TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP TÀI CHÍNH QUỐC TẾ - Pdf 42

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
HỆ TẠI CHỨC KHÓA K2012/TP1
…………..o0o…………..

TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

KHỦNG HOẢNG KINH TẾ,
NHỮNG BÀI HỌC TỪ QUÁ KHỨ

GVHD: TRƯƠNG TRUNG TÀI
SV THỰC HIỆN: TRẦN MINH HÙNG
LỚP: NGÂN HÀNG
KHÓA K2012/TP1
SĐT: 0909341323
EMAIL:

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014


MỤC LỤC


I.

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH LÀ GÌ?

Chúng ta thấy được rằng một nền kinh tế hoạt động hiệu quả thì cần phải giải quyết được vấn đề bất
cân xứng trong thông tin để các luồng vốn có thể được sử dụng một cách có hiệu quả. Vấn đề thông tin bất
cân xứng là một rào cản cho việc luân chuyển vốn một cách có hiệu quả và thường được các nhà kinh tế
học miêu tả như là những trở ngại tài chính. Khi những trở ngại về tài chính tăng lên, thị trường tài
chính kém hiệu quả hơn trong việc điều chuyển vốn từ người tiết kiệm tới các hộ gia đình và các công ty

Corporation), giúp dự đoán khả năng họ sẽ có thể bị mất khả năng chi trả các khoản thanh toán nợ cho
vay. Ngoài ra, bằng cách giảm chi phí giao dịch, công nghệ máy tính cho phép gói các khoản vay nhỏ hơn
lại với nhau vào chứng khoán nợ tiêu chuẩn, một quá trình được gọi là chứng khoán hóa. Những yếu tố
này đã giúp cho các ngân hàng có thể cung cấp các khoản thế chấp dưới chuẩn cho khách hàng vay với
các hồ sơ tín dụng chưa hoàn hảo. Do những đặc tính như vậy nên rủi ro của nợ dưới chuẩn rất cao song
bù lại thì lãi suất của các khoản vay nợ dưới chuẩn cũng cực kỳ hấp dẫn.
Khả năng định lượng với giá rẻ rủi ro vỡ nợ của các khoản thế chấp có rủi ro cơ bản cao và đóng gói
lại thành một khoản nợ chuẩn an toàn được gọi là các chứng khoán đảm bảo thế chấp (MBS) (Chứng
khoán bảo đảm bằng thế chấp là loại chứng khoán được phát hành dựa trên cơ sở một hoặc một nhóm
các khoản thế chấp. Về bản chất, chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp là một loại trái phiếu. Thay vì, trả
cho nhà đầu tư một khoản trái tức cố định và tiền gốc, thì người phát hành chứng khoán thanh toán bằng
dòng tiền phát sinh từ những khoản thế chấp được dùng để đảm bảo cho số chứng khoán đó. Dạng đơn
3


giản nhất của chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp là kiểu "sang tay thế chấp", trong đó tất cả số tiền gốc
và lãi thanh toán hàng tháng (sau khi đã trừ đi phí dịch vụ) trong một hợp đồng thế chấp sẽ được "sang
tay" cho nhà đầu tư.) là nguồn cung cấp mới tài chính cho các khoản thế chấp).
Đổi mới tài chính không dừng lại ở đó. Kỹ thuật tài chính, là sự phát triển của công cụ tài chính phức
tạp mới, đã dẫn đến các sản phẩm tín dụng có cấu trúc có thể chi trả ra dòng thu nhập từ một tập hợp các
tài sản cơ bản, được thiết kế để có những đặc điểm nguy cơ đặc biệt mà nó tạo sự hấp dẫn đối với các nhà
đầu tư với các sở thích khác nhau. Trong các sản phẩm này nổi tiếng nhất là nghĩa vụ nợ thế chấp (CDOs)
2.1.2. Bong bóng thị trường nhà ở
Bong bóng thị trường nhà ở là hiện tượng giá trị thị trường của nhà ở tăng quá cao, vượt xa giá trị thực
của nó do các hoạt động đầu cơ thái quá vào thị trường này. Bong bóng nhà ở xảy ra bắt nguồn từ tháng
2001, tại Mỹ. Vào giai đoạn suy thoái kinh tế 2001- 2002 do việc các quỹ đầu tư mạo hiểm vào các công
ty công nghệ cao (dot.com) không hiệu quả, cộng thêm chi phí của hai cuộc chiến tranh Iraq và Afganistan
nền kinh tế Mỹ trở nên mất cân đối nghiêm trọng. Giá nhà đất trở nên đắt đỏ, phần lớn dân lao động nhập
cư và người da màu phải ở nhà thuê với chi phí cao. Để giúp nền kinh tế thoát khỏi tình trạng trì trệ, FED
đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến các ngân hàng cũng hạ lãi suất để cho vay mua bất động sản. Cụ thể,

