ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ HOÀI THU
GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
CỦA CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN PHỔ THÔNG HIỆN
HÀNH
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Dương Thu Hằng
Thái Nguyên – 2017
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng. Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều
trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác.
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hoài Thu
HS
Giáo dục
GD
Giáo viên
GV
Phổ thông
PT
Trung học cơ sở
THCS
Trung học phổ thông
THPT
Sách giáo khoa
SGK
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN............................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN....................................................................................................ii
2.1.1. Yêu nước là tự hào dân tộc......................................................................32
2.1.2. Truyền thống căm thù giặc sâu sắc......................................................... 36
2.1.3. Truyền thống yêu nước thể hiện ở khát vọng độc lập..............................40
2.1.4. Truyền thống yêu quê hương, đất nước...................................................42
2.2. Truyền thống nhân đaọ .....................................................................................44
2.2.1.........................................................................................................Ca ngợi,
trân trọng vẻ đẹp của con người............................................................. 44
2.2.2.........................................................................................................Đồng tình
với khát vọng của con người................................................................... 47
2.2.3. Đồng cảm, xót thương cho số phận bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong
kiến 49
2.2.4. Hướng tới những giải pháp đem đến hạnh phúc cho con người, cuộc sống. Đề
cao quan hệ đạo đức, lối sống tốt đẹp giữa người với người............................54
2.3. Truyền thống yêu và sống hòa hợp với thiên nhiên................................... 57
2.3.1. Thiên nhiên giản dị, thơ mộng giàu sức sống..........................................58
2.3.2. Thiên nhiên chứa chất tâm trạng đa chiều của con người......................62
Chương 3 TÍ CH
HƠP
TRONG
DAY
TRUNG
ĐAI
HOC
GIÁ O
DUC
GIÁ TRI ̣VĂN HÓ A TRUYỀ N THỐ NG
3.4. Đề xuất một số chủ đề tích hợp tiêu biểu...................................................77
3.4.1. Chủ đề Tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước và tự hào dân tộc.....77
3.4.2. Chủ đề Tích hợp giáo dục truyền thống đồng cảm với người phụ nữ trong xã hội
phong kiến.........................................................................................................84
3.4.3. Chủ đề Tích hợp giáo dục văn hóa ứng xử trong tình bạn, tình yêu.......88
3.4.4. Chủ đề Tích hợp giáo dục văn hóa ứng xử trong gia đình......................91
3.4.5. Chủ đề Tích hợp giáo dục văn hóa ứng xử với thiên nhiên.....................94
KẾT LUẬN......................................................................................................99
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................102
PHỤ LỤC.......................................................................................................107
9
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, toàn cầu hoá không chỉ mang lại thời cơ
lớn mà còn tạo ra những thách thức đối với tất cả các quốc gia, đặc biệt là với
các nước đang phát triển. Trước xu thế toàn cầu hoá, văn hoá Việt Nam có cơ
hội giao lưu với các nền văn hoá khác trên thế giới. Đây cũng là giai đoạn mà
các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc phải đối diện với những tác động
tiêu cực của quá trình hội nhập. Hội nhập quốc tế và giữ gìn bản sắc văn hoá
dân tộc là những nhu cầu tất yếu, khách quan để một dân tộc có thể tồn tại và
phát triển trong xu thế toàn cầu hoá. Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách
quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này vừa có mặt tích cực
vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh” [48].
Hội nhập quốc tế và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là hai mặt thống
nhất, có quan hệ chặt chẽ với nhau. Thách thức lớn nhất đối với Việt Nam là
làm thế nào để nền văn hóa dân tộc vừa có thể tiếp thu được các giá trị thời
nghĩa không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng giáo dục thế hệ trẻ nói riêng,
góp phần đổi mới giáo dục nói chung..
