MỤC LỤC
Nội dung
Trang
Phần I
Đặt vấn đề
2
Phần II
Giải quyết vấn đề
4
I.
Cơ sở lý luận
4
II.
Cơ sở thực tiễn
5
III.
phong kiến với ý thức hệ nho giáo, lực lượng sáng tác chủ yếu là tầng lớp trí thức,
những người có trình độ cao văn học trung đại tồn tại và phát triển trong suốt
mười thế kỷ nhưng không bao giờ tách rời khỏi cảm hứng yêu nước, cảm hứng
nhân đạo
Khi vận nước gặp nguy nan thì cảm hứng chủ đạo của nhà học trung đại là
cảm hứng yêu nước. Cảm hứng yêu nước luôn gắn liền với tư tưởng trung quân
trong xã hội phong kiến. Khi đất nước hoà bình văn học lại thể hiện lòng yêu
thiên nhiên, tự hào với truyền thống dân tộc khi vận mệnh cá nhân, hạnh phúc con
người bị đe doạ thì cảm hứng nhân đạo lại thăng hoa. Tất cả những nội dung trên
đều có thể phản ánh trong những câu tục ngữ, ca dao, hoặc các văn bản nghị luận
mang đậm giá trị nghệ thuật, giá trị nhân văn. Vì vậy giáo viên cần phải cho học
sinh thấy được mỗi tác phẩm là một bức tranh về cuộc sống giúp con người có
cách nhìn, cách hiểu, cách đánh giá về thế giới ấy.
Trong chương trình Ngữ văn THCS thì văn học nghị luận chiếm một vị trí
quan trọng. Đây là một chương trình rất khó dạy, và học sinh cũng khó nắm bắt
cái hay, cái đẹp của các tác phẩm nghị luận trung đại. Trong quá trình giảng dạy
tôi luôn trăn trở băn khoăn: Làm thế nào để tìm ra phương pháp giảng dạy tốt
nhất, đặc biệt là giảng dạy phần văn thơ cổ Việt Nam (Phần văn học nghị luận
trung đại). Từ thực tế đó và qua những lần giảng dạy, nghiên cứu tôi đã mạnh dạn
nghiên cứu tìm hiểu đề tài: “ Kinh nghiệm dạy các văn bản nghị luận trung đại
trong chương trình ngữ văn 8”
II- Đối tượng nghiên cứu:
- Phương pháp để nâng cao hiệu quả bài giảng khi dạy các văn bản nghị luận
trung đại trong chương trình ngữ văn 8.
III- Nhiệm vụ của để tài:
- Tìm hiểu về đặc trưng của văn học Trung đại, các thể Hịch, Cáo, Chiếu,
Tấu...
- Tìm hiểu thực tiễn về giảng dạy phần văn bản nghị luận trung đại trong chương
trình Ngữ văn 8
- Đưa ra những bài học kinh nghiệm bằng việc thực hiện 1 tiết dạy:
* Nghị luận hiện đại:
+ Không phân chia các thể loại rạch ròi.
+ Sử dụng các thể loại văn xuôi hiện đại như: Tiểu thuyết luận đề, phóng sự
chính luận…
+ Cách viết giản dị gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày, gần gũi gắn bó với
đời sống…
2. Những văn bản nghị luận trung đại trong chương trình SGK Ngữ văn
8.
Tác giả
Tác phẩm
Thời gian viết Thể loại
1. Lí Công Uẩn
Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu)
Năm 1010
Chiếu
2.Trần Quốc Tuấn Hịch tướng sĩ
Năm 1285
Hịch
3. Nguyễn Trãi
Bình Ngô Đại Cáo
Năm 1428
Cáo
4. Nguyễn Thiếp
Bàn luận về phép học
Năm 1791
Tấu
3. Đặc trưng thể loại và những nội dung chính trong các tác phẩm Nghị
luận Trung Đại:
a. Chiếu: Còn gọi là chiếu thư, chiếu mệnh, chiếu chỉ, chiếu bản. Đó là văn
bản do vua ban bố mệnh lệnh cho mọi người trong nước. Mỗi bài chiếu thể hiện
rộng góp phần vào việc xây dựng, phát triển văn hoá, giáo dục.