biên nhà thế chấp. Nhưng giá nhà xuống khiến cho tài sản tịch biên không bù đắp nổi khoản ngân hàng
cho vay, khiến các ngân hàng rơi vào khó khăn. Nhiều tổ chức tín dụng cho vay mua nhà gặp khó khăn vì
không thu hồi được nợ. Giá nhà ở giảm nhanh khiến cho các loại giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO viết tắt của collateralized debt obligations) và chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS - viết
tắt của mortgage-backed security) do các tổ chức tài chính phát hành bị giảm giá nghiêm trọng. Kết quả là
bảng cân đối tài sản của các tổ chức này xấu đi và xếp hạng tín dụng của họ bị các tổ chức đánh giá đánh
tụt. Cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra.
Những rủi ro mang tính hệ thống đã tồn tại và một khi sự cố đối với bong bóng thị trường tài sản xảy ra
thì những rủi ro này sẽ làm mất lòng tin ghê gớm của các bên liên quan. Thêm vào đó, việc cho vay liên
ngân hàng sẽ làm cho những tổn thất tín dụng lây lan ra toàn hệ thống ngân hàng; một ngân hàng phá sản
sẽ kéo theo nhiều ngân hàng khác phá sản. Và mất lòng tin ở người gửi tiền gây ra đột biến rút tiền gửi
còn làm cho tình hình thêm nghiêm trọng và diễn ra nhanh chóng hơn.

5


2.1.3. Thông tin bất cân xứng và các cơ quan xếp hạng tín dụng
Các cơ quan xếp hạng tín dụng, người đánh giá chất lượng của các chứng khoán nợ về khả năng vỡ
nợ, là một nhân tố góp phần vào bất cân xứng thông tin trong thị trường tài chính.Các cơ quan xếp hạng tư
vấn cho khách hàng về cách cấu trúc công cụ tài chính phức tạp, như CDOs, đồng thời họ đã xếp hạng các
sản phẩm giống nhau. Các cơ quan đánh giá do đó là các đối tượng xung đột lợi ích bởi vì nguồn lợi
khổng lồ họ thu được từ tư vấn cho khách hàng về cách cấu trúc sản phẩm làm cho sự đánh giá của họ
không còn chính xác nữa. Kết quả đánh giá cực kỳ thổi phồng đó cho phép bán các sản phẩm tài chính
phức tạp có khả năng xảy ra rủi ro vượt xa hơn các nhà đầu tư tính toán.
Kết luận: Khủng hoảng đã xảy ra khi thị trường nhà đất Mỹ bị đóng băng từ khoảng tháng 7/2007 sau
khi lãi suất cho vay thế chấp bị điều chỉnh tăng hàng loạt làm hàng triệu người vay tiền mua nhà đầu cơ
không thể trả nợ. Thị trường chứng khoán phái sinh từ nợ vay thế chấp dưới chuẩn mất khả năng thanh
khoản gây ra khủng hoảng tín dụng và thiệt hại không nhỏ cho các ngân hàng lớn không chỉ bên trong
nước Mỹ. Thị trường bất động sản liên tục đi xuống trong giai đoạn này khi mà cầu thấp hơn lượng cung
rất nhiều. Giá tài sản cầm cố là nhà đất giảm liên tục làm cho những ngân hàng và nhà đầu tư đã bơm vốn
vào thị trường nhà đất không thu hồi được số tiền này và bị mất trắng, chấp nhận phá sản; kéo theo thị