2. Lịch sử vấn đề
Văn hóa và nhữ ng giá trị văn hó a truyền thống là
môt
vấn đề đã đươc đề
câp rất nhiều. Về văn hóa không thể không nhắc tới cuốn Việt Nam văn hóa sử
cương của Đào Duy Anh in lần đầu tiên năm 1938 được ấn hành bởi Quan Hải
Tùng Thư. Ngoài ra, còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác như: Cơ sở văn
hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm, Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế của Nguyễn Chí Bền, Văn hóa truyền thống dân tộc với việc giáo
dục thế hệ trẻ của Nguyên Hồng Hà, Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị
văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập của Ngô Đức Thịnh,
Văn hóa gia đình Việt Nam của Vũ Gia Khánh…
Trong bài viết Môt
số vấn đề lí
luân
nghiên cứ u hê ̣ giá tri ̣ văn hó a truyền
thống trong đổi mớ i và
hôi
nh
âp
hai nguyên tắc. Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức
về các giá trị truyền thống của con người Việt Nam. Thứ hai, thường xuyên quan
tâm, tạo lập môi trường xã hội lành mạnh, đấu tranh chống nguy cơ xói mòn các
giá trị truyền thống của con người Việt Nam” [32, tr 63].
Trong bà i viết Bà n thêm về vấn đề truyền thống văn hó a
Viêt
Trần Quốc Vươn g đa hoạch điṇ h ba phương hươ ng, chiến
̃
́
lươc
dưn g nền văn hoa mơ i Việt Nam xa
́
́
̃
hôi
Nam, giáo sư
trong viêc xây
chủ nghia. Thứ 1, chiến lược kế thừa tinh
hoa truyền thống, hay nói vắn và dễ hiểu, chiến lược bảo tồn. Thứ 2, chiến lược
xóa bỏ những phong tục - tập quán cổ truyền, những lạc hậu, lỗi thời, và những
ảnh hưởng, di hại của văn hóa (đúng hơn: phản văn hóa) đô hộ - thực dân cũ và
mới, gọi là chiến lược cải tạo. Thứ 3, chiến lược xây dựng ý thức hệ mới, nền
văn hóa mới, con người mới Việt Nam, trên nển tảng chủ nghĩa Mác – Lê- nin
hay
chính là chiến lược phát triển - đổi mới. [55]
tinh thần đoàn kết; tinh thần cần cù, tiết kiệm; tinh thần hiếu học; tinh thần mong
muốn cuộc sống bình dị, yên ổn trong hòa bình, đề cao các giá trị văn hóa làng
xã, dòng họ,
gia đình; tinh thần nhẫn nại chịu đựng; giản dị, khiêm tốn, chất phác, thật thà...”
[12, tr 21]. Đó là những giá trị văn hóa truyền thống cơ bản, vô cùng quý báu, đã
tạo nên cốt cách riêng biệt của con người Việt Nam.
Nhữ ng công trình nghiên cứ u kể trên đã tiếp cân giá tri ̣ văn hó a ở nhiều
phương
khác nhau. Tuy nhiên chưa có môt công trình nào đề câp đến vấn đề
diên
giá tri ̣củ a văn hó a truyền thống trong cá c tá c phẩ m văn
hoc
Viêt Nam trung đai
ở chương trinh
̀ Ngữ văn phổ thông hiên hành. Khai thác đề tài giá tri ṭ ruyền thống
trong các tác phẩm văn hoc
trung đai Viêt Nam sẽ bổ sung thêm hướng nghiên
cứ u về văn hoá Viêṭ đồng thờ i sẽ goṕ phần đổi mớ i day - ho Ngư văn ơ trươ ng
̃
̉
̀
c
phổ thông. Đề tài của chúng tôi kế thừa, tiếp nối những công trình, bài nghiên
cứu trước đó, đồng thời phát triển một số điểm, cung cấp thêm tài liệu tham
các tác phẩm văn học Viêṭ Nam trung đaị trong chương trinh
̀ Ngữ văn phổ thông
hiện hành.
3. Mục đích nghiên cứu
- Nhận diện những giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu trong tác phẩm
văn học Việt Nam trung đaị ở chương trình Ngữ văn phổ thông hiên
haǹ h.
- Cung cấp thêm tri thức, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm văn
học thời trung đại và giáo dục nhân cách người học trong nhà trường phổ thông
thông qua việc xây dựng một số chủ đề dạy học theo hướng tích hợp giáo dục
văn hóa truyền thống trong giờ dạy – học Ngữ văn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Những giá trị văn hoá truyền thống cuả các tać phẩm văn học Việt Nam
trung đại trong chương trình Ngữ văn phổ thông hiện hành.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Các sáng tác văn học Việt Nam thờ i trung đai
thông hiện hành.
có trong chương trình phổ
- Một số vấn đề liên quan đến việc đổi mới dạy – học Ngữ văn trong chương trình
Ngữ văn phổ thông.
5. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
- ho Ngữ văn
c
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội dung đề
tài gồm 3 chương chính:
Chương 1: Những vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài
Chương 2: Nhận diện những giá trị văn hoá truyền thống cơ bản trong các
tác phẩm văn học Việt Nam trung đại trong chương trình Ngữ văn phổ thông
hiện hành
Chương 3: Tích hợp giáo dục giá trị văn hoá truyền thống trong dạy - học
các tác phẩm văn học Việt Nam trung đại trong chương trình Ngữ văn phổ thông
NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Một số vấn đề lí luận về văn hóa truyền thống và giá trị của nó trong tác
phẩm văn học
1.1.1. Quan niệm về giá trị văn hóa và giá trị văn hóa truyền thống
Trước khi tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống, chúng ta cần giới thiệu
khái niệm về văn hóa. Vậy văn hóa là gì? Định nghĩa văn hoá đến nay đã có
hàng trăm các tác giả nổi tiếng của trường phái nhân văn như Dilthey, Casirrer,
Arnold,
T. Eliot… đến trường phái thực chứng như Taylor, Malinowski, Boas, Kroeber,
Benedict, Durkheim…. Việc xác định khái niệm văn hóa không hề đơn giản bởi
nó xuất phát từ mục đích, góc độ riêng và các cách tiếp cận để đưa ra khái niệm.
Xét về mối quan hệ giữa văn hóa và xã hội, hiện nay chúng ta có bốn cách tiếp
cận: tiếp cận giá trị học, tiếp cận hoạt động, tiếp cận nhân cách và tiếp cận ký
những cái thuộc về sự vật, hiện tượng và những thuộc tính của chúng mà có ý
nghĩa tích cực đối với xã hội, một nhóm người và cá nhân, với tư cách là phương
tiện thoả mãn những nhu cầu và lợi ích, đồng thời biểu thị niềm tin của con
người về những mục đích và phương thức ứng xử lý tưởng thì giá trị văn hoá là
yếu tố cốt lõi của văn hóa, được sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sử của
dân tộc và nhân loại. Giá trị văn hóa tuy có ý nghĩa lâu dài nhưng là phạm trù có
tính lịch sử, không phải là vĩnh viễn. Theo thời gian có những giá trị lạc hậu, lỗi
thời sẽ bị mất đi và những giá trị mới sẽ nảy sinh.
Các giá trị văn hóa theo thời gian lịch sử được lưu truyền sẽ trở thành giá
trị văn hóa truyền thống. Vậy giá trị văn hóa truyền thống là gì? Đó là những tư
tưởng, biểu tượng, giá trị và chuẩn mực xã hội hóa những tác phẩm văn hóa
được cộng đồng tin tưởng và mong muốn gìn giữ, truyền đạt và noi theo. Nói
đến giá trị văn hóa truyền thống là nói đến những giá trị tốt đẹp tiêu biểu cho
một nền văn hóa được lưu truyền, gìn giữ trong quá trình lịch sử. Nhiều học
giả, những nhà
nghiên cứu về văn hóa đã đúc kết nên những giá trị văn hóa truyền thống rất quý
báu của dân tộc Việt. Theo giáo sư Trần Văn Giàu, có bảy giá trị mang tính tổng
quát nhất của dân tộc Việt Nam, đó là: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc
quan, thương người, vì nghĩa [10, tr 35]. Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hóa
sử cương cũng nêu lên bảy giá tri ̣có thể xem là bản sắc văn hóa Việt: Sức ký ức
(trí nhớ tốt, thiên về nghệ thuật và trực giác); Ham học, thích văn chương; Ít
mộng tưởng (thiết thực); Sức làm việc khó nhọc (cần cù); Giỏi chiu khổ và hay
nh
ân
nhuc; Chuộng hòa bình, song ngộ sự thì cuñ g biết hy sinh vì đại nghĩa; Khả
năng “bắt chướ c, thích ứng và dung hòa rất tài” [1, tr 73]… Nếu như các giá trị
có hiệu quả. Cách tiếp cận này xem văn học như một thành tố trong cấu trúc của
tổng thể văn hoá nó truyền tải, lưu giữ được những giá trị văn hoá.” [56]. Có thể
nói, trong lịch sử văn học của bất cứ quốc gia nào cũng tồn tại mối quan hệ giữa
văn hoá và văn học. Quan trọng hơn, đó là một mối quan hệ hai chiều khăng khít
không thể tách rời.
