tác của các nhà sư
tuy tập trung thuyết lý cho đạo Phật nhưng vẫn chứa đựng những yêu tố xã hội
tích cực và có giá trị văn học: Quốc tộ, Thị đệ tử, Cáo tật thị chúng…
15
Hầu hết những tác phẩm được sáng tác trong giai đoạn này đều thể hiện rõ
tinh thần yêu nước mạnh mẽ và khát vọng đất nước thái bình. Rực rỡ nhất về đề
tài này phải kể đến nền văn học thời Lý- Trần. Một trong những tác phẩm nổi bật
xâm lược nào. Dựa vào quan niệm mới mẻ này, nên tác phẩm Đại cáo bình Ngô
được xem là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc ta. Bên cạnh đó, trong
văn học cũng xuất hiện tư tưởng ưu thời mẫn thế. Tư tưởng này bắt đầu manh nha
khi xã hội ngày một suy đồi: chiến tranh liên miên, vua quan chỉ lo đến cái lợi,
cái danh của mình mà bỏ mặc đời sống nhân dân. Chứng kiến những cảnh ấy
nhưng lại không thể thay đổi được nên các nhà văn thường có khuynh hướng lui
về ẩn dật. Họ ẩn dật không phải là để đối lập lại với xã hội. Cho nên, trong hầu
hết những tác phẩm của mình, các nhà văn không phê phán bản thân xã hội phong
kiến, mà chủ yếu phê phán những tệ lậu, những cái xấu trong xã hội phong kiến.
Các nhà văn tiêu biểu của khuynh hướng này là Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn
Dữ,… Nguyễn Bỉnh Khiêm một mặt lên án gay gắt sự tàn bạo do bọn phong kiến
gây ra một mặt lên tiếng bảo vệ đạo đức và nhân phẩm làm người. Tác phẩm Truyền
kỳ mạn lục nổi tiếng của Nguyễn Dữ đã tố cáo kẻ cầm quyền bạo tàn, bất lực, xa
hoa, truỵ lạc, đồng thời biểu lộ tâm tư nguyện vọng của ông và của nhiều nho sĩ ẩn
dật đương thời. Về mặt chữ viết, chữ Nôm phát triển khá mạnh mẽ và do thế các
sáng tác bằng chữ Nôm cũng ngày một nhiều hơn. Lực lượng sáng tác cũng vì thế
mà đông đảo hơn. Bên cạnh những tác phẩm của vua quan hoặc của những nhà
Nho, chúng ta còn thấy xuất hiện thêm những tác giả “ngoài cung đình”.Với sự
phát triển lớn mạnh như thế nên ngôn từ được sử dụng trong các tác phẩm văn học
ngày càng phong phú, đa dạng.
* Thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX
Văn ho ̣c giai đoa ̣n này không thể không kể tới Hồ Xuân Hương - một người
phụ nữ tài hoa nhưng cuộc đời bà lại không gặp nhiều may mắn bởi chế độ đa thê và
tư tưởng “trọng nam khinh nữ”. Bà có tài nhưng cái tài ấy lại không được xã hội chấp
nhận; hai lần lấy chồng, hai lần đều phải làm lẽ. Cay đắng là vậy, đau khổ là vậy
nhưng trong thơ bà, ta ít khi bắt gặp bà khóc lóc hay uỷ mị. Trái lại, càng đau khổ,
càng chịu nhiều uất ức, bà càng trở nên mạnh mẽ, táo bạo. Bằng cách này hay cách
khác, bà luôn tìm cách chống đối lại xã hội. Trong khi người phụ nữ bị xã hội coi