lãnh các khoản vay xấu. Biện pháp đặt ra cho các tổ chức tài chính là thay đổi cơ cấu bằng cách bán bớt
tài sản của mình, việc này sẽ tốn chi phí rất cao trong giai đoạn bất thị trường bất ổn.
Việc tự cứu mình buộc các ngân hàng siết chặt tín dụng, tăng cường các rào cản cho vay trong đó có
việc tăng cao lãi suất để bù vào rũi ro. Điều này khiến những người có nhu cầu vốn thật sự như người tiêu
dùng và các doanh nghiệp khó tiếp cận tín dụng, mặc dù họ là đối tượng có khả năng thanh toán cao nhất.
Rào cản tài chính ngày càng cao, việc điều tiết vốn của hệ thống tài chính trở nên không thông suốt.
2.2.3. Sự tháo chạy của hệ thống ngân hàng – Shadow banking System.
Shadows banking system là hệ thống các ngân hàng đầu tư, quỹ đầu tư, các công ty bảo hiểm và các tổ
chức không chịu sự giám sát chặt chẽ như ngân hàng thương mại.
Hệ thống này trước đây là các tổ chức chủ yếu thực hiện việc phát hành các khoản nợ thế chấp được
chứng khoán hóa, bản thân hệ thống này cũng nắm giữ nhiều tài sản bằng các MBS, CDOs. Bằng các
nghiệp vụ repos chừng khoán, các Shadows banking systems đem tài sản thế chấp vào các tổ chức tài
chính khác cho vay để hưởng lãi suất thấp dưới hình thức tự động chuyển đổi (nếu cất trữ MBS, CDOs thì
không hưởng được lãi). Đây là kênh dẫn vốn quan trong cho nền kinh tế lúc chưa xảy ra khủng hoảng.
Cũng như các tổ chức tài chính khác Shadow banking System cũng bị suy giảm tài sản. Do hai nguyên
nhân, thứ nhất, do trước đây các tổ chức này còn giữ lại phần lớn các khoản vay dưới chuẩn mà không bán
cho các tổ chức tài chính khác, nên phải đương đầu với tỉ lệ mất khả năng trả nợ ngày càng cao của những
khỏan vay này.Theo ước tính, khoản tiền vay này tăng vùn vụt từ 160 tỷ USD năm 2001 lên 540 tỷ vào
năm 2004 và đạt đỉnh 1300 tỷ năm 2007 (Trần Văn Thọ và Lê Anh 2008). Thứ hai, chính vì sự sụt giảm
trong giá trị mà các MBS và CDOs trở nên khó thanh khoản nên khi cầm cố để vay người cho vay đòi hỏi
trị giá tài sản phải cao hơn nhiều so với khoản cần vay đôi lúc giá trị chênh lệch là 50% ( trước khủng
hoảng khoảng này gần bằng 0%). Do việc cầm cố để lấy tiền như trước đây chịu một tỷ lệ chiết khấu cao
như vậy, vả lại các ngân hàng này cũng cần tiền bù vào vốn sở hữu bị ăn gần hết nên buộc phải bán tháo
tài sản của mình.
Kênh dẫn vốn với lãi suất thấp dồi dào trước đây bị khóa, nguồn tín dụng càng khan hiếm hơn. Doanh
nghiệp lao đao, thất nghiệp tràn lan, cầu tiêu dùng giảm mạnh, giá cả hàng hóa sụt giảm do cầu giảm,
giảm phát –nợ là đấy.
2.2.4. Thị trường tài chính toàn cầu
Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ bắt đầu từ năm 2007 và ngày càng trầm trọng hơn kéo theo sự sụp đổ
đối với thị trường tài chính, hệ thống tài chính ngân hàng Mỹ đồng loạt đổ vỡ, ngành dịch vụ sản xuất bắt


