SKKN Hướng dẫn học sinh tiếp cận các văn bản nghị luận trung đại trong chương trình Ngữ văn 8 - Pdf 48

1

Phòng giáo dục và đào tạo vụ bản
Trờng thcs Minh Tân

Báo cáo sáng kiến
HNG DN HC SINH TIP CN CC VN BN
NGH LUN TRUNG I TRONG CHNG TRèNH NG VN 8

Tác giả: Phạm Thị Hồng Lơng
Trình độ chuyên môn: Đại học S phạm Ngữ văn
Chức vụ: Giáo viên
Nơi công tác: Trờng THCS Minh Tân

Minh tân, ngày 19/3/2018
1. Tên sáng kiến:
HNG DN HC SINH TIP CN CC VN BN


2

NGH LUN TRUNG I TRONG CHNG TRèNH NG VN 8
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Trờng THCS Minh Tân
3. Thời gian áp dụng sáng kiến:
Từ ngày...tháng ..năm

đến ngày tháng năm 2018

4. Tác giả:
Họ và tên: Phạm Thị Hồng Lơng
Năm sinh: 1976

nghệ thuật. Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu di sản này, chúng ta càng thêm gắn bó với
truyền thống cao đẹp của dân tộc. Bởi lẽ “Mỗi tác giả với thiên tài của mình và giới
hạn của thời đại, phản ánh một thời kì lịch sử, đánh dấu một bước tiến của văn
học, làm giàu thêm cho tư tưởng, tình cảm và tiếng nói Việt Nam”(Phạm Văn Đồng).
Chúng ta có thể tìm thấy trong di sản này những hình ảnh tái hiện lại quá khứ vinh
quang nhưng không ít gian khó của dân tộc, để rồi từ đó có thể nhìn lại hiện tại một
cách thấu đáo hơn và hướng đến tương lai. Đối với nhà trường THCS, di sản này
đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm,
đạo đức, quan điểm, lí tưởng thẩm mĩ...cho học sinh. Vì vậy hướng dẫn tiếp cận các
văn bản văn học trung đại theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh là
một vấn đề đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu cũng như nhiều giáo viên giảng
dạy văn học quan tâm.
II. M« t¶ gi¶i ph¸p
1. M« t¶ gi¶i ph¸p tríc khi t¹o ra s¸ng kiÕn.
Trong nhiều năm trở lại đây, các phương pháp dạy học theo hướng tích cực đã
được chú trọng (kể cả việc ứng dụng công nghệ thông tin). Việc đổi mới chương
trình và phương pháp giảng dạy khiến người giáo viên đứng lớp cần đổi mới cách
dạy học, đầu tư nhiều hơn trong quá trình giảng dạy. Trên thực tế, việc giảng dạy các
tác phẩm văn học Việt Nam trung đại ở trường THCS lại gặp không ít khó khăn,
phần nhiều giáo viên e ngại giảng dạy các văn bản này. Việc rút ngắn khoảng cách
để học sinh dễ dàng tiếp nhận nội dung văn bản là điều không đơn giản ( nhất là với


4

thế hệ giáo viên trẻ khi vốn kiến thức, hiểu biết văn hóa thời trung đại còn hạn chế).
Bản thân giáo viên cũng còn nhiều lúng túng khi khai thác các tác phẩm văn học cổ
nhất là về mặt từ ngữ. Các tác phẩm giai đoạn này hay dùng điển tích, điển cố và để
cho học sinh hiểu thấu đáo được phải giải thích thành một câu chuyện dài. Cũng có
khi giáo viên chưa hiểu hết ý nghĩa của các điển cố đó vì chưa có điều kiện nghiên