4. Dạy văn bản nghị luận trung đại trong chương trình Ngữ văn 8:
- Văn bản nghị luận trung đại giúp học sinh hình dung ra đất nước, xã hội,
con người những thời đại đã qua, phản ánh cuộc đấu tranh của nhân dân để bảo vệ
độc lập của tổ quốc, bảo vệ cuộc sống, tình yêu hạnh phúc, phẩm giá của con
người. Đó cũng là những mẫu mực về thể loại, ngôn ngữ văn học. Nó thực sự là
nguồn cảm hứng vô tận mà người giáo viên dạy văn khai thác bồi dưỡng cho thế
hệ trẻ.
5
- Văn bản nghị luận trung đại cũng là những áng văn thơ phản ánh quá trình
chống giặc ngoại xâm vẻ vang của dân tộc trong thời kỳ chế độ phong kiến thịnh
trị tiêu biểu như "Hịch tướng sĩ", "Cáo Bình Ngô". Song để dạy được những bài
tiêu biểu này quá là còn gặp nhiều khó khăn.
II- Cơ sở thực tiễn:
Thực sự khi giảng dạy phần văn bản nghị luận trung đại, một số giáo viên
thường ngại, lo lắng bởi đứng trước nhiều khó khăn.
1. Khó khăn khách quan:
Đây là những tác phẩm viết bằng chữ Hán. Vì vậy trong bài có nhiều điển
tích, điển cổ, từ ngữ Hán học mà giáo viên và học sinh khó hiểu. Điểm nổi bật
trong các tác phẩm này là sự thuyết phục người đọc bằng lí trí và tình cảm. Tuy là
một luận văn chính trị song lại có nhiều hình ảnh rất gợi cảm với thể văn biền
ngẫu uyển chuyển mạnh mẽ, giàu nhạc điệu nên phương pháp dạy cũng khác với
thể loại thơ trữ tình hoặc ký sự.
- Sách tham khảo cho giáo viên còn ít, phần lớn giáo viên phải tự đi sưu tầm.
- Là thể loại mới, rất lạ so với học sinh lớp 8, nên các em khó hình dung
được không khí lịch sử.
2. Khó khăn chủ quan:
Giáo viên chưa chọn cho mình một phương pháp dạy thích hợp, chưa tìm
Mông - Nguyên).
- Cáo Bình Ngô: Là lời của Nguyễn Trãi thay mặt cho Lê Lợi ban bố cho
toàn dân biết sự nghiệp bình ngô phục quốc đã hoàn toàn thắng lợi, kết thúc 10
năm kháng chiến trống quân Minh xâm lược.
- Bàn luận về phép học (trích luận học pháp) là bài tấu của La Sơn Phu Tử
Nguyễn Thiếp. Qua bài tấu này, tác giải muốn trình bày, đề nghị một vấn đề, chủ
trương, chính sách thuộc lĩnh vực giáo dục - đào tạo con người.
3. Hướng dẫn học sinh tìm được bố cục của các đoạn trích.
Việc tìm hiểu bố cục giúp các em xác định được đúng hệ thống luận điểm,
luận cứ từ đó nắm được nội dung bài một cách nhanh chóng. Phần này giáo viên
có thể cho học sinh hoạt động độc lập và trình bày ý kiến mình.
4. Tìm hiểu đặc điểm của văn nghị luận trung đại.
Giáo viên giúp các em hiểu được đặc điểm nổi bật của thể văn nghị luận
trung đại này là sự thuyết phục người đọc bằng lý trí và tình cảm. Tuy là một luận
văn chính trị song có nhiều hình ảnh rất gợi cảm đầy yếu tố cảm xúc. Vì vậy tác
phẩm làm rung động lòng người bằng cảm xúc nghệ thuật hùng biện, lập luận chặt
chẽ.
5. Tìm hiểu các điển tích, điển cổ và giải nghĩa từ.
Điều không kém quan trọng là giáo viên phải hiểu rõ các điển tích từ Hán
Việt; dành thời gian để giải thích các từ khó, các điển tích để học sinh hiểu được
nội dung tác phẩm.
6. Phương pháp đọc sáng tạo.
Mặc dù chưa được tiếp cận với sách đọc các thể loại Chiếu, Hịch, Tấu này
nhưng bằng sự hướng dẫn của sách giáo viên, sách tham khảo tôi đã cố gắng thể
7
hiện bằng sự hướng dẫn của sách giáo viên, sách tham khảo tôi đã cố gắng thể
hiện giọng đọc phù hợp cho từng phần, từng đoạn (lúc thiết tha, lúc hào sảng,
mạnh mẽ, khi kiêu hãnh tự hào...). Tôi đã xác định cho học sinh, việc độc là điều
10. Đổi mới phần tổng kết.