thất nghiệp
của
Ireland
qua
các
thời kì

lệ

Nhưng đằng sau đó thì với giá bất động sản cao ngất ngưởng cùng với sự bùng nổ của việc cho vay thế
chấp đã trở thành gốc rễ của cuộc khủng hoảng tài chính lớn năm 2008 tại Ireland, khiến cho nên kinh tế
nước này suy thoái trầm trọng và đứng trên bờ vực phá sản trên quy mô quốc gia. Thất nghiệp tăng từ
4.5% trước khủng hoảng lên 12.5% trong khi GDP sụt hơn 10%. Danh sách đóng thuế ít dần trong khi thất
thoát từ khu vực ngân hàng tiếp tục tăng lên, dẫn đến thâm hụt ngân sách chính phủ với một con số đáng
giật mình hơn 30% trong năm 2010. Do đó Ireland đã phải rút khỏi khỏi liên minh Châu Âu và quỹ tiền tệ
IMF.
Vì vậy, các nước Châu Âu chịu ảnh hưởng của cuôc suy thoái nặng nề hơn nhiều so với Hoa Kỳ.
2.2.5. Sự thất bại của các doanh nghiệp hàng đầu
Tác động của cuộc khùng hoảng đến bảng cân đối của doanh nghiệp làm cho các doanh nghiệp hàng
đầu điêu đứng. Trước hết phải kể đến sự sụp đổ của mô hình ngân hàng đầu tư độc lập (investment bank)
tại Phố Wall. Cả 5 ngân hàng độc lập của con phố tài chính này đều trải qua bước ngoặt quan trọng trong
năm 2008. Các ngân hàng này báo cáo tổng nợ trong năm tài khóa 2007 lên đến 4,100 tỷ, chiếm 30% GDP
danh nghĩa của Mỹ năm 2007. (Nguồn: Edward Conard (2012). Unintended Consequences. Penguin. pp.
8


145–155. ISBN 978-1470823573.): Lehman Brothers phá sản, Bear Sterms và Merill Lynch bị thâu tóm,
Morgan Stanley và Goldman Sachs trở thành ngân hàng thương mại,phải chịu các quy định nghiêm ngặt
hơn. Tính đến ngày 15/12/2008, số NHTM của Mỹ phải đóng cửa đã lên đến con số 25, so với số 3 ngân

Tình trạng thị trường tài chính đóng băng ngày càng tồi tệ đã khiến Ngân hàng Trung ương Mỹ, Anh
Nhật, EU và nhiều quốc gia khác phải cắt giảm lãi suất hàng loạt khơi thông dòng vốn. Các quốc gia trên
cũng tích cực bơm tiền nhằm hỗ trợ thanh khoản cho các tập đoàn tài chính, cũng như kích thích hoạt
động tiêu dùng và cho vay. Trong đó, FED quyết định dùng 700 tỷ USD để mua lại nợ xấu của các ngân
hàng. Trước khi được thông qua vào ngày 1/10/2008, kế hoạch hỗ trợ lớn chưa từng có trong lịch sử đã
vấp phải không ít phản đối tại Quốc hội Mỹ. Đặc biệt tại vòng bỏ phiếu vào ngày 29/9/2008, Hạ viện bất
ngờ không .thông qua kế hoạch với tỷ lệ 228 phiếu chống và 205 phiếu thuận, Thị trường chứng khoáng
sụp đỗ ngay lập tức khi thông tin này được truyền hình tực tiếp trên truyền hình, chỉ số Dow Jones giảm
6,98%.
Đỉnh điểm vào tuần đầu tháng 10, từ ngày 6/10/2008, đánh dấu tuần suy giảm tồi tệ nhất trong lịch sử
Mỹ. Ngày 15/10/2008, thị trường chứng khoán giảm kỷ lục 733 điểm (7.9%), mức giảm mạnh nhất kể từ
ngày thứ sáu đen tối 19/10/1987. Chênh lệch tính dụng đã vượt quá giới hạn trong 3 tuần tiếp theo, sự
chênh lệch giữa lại suất trái phiếu các Côngty Baa (những công ty có mứa độ rủi ro trung bình theo xếp
hạng của Moddy's) và lãi suất trái kho bạc Mỹ đã hơn 5.5 điểm phần trăm (550 điểm cơ bản)