với tất cả những đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học”. Theo đó người thầy
đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, điều khiển, định hướng, thiết kế quá trình
dạy học, giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ, kĩ
năng cơ bản và năng lực của bản thân. Đối với giờ học văn, người thầy khi đứng lớp
không chỉ dạy đủ kiến thức cơ bản, làm bật lên kiến thức trọng tâm, có sự liên kết
chặt chẽ giữa các phần, nội dung sát với trình độ học sinh mà còn phải làm thế nào
để thu hút được học sinh, khiến học sinh có thể tiếp cận, thâm nhập được tác phẩm
với sự chủ động, tích cực là một điều không hề đơn giản và càng khó hơn khi dạy
các văn bản nghị luận trung đại. Bởi lẽ, các văn bản nghị luận trung đại là những
văn bản xuôi hoặc văn biền ngẫu trực tiếp viết về những vấn đề liên quan đến đời
sống chính trị của quốc gia, dân tộc nên một trong những yếu tố quan trọng tạo
thành giá trị văn bản là tính chất của thể chế chính trị đương thời ( khác với hình
tượng nghệ thuật do nhà văn hư cấu như ở văn chương thẩm mĩ). Cụ thể ở chương
trình lớp 8 có các thể như: Chiếu, hịch, cáo, tấu. Chức năng của từng loại văn bản
được quy định chặt chẽ.
Trong xu thế hội nhập hiện nay, việc tiếp cận các văn bản nghị luận trung đại
góp phần không nhỏ trong việc hình thành hệ thống quan điểm, tư tưởng cho thế hệ
trẻ trong việc xử lí các vấn đề đặt ra trong cuộc sống một cách đúng đắn vừa phù
hợp với tinh thần thời đại mới vừa đảm bảo tính quốc gia, dân tộc. Trong khi đó
những văn bản nghị luận lại được giảng dạy và tiếp nhận với tư cách là một tác
phẩm văn học vì thế cái khó của người dạy là vừa đảm bảo cho học sinh tiếp cận
tính khách quan của tác phẩm vừa truyền lại những rung cảm của tác phẩm với tư
cách là một sáng tạo nghệ thuật thực sự.
B. C¬ së thùc tiÔn
Trên thực tế, qua chương trình Ngữ văn lớp 7 các em đã được làm quen với các
văn bản nghị luận trung đại nhưng đều là các văn bản thơ và phần lớn các bài thơ
này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi phong các thơ Đường ( Trung Quốc). Đến chương


6


7

câu chuyện có liên quan đến sự kiện được đề cập đến trong văn bản. Nếu học sinh
không đọc hoặc đọc qua loa thì các em không thể hiểu được nội dung văn bản.
2. Định hướng tiếp cận văn bản.
2.1. Tạo tâm thế, gây hứng thú cho học sinh.
Ở mỗi tiết dạy, mỗi giáo viên thường chú trọng phần giới thiệu bài. Đây là
bước tạo tâm thế cho học sinh tiếp cận văn bản. Với văn bản trung đại giáo viên cần
giới thiệu ngắn gọn, súc tích, liên quan trức tiếp đến sự kiện trong văn bản. Giáo
viên có thể sử dụng các câu hỏi gợi mở hoặc dùng tranh ảnh.
Cách 1: Giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi:
Ví dụ: */ Đối với văn bản Hịch tướng sĩ có thể gợi mở như sau:
- Tiếp nối thắng lợi của triều Lí, nhà Trần đã để lại dấu ấn trong lịch sử bằng
sự kiện vẻ vang nào?
- Nói đến dấu ấn lịch sử vĩ đại ấy phải kể đến công của người anh hùng nào?
- Vậy Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã làm gì để có thể huy động được
sức mạnh toàn quân làm nên chiến thắng vang dội đến như vậy?
Từ đó giới thiệu bài học
*/ Hay văn bản Nước Đại Việt ta
- Nước ta từ xưa đến nay có mấy văn bản được xem là Tuyên ngôn độc lập
của đất nước? Đó là những văn bản nào?
- Các em đã được học bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất ở lớp nào?
Từ đó giới thiệu bài học
Cách 2: Giáo viên sử dụng tranh ảnh:
*/ Với bài Chiếu dời đô
- GV cho học sinh quan sát tranh, nhận biết các sự kiện có liên quan rồi giới
thiệu vào bài mới.