Trong thực tế nghiên cứu, suốt một thời gian dài, văn hoá và văn học được
đặt ở vị trí ngang bằng, được coi là quan hệ tương hỗ, tức là nghiên cứu văn hoá
thì dùng văn học làm tư liệu, còn nghiên cứu văn học lại dùng văn hoá để soi
chiếu. Gần đây, sau khi Unesco phát động những thập kỷ phát triển văn hoá cùng
sự thay đổi nhận thức văn hoá, các nhà nghiên cứu đã thống nhất văn hoá là nhân
tố chi phối văn học. Văn hoá học, nghiên cứu các lĩnh vực khoa học xã hội nhân
văn từ điểm nhìn văn hóa trở thành một hướng nghiên cứu có sức hút lớn và đã
đạt được những thành quả đáng ghi nhận. Ở Việt Nam, đã có khá nhiều tác giả đi
theo hướng nghiên cứu này tiêu biểu như Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương, Đỗ
Lai Thuý, Trần Nho Thìn… Theo tác giả Đỗ Lai Thuý: “…Văn hoá là một tổng
thể, một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố, trong đó có văn học. Như vậy, văn hoá
chi phối văn học với tư cách là hệ thống chi phối yếu tố, toàn thể chi phối bộ
phận. Đây là quan hệ bất khả kháng. Tuy nhiên, văn học so với các yếu tố khác là
một yếu tố mạnh và năng động. Bởi thế, nó luôn có xu hướng đi trượt ra ngoài hệ
thống. Trong khi đó thì hệ thống, nhất là hệ thống văn hoá, luôn có xu hướng duy
trì sự ổn định. Như
vậy, sự xung đột, sự chống lại của văn học đối với văn hoá là không thể tránh khỏi.
Nhưng nhờ thế mà văn học có sáng tạo. Sáng tạo những giá trị mới cho bản thân
nó và cho hệ thống. Sáng tạo lớn thì có thể dẫn tới sự thay đổi của hệ thống” [43].
Tóm lại, văn học luôn có mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực khác nhau
của văn hoá truyền thống. Có thể nói nhà văn đích thực là một nhà hoạt động
văn hoá, tác phẩm văn học là một sản phẩm văn hoá và người học là một người
thụ hưởng văn hoá. Trong thời đại ngày nay, đa số quốc gia đều là xã hội đa văn
tưởng cũng như các giá trị văn hóa truyền thống của người dân Việt Nam. Điều
này được phản ánh sinh động, rõ nét trong các tác phẩm văn học theo từng giai
đoạn.
1.1.3.2. Tình hình văn hóa, giáo dục ở Việt Nam
Về văn hóa, giáo dục, năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu.
Năm 1075, khoa thi quốc gia đầu tiên được tổ chức ở kinh thành.
Từ thế kỉ XI đến thế kỉ XV, giáo dục Đại Việt từng bước được hoàn thiện
và phát triển, trở thành nguồn đào tạo quan chức và người tài cho đất nước. Nội
dung học tập được quy định chặt chẽ. Thời Lê sơ, quy chế thi cử được ban hành
rõ ràng: cứ 3 năm có một kì thi Hội, chọn Tiến sĩ. Riêng thời vua Lê Thánh
Tông (1460 - 1497) đã tổ chức 12 khoa thi Hội. Số người đi học ngày càng
đông, dân trí do đó được nâng cao. Năm 1484, nhà nước quyết định dựng bia,
ghi tên Tiến sĩ.
Hàng loạt trí thức tài giỏi được đào tạo đã góp phần quan trọng vào việc
xây dựng và bảo vệ đất nước. Tuy nhiên, giáo dục Nho học không tạo điều kiện
cho sự phát triển kinh tế.
Thời nhà Nguyễn chủ trương độc tôn Nho giáo, hạn chế hoạt động của các
tôn giáo, đặc biệt là Thiên Chúa giáo. Tín ngưỡng dân gian tiếp tục phát triển.
Đình làng, đền thờ mọc lên ở khắp các xóm làng. Văn học chữ Hán kém phát
triển. Trong lúc đó, văn học chữ Nôm ngày càng phong phú và hoàn thiện. Xuất