Thay vì trước đây tôi thường cho các em tự tìm ra nội dung và nghệ thuật của
8
vn ban sau khi phõn tich toan bai bng nhng cõu hoi n iờu nh: Ngh thuõt
c sc cua vn ban l gi? Ni dung c th hin l gi ? Tụi a cho cac em tra
li bng cac cõu hoi t nhiờn, t bục lụ chng han: Em hinh dung nh thờ no ?
iờu no l hp dõn cho tỏc phõm ? c biờt cuụi tiờt hoc, tụi thng cho cac em
t cu thờ hoa cac luõn iờm cua vn ban bng s ụ hoc lam bai tõp trc nghiờm
qua nhiờu phiờu hoc tõp. Hiờu qua cho thõy la kha kha quan.
11. Li khen.
iờu cuụi cựng la chung ta ờu biờt la hoc sinh THCS (la tuụi 12-15)
tõm ly cac em la rõt thich c khen khi lam c mụt viờc co y ngha hay
mụt viờc nao ung.
Viờc tich cc tham gia vao bai giang ma c mụt li khen cua giao viờn thi
s kich thich cac em hng thu hoc tõp rõt nhiờu.
Vi nhng kinh nghiờm t rut ra nh võy trong qua trinh giang day, tụi xin
minh hoa bng viờc trinh bai giao an 1 tiờt day "Chiờu di ụ" cua Ly Cụng Uõn .
IV. Giỏo ỏn thc hin tit dy:
Chiếu dời đô
(Thiờn ụ chiờu )
- Ly Cụng UnI. Mục tiêu cần đạt:
1. Kin thc: HS hiểu đợc:
- Khát vong cua nhõn dõn ta vờ mụt õt nc hựng cng, ục lõp, thụng nhõt va
khi phach cua dõn tục ai Viờt ang trờn a ln manh.
- c iờm c ban cua thờ Chiờu, thõy c s thuyờt phuc to ln cua
"Chiờu di ụ" la s kờt hp gia ly va tinh.
- Võn ờ bai Chiờu t ra rõt phự hp vi y nguyờn toan dõn, vi quy luõt phat
trũ
* Hot ng 1: Tỡm hiờu
I. Tỡm hiờu chung:
chung.
- Gv dn: Tiờt hoc trc cụ a
giao cho cac tụ su tõm t liờu
vờ tac gia Ly Cụng Uõn va tac
phõm Chiờu di ụ. Mi mụt tụ
lờn trinh bay phõn su tõm.
- GV yờu cõu hoc sinh trỡnh Hoc sinh trinh 1. Tỏc gi:
by phõn su tõm t liu
bay phõn su
- Ly Cụng Uõn (974 1028)
tõm
- Quờ: Bc Ninh..
GV nhõn xột va chụt lai kiờn
2. Tỏc phm:
thc c ban trờn may )
a. Hon cnh sỏng tỏc:
- GV gii thiờu Chiờu di ụ va
Viờt nm 1010, bay to y inh
canh nha vua ban Chiờu)
di ụ t Hoa L vờ ai La.
b. oc chu thớch.
- GV yờu cu oc: giong mach Hs oc
lac, trang trong, rừ rang.
10
- GV đọc mẫu.
bố mệnh lệnh.
- Nội dung: Thể hiện tư tưởng
chính trị lớn lao có ảnh hưởng
đến vận mệnh đất nước.
- Hình thức: Văn vần, văn xuôi
kết hợp với văn biền ngẫu.
d. Phương thức biểu đạt:
Nghị luận
e. Bố cục: 3 phần.
II. Tìm hiểu chi tiết văn bản
Hoạt động 2: Tìm hiểu chi
tiết văn bản
* Thảo luận nhóm:
- Thời gian: 7 phút.
Hs đọc câu hỏi
- Hình thức: 4 hs/ nhóm
thảo luận
- Nội dung thảo luận: Điền nội
11
dung thích hợp vào bảng sau:
Lí do dời đô Lí do chon
Đại La làm
nơi định đô.
…………… ……………
…………… ……………
……
Quốc :
+ Nhà Thương: năm lần dời đô
+ Nhà Chu: ba lần dời đô.
- Theo ông, việc dời đô của
nhà Thương, nhà Chu nhằm Hs trả lời
mục đích gì ? Kết quả ra sao ?