11

văn bản thường có kiểu văn biền ngẫu, giọng điệu cũng cần phải chuẩn mực, phù
hợp.
Ví dụ:
- Với văn bản Chiếu dời đô, là lời của vua nên giọng điệu chung là trang trọng
nhưng có những câu cần nhấn mạnh sắc thái tình cảm tha thiết hoặc chân tình: “
Trẫm rất đau xót về việc đó”, “ Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để dịnh
chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?”
Cho học sinh đọc kĩ chú thích ( * ) và chú thích 8
- Với bài Hịch tướng sĩ cố gắng chuyển đổi giọng điệu cho phù hợp với nội dung
của từng đoạn. Cần chú ý tính chất cân xứng, nhịp nhàng của câu văn biền ngẫu.
Đọc kĩ chú thích ( * ) và các chú thích 17, 18, 22, 23
- Với bài Nước Đại Việt ta, cần đọc trang trọng, hùng hồn, tự hào. Chú ý tính chất
câu văn biền ngẫu cân xứng, nhịp nhàng.
Đọc kĩ chú thích ( * ) và các chú thích 1, 2, 3, 4
- Với văn bản Bàn luận về phép học lại đọc với giọng điệu chân tình, bày tỏ thiệt
hơn, vừa tự tin, vừa khiêm tốn.
Đọc kĩ chú thích ( * ) và các chú thích 2, 3
2.3. Hướng dẫn học sinh hiểu được bối cảnh lịch sử - tác giả - tác phẩm.
Khi dạy các văn bản nghị luận trung đại, giáo viên phải dựng lại được không khí
văn hóa văn hóa, lịch sử của thời đại, phải tạo được sự đồng cảm về văn hóa văn
học. Từ điểm xuất phát là hiện tại, giáo viên giúp học sinh trở lại quá khứ để học tập
cách cảm, cách nghĩ của người xưa. Tác phẩm văn học trung đại lớp 8 là những tác
phẩm có ý nghĩa lịch sử gắn liền với các sự kiện trọng đại của đất nước và tác giả là
những vị vua, vị tướng, người có vai trò quan trọng gắn cuộc đời mình với vận
mệnh đất nước lúc bấy giờ. Vì thế, nắm được bối cảnh lịch sử - tác giả - tác phẩm sẽ
gợi không khí thời đại góp phần soi sáng nội dung tác phẩm.
Ví dụ:

* Về thể loại:
- Chiếu: Là thể văn cổ, do vua chúa hay thủ lĩnh dùng để ban bố mệnh lệnh.
- Hịch: Là thể văn nghị luận xưa thường được vua chúa hay tướng lĩnh, thủ
lĩnh một phong trào dùng để cổ động, thuyết phục hoặc kêu gọi đấu tranh chống thù
trong giặc ngoài.


13

- Cáo: Là một thể văn nghị luận cổ, thường được vua chúa, hoặc thủ lĩnh dùng
để trình bày một chủ trương hay công bố kết quả một sự nghiệp để mọi người cùng
biết.
- Tấu: Là một văn thư của bề tôi, thần dân gửi lên vua chúa để trình bày sự
việc, ý kiến, đề nghị.
Như vậy xét về thể loại cần cho học sinh thấy sự khác nhau:
+ Về mục đích:
- Chiếu: Trình bày một chủ trương, đường lối để mọi người chấp thuận
bằng cách dùng lí lẽ để lập luận hướng tới mục đích.
- Hịch: Kêu gọi, cổ vũ động viên bằng cách dùng tình cảm và lập luận để tác
động vào tinh thần.
- Cáo: Công bố kết quả của một sự nghiệp bằng cách nêu quan điểm lập
trường của sự nghiệp đó.
- Tấu: Nêu ý kiến, đưa đề nghị bằng cách lập luận xác đáng và thuyết phục.
+ Về đối tượng viết và nhận:
- Chiếu, Hịch. Cáo: Do vua, chúa hoặc thủ lĩnh viết và thần dân, binh lính...
là người tiếp nhận.
- Tấu: Do thần tử, bề tôi, quan tướng viết dâng lên vua chúa.
* Về đặc trưng:
- Các văn bản nghị luận trong chương trình lớp 8 được viết với một nhiệt
huyết nồng nàn. Tuy thuộc loại văn bản chính trị hành chính nhưng ở các tác phẩm