Hình 7. Chênh lệch tín dụng đã tăng hơn 4 điểm phần trăm (400 điểm cơ bản) trong cuộc khủng
hoảng tài chính.
Các cuộc tranh luận về gói cứu trợ và sự sụp đổ của thị trường chứng khoán do chênh lệch lãi
suất đạt đỉnh điểm vào tháng 12/2008(thời điểm Chênh lệch tín dụng hơn 5.5 điểm phần trăm).
Nguồn: Ngân hàng dữ trự liên bang st. Louis, />Tháng 9 và 10/2008 trở thành giai đoạn đen tối với phố Wall khi chỉ số Dow Jones sụt tới 25% giá trị
chỉ sau một tháng kể từ ngày 15/9/2008. Không chỉ ở phố Wall, tuần lễ từ 15 đến 21/9/2008 thị trường
chứng khoán của cả thế giới chao đảo, từ Tôkyô đến Thượng Hải, Seoul và Hồng Kông, các chỉ số chứng
khoán đều tuột dốc mạnh. Tại châu Âu, các thị trường chứng khoán Paris, Luân Đôn, Franfurt,
Amsterdam cùng chung số phận. Thị trường chứng khoán Matxcơva cũng lâm vào tình trạng hoảng loạn
đến nỗi phải tạm đóng cửa để chờ cho cơn bão đi qua.
Sự thất bại của thị trường tài chính và lãi suất gia tăng dẫn đến sự sụt giảm chi tiêu tiêu dùng và đầu tư.
Kinh tế Mỹ lâm vào suy thoái với tốc độ nhanh, GDP thực tế giảm mạnh, khoảng - 1,3% trong quí thứ 3
năm 2008, đến quí 4 tiếp tục giảm xuống -5,4% và - 6,4% trong quí tiếp theo. Tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt,
vượt quá 10% vào cuối năm 2009.
10

Tại Mỹ:
Cục dự trữ liên bang Mỹ hành động bất thường trong chính sách tiền tệ để kích thích nền kinh tế, giúp
cho hệ thống tài chính hoạt động bình thường. Chính phủ Mỹ đã tung ra gói cứu trợ trị giá 150 tỷ USD để
giúp tập đoàn bảo hiểm toàn cầu AIG vượt qua khó khăn.
Kế hoạch cứu trợ tài sản gặp khó khăn (mua lại các khoản nợ xấu) – TARP có ý nghĩa quan trọng nhất.
Chính quyền đã thông qua đạo luật hồi phục kinh tế 10/2008 bằng cách ủy quyền cho Bộ Tài chính khoản
chi tiêu 700 tỷ USD để mua lại các khoản cho vay dưới chuẩn của các ngân hàng đầu tư. Ngoài ra đạo luật
còn nâng cao mức bảo đảm tiền gửi từ 100 ngàn USD lên 250 ngàn USD để hạn chế làn sóng rút tiền ra
khỏi các ngân hàng, tiếp sau đó cơ quan bảo hiểm tiền gửi liên bang FDIC đưa ra đảm bảo cho các khoản
nợ mới phát hành thông qua các quỹ hỗ tương và kho bạc thời gian 1 năm và mua lại đúng mệnh giá.
Tương tự như vậy chính phủ các nước châu Âu cũng bơm vào hệ thống ngân hàng 10 ngàn tỷ USD để
ngăn chúng khỏi bị sụp đổ.
Trong cuộc giải cứu này chính phủ Mỹ còn kích thích nền kinh tế bằng các gói kích cầu. Tháng 2/2008
sau khi được quốc hội Mỹ thông qua gói kích cầu trị giá 780 tỷ USD bằng hỗ trợ 600 USD trên mỗi tài
khoản thuế thu nhập cá nhân.
Tổng thống mới đắc cử Obama đã đề xuất và được thông qua gói: Phục hồi và tái đầu tư 2009, gói kích
thích 789 tỷ USD (gói này đến nay vẫn còn gây tranh cãi về hiệu quả của nó).
11