( Gv cung cấp tư liệu về sự tồn
tại của nhà Thương, Chu)
- Tại sao Lý Công Uẩn lại
1. Lí do dời đô
a. Lịch sử Trung Quốc
- Nhà Thương: năm lần dời đô
- Nhà Chu: ba lần dời đô.
Kết quả: Vận nước lâu dài,
phong tục phồn thịnh…
12
chọn nhà Thương, nhà Chu Hs trả lời
làm dẫn chứng kinh nghiệm
lịch sử ?
Hs giải thích
(Vì nhà Thương, nhà Chu tiêu
biểu cho những triều đại hưng
thịnh của Trung Quốc được coi
là mẫu mực đáng để ngợi ca mà
quần thần ai cũng biết. Hơn nữa
tâm lý người xưa thường noi
.- Nhà Đinh, Lê không vận dụng
kinh nghiệm của cổ nhân Trung
Quốc, cứ đóng đô ở Hoa Lư.
b. Thực tế đất nước.
- Nhà Đinh, Lê: cứ đóng đô ở
Hoa Lư
Học sinh trả lời
Việc nhà Đinh, Lê cứ đóng đô
ở Hoa Lư dẫn đến hậu quả
như thế nào ?
(GV cung cấp tư liệu lịch sử về
thời gian tổn tại của nhà Đinh,
Lê và chiếu bảng so sánh).
- Hãy so sánh thời gian tồn tại
của nhà Thương, Chu với nhà
Đinh, Lê và nhận xét?
( Lý Công Uẩn cho rằng chính
việc làm trái ngược đã dẫn đến
kết quả khác nhau. Chính vì
không noi theo dấu cũ của
Thương, Chu nên nhà Đinh, Lê
phải chịu kết cục đáng buồn như
vậy)
- Và cũng theo Lý Công Uẩn,
việc đóng đô ở Hoa Lư là
không còn phù hợp. Quan sát
tranh địa thế Hoa Lư, em hãy
lí giải nguyên nhân ?
(Là vùng đất chật hẹp, núi non
hiểm trở, sông ngòi thưa thớt,
vì làm theo ý riêng của mình,
khinh thường mệnh trời, không
noi theo dấu cũ của Thương,
Chu. Vì muốn giữ ngai vàng mà
cứ định đô ở Hoa Lư không có
lợi cho dân, cho nước )
- Ngày nay, khách quan nhìn
nhận đánh giá, ý kiến trên của
Lý Công Uẩn có hoàn toàn
chính xác không ?
Dựa vào chú thích 8 (SGK),
em hãy giải thích tại sao nhà
Đinh, Lê phải đóng đô ở Hoa
Lư ?
( Thế và lực của nhà Đinh, nhà
Lê chưa đủ mạnh, lại thường
xuyên phải chống chọi với giặc
ngoại xâm nên phải dựa vào núi
rừng hiểm trở chứ không phải
làm trái mệnh trời)
Trước thực tế đất nước, Lý
Công Uẩn có cảm xúc và suy
nghĩ như thế nào ?
Việc bộc lộ cảm xúc trong bài
Chiếu có tác dụng gì ?
- GV chiếu lại câu văn.
(GV chốt + bình: Đây là lời bộc
lộ chân thành, cảm động của
một ông vua. Đó là sự đau đớn
đến xót xa khi chứng kiến cảnh
Vic s dung dõn chng, lớ le
nh trờn nhm muc ớch gỡ ?
- GV chuyờn ý: Nghe hờt phn Hs nghe
1 cua bi chiờu hn cỏc qun
thn s thi tho bn bac: Khụng
biờt c vua cú cao kiờn di ụ
vờ õu? Vi sao lai vờ ni õy. ..
- GV chụt kin thc t bng
ca hoc sinh. ( GV ch vao
bang nhom cua hs: Nhom... a
ch ra c 4 cn c ờ chon
ai La la ni ong ụ. Cụ hoan
toan nhõt tri va õy cung la ap Hs oc
an cua cụ. Mi 1 bn hs oc
/a)
Theo dừi on vn sau v cho
cụ biờt, mụ t s thun li cua
i La, Ly Cụng Un a s
dung nhng cõu vn nh thờ
no ?
( Gv chiờu mụt sụ cõu vn)
Dn chng tiờu biờu, li l giau
sc thuyờt phuc
=> Khng nh: Di ụ la
vic lam cn thit.