nhân dân chịu cảnh khổ ( Chiếu dời đô)
Hay việc lấy các tấm gương trung thần nghĩa sĩ của Trung Hoa xưa và nay để
khích lệ ý chí lập công danh của các tướng sĩ. Lấy đạo thần – chủ để khích lệ tinh
thần quyết chiến quyết thắng kẻ thù ( Hịch tướng sĩ)
2.5. Hướng dẫn học sinh nắm được hệ thống từ vựng, điển cố.
Trong các tác phẩm trung đại, các tác giả sử dụng một hệ thống từ vựng, điển cố
mang đặc trưng của thể văn này. Trước mỗi bài học, nếu chưa hiểu hết được các từ
vựng, điển cố này thì chưa thể hiểu được nội dung cũng như nghệ thuật của tác
phẩm. Ở đây SGK Ngữ văn chú thích khá đầy đủ những từ khó trong mỗi văn bản,
giáo viên cần phải hướng dẫn, yêu cầu học sinh nắm được ý nghĩa của các từ ngữ
cũng như điển cố. Mặt khác giáo viên cần phân tích ý nghĩa của các từ ngữ trong


15

văn bản để học sinh cảm nhận được lời hay, ý đẹp và yêu thích tác phẩm đó. Nhưng
không nên quá sa đà vào việc giảng giải mà cần có sự lựa chọn những từ ngữ tiêu
biểu có nội dung liên quan đến nội dung tư tưởng, chủ đề của tác phẩm để phân tích.
a/ Hướng dẫn tiếp cận điển tích, điển cố
Khi dạy điển tích, điển cố, giáo viên cần phải hiểu rõ ràng để giảng cho học
sinh hiểu nếu chỗ nào chưa hiểu thấu đáo thì không nên giảng.
Ví dụ : Dạy bài “ Hịch tướng sĩ” có rất nhiều điển tích, điển cố: Kỉ Tín, Do
Vu, Dự Nhượng, Thân Khoái, Kính Đức, Cảo Khanh...Tất cả những điển tích này,
sách giáo khoa đã chú thích rõ, giáo viên chỉ cần phân tích ý nghĩa của các điển cố
này ở chỗ chúng nêu gương trung quân ái quốc, những điển hình của lí tưởng phong
kiến. Đây là những tấm gương xả thân cho lí tưởng: trung với vua, với chủ...điều
này gắn liền với thời đại của Trần Quốc Tuấn. Nêu các tấm gương như vậy để khích
lệ tinh thần chiến đấu vì lí tưởng của các nghĩa sĩ.
b/ Hướng dẫn tiếp cận từ ngữ.
A. Tôn xtôi đã nêu một quy luật rất quan trọng của nghệ thuật là: “ Nghệ thuật

vậy, giáo viên cần làm rõ để thấy được tâm tư, tình cảm của người ban Chiếu đã tạo
được sự giao cảm, đồng lòng của nhân dân trong nước qua những câu “ Trẫm rất
đau xót về việc đó”, “ Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở.
Các khanh nghĩ thế nào?”. Ngôn ngữ có tính chất đối thoại này không chỉ tạo nên
sự đồng cảm giữa mệnh lệnh của vua và thần dân mà còn tạo nên sự thuyết phục cho
bài Chiếu.
+ Với bài “ Nước Đại Việt ta” của Nguyễn Trãi, nhà thơ Xuân Diệu đã
nhận xét: “ Bình Ngô đại cáo hạ một chữ như đổ một trái núi”. Hình như Nguyễn
Trãi đã cân nhắc từng chữ, từng lời, từng ý; mỗi chữ dùng đều chọn lọc sao cho có
sức biểu cảm âm vang, tất cả đều hợp lí, không một câu lép ý, nhẹ lời. Vì vậy giáo
viên cần cho học sinh thấy rõ lời văn trang nghiêm, trịnh trọng, đanh thép, uy nghi
trong bài Cáo.
+ Với bài “ Bàn luận về phép học” của Nguyễn Thiếp, giáo viên cần
làm rõ sự đúng đắn, tiến bộ, vượt thời đại trong phương pháp học, mục đích học tập
của tác giả. Muốn vậy giáo viên cần giải thích rõ câu châm ngôn “ Ngọc không mài
không thành đồ vật, người không học không biết rõ đạo” hay các lối học “ hình
thức, cầu danh lợi, không biết tam cương ngũ thường” và phương pháp học tập