Với nhiều gói cứu trợ từ chính phủ và những nổ lực phi thường của FED, cuối cùng thị trường cũng có
dấu hiệu hồi phục vào tháng 3/2009.
Châu Âu:
Những thất bại ngân hàng đã lan rộng sang châu Âu vào mùa thu năm 2008 dẫn đến gói cứu trợ khổng
lồ từ chính phủ: Hà Lan, Bỉ, Luxambua đã bơm vào 16 tỷ USD để chống đỡ cho Fortis khỏi sụp đổ. Một
cổ đông lớn của ngân háng châu Âu ECB là Hà Lan cũng tung vào thị trường 13 tỷ USD để giúp tập đoàn
bảo hiểm – ngân hàng khổng lồ. Đức cung cấp gói cứu trợ 50 tỷ USD để cứu Hypo Real Estate Holdings
và Ireland thông qua ba ngân hàng lớn của mình đã bảo đảm chính phủ đảm bảo cho tất cả những khoản
cho vay ở ngân hàng thương mại cũng như cac khoản vay lien ngân hàng. Cũng giống như Mỹ, Tây ban
nha, Hy Lạp đã tung ra gói cứu trợ 70 tỷ USD nợ xấu và khuyến khích người dân cho vay.

nhưng trước mắt sẽ có những hạn chế trên một số lĩnh vực như:
- Mức độ liên thông giữa hệ thống ngân hàng Việt Nam với thị trường tài chính bên ngoài và với ngân
hàng Mỹ sẽ gặp khó khăn; Trong ngắn hạn, do tác động trực tiếp của khủng hoảng tài chính, lợi nhuận của
nhiều ngân hàng có thể giảm, thậm chí một số ngân hàng nhỏ có thể thua lỗ; nợ xấu tăng lên; nên hệ thống
ngân hàng tài chính Việt Nam có nguy cơ bị ảnh hưởng trong một vài năm;
- Khả năng giao dịch ngân hàng, tài chính quốc tế sẽ giảm, ảnh hưởng đến nợ vay ngắn hạn của Việt Nam
tại các ngân hàng và doanh nghiệp.
12


3.1.3. Đối với hoạt động xuất khẩu
Hiện nay, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam chiếm khoảng 20-21% kim ngạch xuất khẩu.
Khủng hoảng tài chính đã tác động đến tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường Mỹ do cầu tiêu dùng
tại thị trường Mỹ đang trên đà giảm mạnh. Việc suy giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường Mỹ
sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chung của ViệtNam trong năm 2008 và cả năm 2009 (nếu
nền kinh tế Mỹ chưa có dấu hiệu phục hồi). Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng còn tuỳ thuộc vào tính chất của
từng mặt hàng. Khủng hoảng tài chính Mỹ sẽ tác động tiêu cực tới nhiều nền kinh tế khác trên thế giới,
đặc biệt là EU và Nhật Bản – đây là hai thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam.
Do tác động của khủng hoảng, người dân tại các thị trường này cũng phải cắt giảm chi tiêu, các nhà
nhập khẩu không có khả năng thanh toán do khó khăn về tài chính, theo đó nhập khẩu đối với hàng hoá
xuất khẩu của Việt Nam sẽ có xu hướng giảm. Thực tế những tháng gần đây, với tác động tiêu cực của
khủng hoảng tài chính, xuất khẩu của Việt nam đã bắt đầu có biểu hiện giảm sút, kim ngạch xuất khẩu
tháng 11 đã tiếp tục giảm và xuống dưới ngưỡng 5 tỷ USD/tháng. Đây là tháng thứ ba kim ngạch xuất
khẩu suy giảm.
Tháng 11 năm 2008 kim ngạch xuất khẩu cả nước chỉ còn 4,8 tỷ USD giảm so với mức 5,044 tỷ USD
của tháng 10. Trong đó: Dệt may giữ được kim ngạch ở mức 780 triệu USD, giày dép tăng nhẹ lên 400
triệu USD so với 396 triệu USD của tháng 10/2008. Một số mặt hàng khác cũng suy giảm trong đó đặc
biệt là dầu thô giảm mạnh do giá dầu đã giảm 60% so với mức tháng 7/2008. Dấu hiệu của suy giảm kinh
tế đã bắt đầu xuất hiện. Khủng hoảng tài chính sẽ dẫn đến suy thoái kinh tế, nhiều mặt hàng thế mạnh của
Việt Nam sẽ giảm giá và chắc chắn sẽ tác động trực tiếp đến kim ngạch xuất khẩu.