2. Lí do chọn Đại La
làm nơi định đô:
- Lịch sử: Kinh đô cũ
hoá của cả nước.
Từ đó em có suy nghĩ gì về sự
lựa chọn của Lý Công Uẩn ?
(GV bình+ Giới thiệu lược đồ
thành Đại La:
Lý Công Uẩn là người có con
mắt tinh đời, hơn đời, toàn diện,
sâu sắc khi chọn Đại La là kinh
đô mới. Bởi nơi đây nằm giữa
châu thổ đồng bằng Bắc Bộ. Có
núi Ba Vì, Tam Đảo che chắn
mặt Tây. Mặt Bắc có “Nhị Hà
quanh Bắc sang Đông. Kim
Ngưu, Tô Lịch là sông bên
này” Hỏi trên đất nước ta còn
có nơi nào xứng đáng hơn nơi
đây?...)
- GV dẫn, chuyển:
- Vậy đứng trước mảnh đất Đại
La có nhiều thuận lợi như vậy,
Lý Công Uẩn có quyết định như
thế nào? ( Chuyển phần 3)
Kết thúc bài chiếu, nhà vua có
Hs trình bày sơ
đồ và nhận xét.
Hs trả lời
Hs trả lời
thoại trở thành đối
thoại có phần dân chủ
cởi mở.
Quan điểm
chính tri
này vẫn đợc lu giữ , phát
huy đến tận ngày nay.
Bởi Đảng và nhà nớc ta
luôn làm việc theo phơng châm: Dân biết,
dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra
* Hot ng 4: Tụng kt- GV
GV khỏi quỏt lai trinh t lõp
luõn bng s ụ.
- Qua vn bn Thiờn ụ
chiờu, em rut ra c bi hoc
gỡ vờ cỏch viờt mt bi vn
ngh lun ?
- Nờu y nghia xa hi lch s
cua Thiờn ụ chiờu ?
Hs tra li
- Trẫm muốn....nh ch
. Các khanh nghĩ thế
nào?
Hs nghe
->
Khẳng
ta thấy thế và lực của nhà Lí đủ
mạnh để sánh ngang với
phương Bắc, đủ sức chấm dứt
tình trạng cát cứ phong kiến )
* Hoạt động 5: Luyện tập
- Gv mời một hs trình bày kết
quả sưu tầm tư liệu về: Thăng
Long xưa- Hà Nội nay
- Một hs đọc bài thơ ca ngợi
Thăng Long- Hà Nội nhân dịp
1000 năm tuổi)
Trình bày kết quả sưu tầm+
đọc thơ.
Hs tr×nh
bµy
* Dặn dò: - Nắm chắc đăc điểm của thể chiếu và các luận diểm chính.
- Học thuộc bài và soạn bài tiếp theo.
V. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
- Trước kia khi giảng dạy phần nghị luận trung đại tôi thường nhận được ý kiến
phản hồi từ phía học sinh: Các văn bản này khó hiểu với các em; hoặc là các em
có hiểu nhưng hiểu chưa sâu và các em chưa thực sự cảm nhận hết cái hay của
văn bản.
- Nhưng sau khi áp dụng những kinh nghiệm trên, đặc biệt là giảng dạy các văn
bản nghị luận: “Hịch tướng si”, “Chiếu dời đô”, “Bàn luận về phép học” tại các
lớp 8, tôi có cho các em làm phiếu bài tập trắc nghiệm và viết đoạn văn cảm thụ
thì thu được kết quả như sau:
học sinh hiểu, yêu mến tác phẩm mà còn khơi gợi ở các em sự đồng cảm sâu sắc
với tác giả
- Cần chú ý đến tính tích hợp khi khai thác văn bản, bời vì việc tích hợp sẽ
giúp học sinh củng cố lại kiến thức đã học và hiểu rõ hơn nội dung tác phẩm
Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi trong quá trình tiếp cận và giảng dạy
các văn bản nghị luận Trung đại. Tuy nhiên đây mới là những suy nghĩ chủ quan
của tôi, nên đề tài này sẽ không trách khỏi những sai sót. Tôi rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến từ các đồng chí, đồng nghiệp để đề tài có thể hoàn thiện, có
thể ứng dụng được vào quá trình giảng dạy.
20
Nghia Đức, ngày 10 tháng 4 năm 2019
Người viết
Nguyễn Xuân Đồng
21