17

đúng đắn. Như thế học sinh sẽ nắm được sự tiến bộ trong quan điểm của Nguyễn
Thiếp.
Nói tóm lại, mỗi thể loại văn nghị luận cổ có những đặc trưng riêng, khi
giảng dạy các từ ngữ trong từng thể loại, giáo viên cần chú ý đến những đặc trưng
cơ bản đó để giúp học sinh tiếp thu bài hiệu quả hơn.
2.6. Dùng sơ đồ trong phân tích và tổng kết bài học.
Do đặc điểm các văn bản đều thuộc văn nghị luận nên trong quá trình giảng
dạy, giáo viên luôn bám sát hệ thống luân điểm, luận cứ và nghệ thuật lập luận đầy
sức thuyết phục. Vì thế việc lập sơ đồ không chỉ để học sinh nắm bắt nội dung mà

chứng
1….

Dẫn
chứng
2….

KẾT KUẬN LẠI VẪN ĐỀ

Dẫn
chứng


Dẫn
chứng


Dẫn
chứng



18

b) Sơ đồ để tổng kết bài học:
- Ví dụ: Hệ thống luận điểm trong Chiếu dời đô
Ý TƯỞNG DỜI ĐÔ TỪ HOA LƯ VỀ ĐẠI LA

LÝ DO DỜI ĐÔ KHỎI HOA LƯ


Về lịch sử
Cao Vương
từng định

Về địa lý
Thuận lợi
nhiều mặt

Về tiềm năng
Kính tế, văn
hoá phát triển

đô

Ý CHÍ CỦA NHÀ VUA:

- Quyết định dời đô.
- Hỏi ý kiến bề tôi.

- Hệ thống lập luận trong bài Hịch tướng sĩ
Khích lệ ý chí lập công danh, xả thân vì
nước, vì chủ tướng bằng cách nêu ra những
tâm gương trung thần thời xưa.
Khích lệ lòng căm thù giặc, nỗi nhục mất
nước bằng cách vạch trần và tố cáo tội ác,
thái độ của giặc trên đất nước mình
Khích lệ lòng trung quân ái quốc bằng cách
khơi gợi những ân tình của chủ tướng đã
dành cho tướng sĩ.
Khích lệ lòng tự trọng, liêm sỉ ở mỗi người

riêng

Phong
tục riêng

Lịch sử
riêng

Chế độ, chủ
quyền riêng

SỨC MẠNH CỦA NHÂN NGHĨA SỨC MẠNH CỦA
ĐỘC LẬP DÂN TỘC

- Hệ thống lập luận bài Bàn luận về phép học
Học tập giúp con
người tốt đẹp

Không thể không
học tập mà
thànhngười tốt

Học tập là qui luật
của cuộc sống

MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC HỌC:
HỌC ĐẠO LÀM NGƯỜI TỐT