- Khủng hoảng tài chính tác động mạnh mẽ đến tâm lý của các nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam, TTCK
lập tức bị tác động xấu vì những lo ngại của các nhà đầu tư trong nước. Yếu tố tâm lý là khá quan trọng, vì
vậy cần có những giải pháp, đặc biệt là thông tin, tuyên truyền đầy đủ để củng cố niềm tin cho các nhà đầu
tư; hạn chế những lo ngại thái quá làm ảnh hưởng xấu đến TTCK.
3.1.6. Đối với thị trường bất động sản (BĐS)
Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh BĐS của Việt Nam tiềm lực tài chính khá hạn hẹp mà
phần lớn phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài chủ yếu là vốn vay của các ngân hàng và tổ chức tín dụng.
Đây là một khó khăn của doanh nghiệp kinh doanh BĐS trong điều kiện khủng hoảng tài chính hiện nay.
Cuối năm 2007 tình trạng đầu cơ BĐS đã đẩy giá BĐS ở Việt Nam lên quá cao so với giá trị thực. Thị
trường đã lên cơn sốt ảo, cầu ảo tăng cao. Bước sang năm 2008 nền kinh tế Việt Nam gặp khó khăn do
ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, lạm phát tăng cao buộc người dân phải giảm chi tiêu, thị trường BĐS
đóng băng, giá BĐS đã giảm đến 40%, các doanh nghiệp kinh doanh BĐS rơi vào khó khăn, không bán
được sản phẩm l ại phải chịu lãi suất cao do chính sách thắt chặt tiền tệ làm lãi suất ngân hàng tăng cao.
Đến nay thị trường cũng chưa có dấu hiệu phục hồi. Giá BĐS giảm sẽ kéo theo tài sản ngân hàng cũng
giảm theo, nợ xấu tăng lên làm cho cơ cấu vốn của ngân hàng thương mại rơi vào tình thế bất lợi.
Hiện nay khủng hoảng nợ dưới chuẩn ở Mỹ mà gốc rễ là từ khủng hoảng địa ốc tuy không làm ảnh
hưởng trực tiếp đến thị trường BĐS ở Việt Nam nhưng nó sẽ ảnh hưởng gián tiếp qua các tác động đến thị
trường tài chính tiền tệ, thị trường chứng khoán và các yếu tố tâm lý của người dân. Tuy nhiên theo báo
cáo của Ngân hàng nhà nước Việt Nam thì cho vay BĐS chiếm khoảng 9,5% tổng số dư nợ của các Ngân
hàng và tổ chức tín dụng. Mặc dù vậy việc tác động gián tiếp đến thị trường BĐS Việt Nam như đã nói ở
trên là có thể.
3.1.7. Đối với thị trường hàng hoá và dịch vụ
Sức cầu giảm cả trong sản xuất và tiêu dung. Trong tình hình kinh tế thế giới đang suy thoái, tình hình
kinh tế vĩ mô của Việt Nam mặc dầu đã được cải thiện nhưng nói chung vẫn còn nhiều khó khăn. Trong
thời gian qua nhiều doanh nghiệp đã cắt giảm kế hoạch sản xuất kinh doanh, thu hẹp quy mô do chi phí
sản xuất tăng, đặc biệt là lãi vay ngân hàng. Một số hoạt động dịch vụ sẽ bị thu hẹp, đặc biệt là lượng
khách du lịch sẽ giảm so với năm 2007
3.2 Bài học kinh nghiệm cho nền kinh tế Việt Nam
Qua cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, Việt Nam đã rút ra một số bài học kinh nghiệm về việc duy trì