Phê phán những lệch lạc, sai trái
trong việc học hiện tại

ra lối học của chính mình cũng như bạn bè mình, để thấy được đâu là lối học đúng
cần phát huy, đưa các em về với mục đích học tập chân chính.
- Dạy “ Hịch tướng sĩ” không chỉ khơi dậy niềm kiêu hãnh và tự hào dân tộc
về một quá khứ vàng son mà còn giúp học sinh có nhận thức đúng đắn về vấn đề
bảo vệ đất nước trong thời điểm nhạy cảm hiện nay. Liên hệ với tín ngưỡng thờ
cúng Trần Hưng Đạo ở khắp nơi trên đất nước để học sinh thấy được đức độ cao cả
của ông.
D. KÕt qu¶ thùc hiÖn
Từ việc vận dụng một số kinh nghiệm giảng dạy trên, trong quá trình giảng dạy
tôi thấy các em thực sự hứng thú với các tiết văn học nghị luận trung đại. Học sinh


21

tip thu kin thc mt cỏch thoi mỏi, mnh dn phỏt biu v cú hng thỳ nghe, tỡm
hiu cỏc vn m cỏc tỏc gi t ra trong vn bn nht l khi giỏo viờn khi dy
c nim t ho dõn tc qua vn bn Chiu, Hch, Cỏo v liờn h c phng
phỏp hc ca Nguyn Thip vi thc t. Mt s hc sinh cũn mnh dn hi nhng
thc mc ca mỡnh vớ d nh: Ti sao ỏnh quõn Minh m tỏc gi vit Bỡnh Ngụ
i cỏo ( Nc i Vit ta) hay hai nh inh Lờ cú thc s khụng tuõn theo
mnh tri nh Lớ Cụng Un núi khụng?...hay hc sinh ó tỡm ra c quan im tin
b v hn ch cn b sung ca Nguyn Thip v mc ớch v phng phỏp hc tp
ca Nguyn Thip, quan im y gn vi ngy nay. Hc sinh cng bit liờn h
cỏc vn m cỏc tỏc gi t ra trong vn bn vi thc tin vớ d nh: Vn ch
quyn v s kin gin khoan 981, nhng vic lm ca Trung Quc ti cỏc qun o
ca nc ta, cú cỏi nhỡn v hnh ng nh th no trc s vic ú hay li hc sai
trỏi c biu hin c th trng lp mỡnh...
. III. Hiệu quả do sáng kiến đem lại
1. Hiệu quả kinh tế
- Nói về kinh tế thì sáng kiến kinh nghiệm của tôi cũng nh hầu


%

SL

%

SL

%

10

28,6

15

42,8

7

20

3

8,6

Nhỡn vo bng thng kờ cht lng cú th thy nhng nh hng ny ó phn
no phỏt huy c hiu qu.


điều này cần thiết cho việc nghiên cứu những giá trị có tính lịch sử, nhất là những
những giá trị trong quá khứ và khoảng cách thời gian tạo nên sự khác biệt về cách


23

nhỡn nhn, ỏnh giỏ cỏc hin tng. i vi cỏc vn bn on trớch, giỏo vin nờn
c c tỏc phm cú th bao quỏt c vn .
Giỏo viờn phi nghiờn cu tng th kin thc ca chng trỡnh vn ngh lun
trung i Vit Nam trong chng trỡnh Ng Vn 8 v nm c i tng hc sinh,
tỡm hiu k ni dung bi dy vn dng phng phỏp dy hc phự hp. Khi lờn
lp, giỏo viờn gi tõm th thoi mỏi, tn tõm, cú trỏch nhim vi tng n v kin
thc ca hc sinh. Mt khỏc cn to hng thỳ hc tp cho cỏc em. Trong quỏ trỡnh
dy hc, luụn chỳ ý ti tt c i tng hc sinh v cú cõu hi phự hp c bit luụn
kt hp hc v thc hnh. Nh vy khụng ch hỡnh thnh kin thc m cũn rốn k
nng núi - vit cho hc sinh
IV. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền
- Tôi xin cam đoan những nội dung trong sáng kiến trên đợc
viết từ những kinh nghiệm thực tế của bản thân. Tôi không
sao chép hoặc vi phạm bản quyền của đồng nghiệp. Nếu
sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tụi xin chõn thnh cm n.
Ngời viết sáng kiến
Phạm Thị Hồng Lơng

Cơ quan áp dụng sáng kiến

Phòng Giáo

dục đào tạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status