hỏi phải có sự nỗ lực của từng quốc gia, đồng thời phải đẩy mạnh hợp tác quốc tế để tập trung nguồn lực
và phối hợp hành động chung trên phạm vi khu vực và toàn cầu, thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc
tế.
IV.
KẾT LUẬN
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 đã làm biến đổi sắc thái kinh tế của nhiều nước đặt biệt
nền kính tế nước Mỹ. Chính vì sự lay động nền kinh tế nước Mỹ, cuộc khủng hoảng tài chính đã ảnh
hưởng tiêu cực đến nền kinh tế các nước, gây ra suy thoái kinh tế ở nhiều nơi và tăng trưởng kinh tế chậm
lại ở hầu hết các nước khác. Vì sự tác động kép của cuộc khủng hoảng kinh tế, nên việc nghiên cứu những
nguyên nhân và tìm ra biện pháp khác phục, bình ổn nền kinh tế các nước trên thế giới nói chung và nền
kinh tế Việt Nam nói riêng là hết sức quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Để từng bước khôi
phục bình ổn nền kinh tế, Chính phủ phải quan tâm thắt chặt hơn những chính sách tài chính tiền tệ, chứng
khoán, nguồn vốn ra vào của Nhà đầu tư nước ngoài, v.v...
Tuy vậy nhờ sự can thiệp kịp thời của chính phủ trong việc ban hành và thực thi một loạt các giải
pháp chống lạm phát mà tình hình đã dần ổn định, cơ cấu kinh tế vĩ mô đã được đảm bảo, Việt Nam trước
mắt đã thoát khỏi nguy cơ khủng hoảng. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2008 giảm xuống còn
6,31%, năm 2009 còn 5,32%. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh về vốn đăng ký (từ 71,7 tỷ USD
năm 2008 còn 21,5 tỷ USD năm 2009) và vốn thực hiện (từ 11,5 tỷ USD xuống 10 tỷ USD). Lượng khách
quốc tế giảm từ trên 4,2 triệu lượt người xuống còn trên 3,7 triệu lượt người. Lượng kiều hối giảm từ 7,2
tỷ USD xuống còn gần 6,3 tỷ USD,vốn đầutư gián tiếp sụt giảm mạnh. Tốc độ tăng giá tiêu dùng cao
trong năm 2007 (12,63%), bùng phát trong năm 2008 đã tăng tới 19,89% (tính bình quân năm đã tăng tới
22,97%). Giá USD nếu năm 2007 giảm nhẹ, thì năm 2008 tăng 6,31% và năm 2009 đã tăng 10,7%. Nhập
siêu năm 2007 lên trên 14,2%, năm 2008 đã lên đến trên 18 tỷ USD và năm 2009 cũng gần 12,9 tỷ USD.
Nhưng các biện pháp trên chưa thực sự được cho là hoàn hảo, nó đã để lại không ít những hậu quả
và di chứng cho nền kinh tế. Đánh giá lại về hiệu quả các biện pháp này là một việc làm đúng đắn để
chúng ta có thể rút được bài học kinh nghiệm cho những năm tiếp sau.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- The Economics of money, Banking, and Financial Markets (Tenth Editional- Frederic
S.Mishkin)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status