TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP TÀI CHÍNH QUỐC TẾ - Pdf 42

ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

----- -----

BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài :

TH ỰC TRẠNG VÀ GIẢI
PHÁP CHO VẤN ĐỀ NỢ CÔNG
Giáo viên hướng dẫn : Trương Trung Tài
Họ và Tên

: Nguyễn Thị Hương Hiền

Lớp

: Ngân Hàng 2012TP1

Điện Thoại : 0919 997 475
Email

:[email protected]

Tháng 12 - 2014

Page 1 of 50


MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ.................................................................

có phương pháp thích hợp. Cả thế giới đã thất bại vì các nước không thông hiểu lẫn nhau. Nói
chung, vấn đề để các quốc gia thỏa hiệp cùng một chính sách tương tự là rất khó khăn. Mỗi
quốc gia có xu hướng phát hành trái phiếu và cố gắng để có lấy được nguồn vốn trên thị trường
quốc tế mà họ không có khả năng trả được (Gonzales, 2008).Vì vậy,ta cần nghiên cứu nợ công
trên thế giới để tìm hiểu và có thể đưa ra một số giảỉ pháp cho tình hình thực tế hiện nay.

Page 3 of 50


PHẦN 1 : GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ
Mục tiêu nghiên cứu
Theo số liệu do “The Economist” cập nhật tính đến đầu tháng 3/2013, những khu vực và quốc
gia có tổng mức nợ công tuyệt đối cao nhất hiện nay là Bắc Mỹ, Brazil, châu Âu, Trung Quốc,
Ấn Độ, Nhật Bản và Australia.
Trong đó, Nhật Bản là nước có số nợ công khổng lồ nhất, lên tới hơn 12,5 nghìn tỷ USD (tương
đương 226,1% GDP), tiếp theo là Mỹ nợ hơn 11,8 nghìn tỷ USD (tương đương 75,2% GDP).
Nhiều quốc gia trong khối sử dụng đồng tiền chung châu Âu cũng đang có mức nợ công hàng
nghìn tỷ USD như Đức nợ gần 2,7 nghìn tỷ USD (tương đương 83% GDP), Italy nợ trên 2,4
nghìn tỷ USD (tương đương 120,8% GDP), Pháp nợ hơn 2,3 nghìn tỷ USD (tương đương
90,5% GDP), Anh nợ hơn 2,2 nghìn tỷ USD (tương đương 91,4% GDP), … Hy Lạp, “tâm bão”
nợ công của châu Âu hiện nợ gần 395 tỷ USD (tương đương 157,5% GDP).
Trung Quốc cũng đang là nước có mức nợ công cao trên thế giới. Tổng mức nợ công của Trung
Quốc tính tới cuối năm 2010 là gần 1,03 tỷ nghìn tỷ USD, nhưng nợ công cũng chỉ chiếm có
17% GDP của Trung Quốc.
Việt Nam hiện nằm trong nhóm nước có mức nợ công trung bình của thế giới. Tổng mức nợ
công của Việt Nam hiện vào khoảng 71,6 tỷ USD, tương đương 49,4% GDP, tăng 12,7% so với
năm trước. Mức nợ công bình quân đầu người của Việt Nam đang là 798,92 USD.
Việt Nam cũng xếp vào nhóm những nước có nợ công ở mức trung bình, khá thấp so với các
nước khu vực Đông Nam Á như Indonesia (231 tỷ USD), Thái Lan (185 tỷ USD), hay Malaysia
(175 tỷ USD). Tuy nhiên, nợ công Việt Nam lại chiếm tới 49,4% GDP, xếp hàng cao nhất trong

trải nổi tiền lãi, không thể trả nợ và phá sản.Chúng ta cũng đã chứng kiến việc các quốc gia mắc
nợ quá nhiều khiến nền kinh tế thế giới bị cuốn vào vòng xoáy khủng hoảng năm 2008.Nếu như
đối với cá nhân, “mức tối đa” được đo bằng tiền lương tháng, các tài sản thế chấp, lịch sử tín
dụng cá nhân,... thì ở phạm vi quốc gia, một trong những yếu tố rất lớn ảnh hưởng tới “mức tối
đa” chính là tỷ lệ Nợ công so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).Nhật Bản đứng đầu danh
sách này với tỷ lệ Nợ công/GDP là hơn 227%. Theo sau là Hy Lạp (175%), Italy (133%). Mỹ
đứng thứ 6 trong danh sách với số Nợ công bằng 101,5% GDP.Có một điểm chung thú vị giữa
các quốc gia này, đó là lãi suất cho vay dài hạn được giữ ở mức rất thấp: Lãi suất cho vay dài
hạn ở Nhật Bản là 0,0%, các nước thuộc Liên minh châu Âu như Hy Lạp, Italy, Bồ đào Nha, Bỉ
có lãi suất chung là 0,05%; Singapore 0,17% và Mỹ với mức lãi suất cho vay cao nhất cũng chỉ
0,25%.Nợ càng nhiều thì áp lực trả nợ càng lớn, và vấn đề mà tất cả các quốc gia mắc nợ nhiều
nhất gặp phải chính là nợ ngày càng nhiều hơn. Xu hướng nợ nhiều hơn đã bắt nguồn từ cả
chục năm nay.

Page 5 of 50


PHẦN 3:TÌNH HÌNH VIỆT NAM

1. Thực trạng nợ công ở Việt Nam hiện nay
Trong bối cảnh nợ công châu Âu đang lan rộng và cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu chưa tìm
ra lối thoát, nhiều chuyên gia nghiên cứu đã cảnh báo nợ công của Việt Nam cũng đang ở mức
nguy hiểm và có xu hướng gia tăng nhanh. Có rất nhiều rủi ro tiềm ẩn trong chi tiêu công, trả
nợ công và quản lý nợ công ở Việt Nam, đòi hỏi phải có cái nhìn nghiêm túc về vấn đề này để
có những giải pháp quản lý nợ công một cách hiệu quả trong thời gian tới. Nợ công đã trở thành
một trong những vấn đề quan trọng và phức tạp trong nền kinh tế của mỗi quốc gia cũng như
toàn cầu trong giai đoạn hiện nay. Nhiều nước có mức nợ công rất lớn đang phải đối mặt với
nhiều khó khăn trong việc cân đối tài chính và thực hiện các nghĩa vụ trả nợ. Việt Nam cũng
không phải ngoại lệ với những món nợ công đang ngày càng gia tăng. Theo báo cáo về tình
hình nợ công của Chính phủ số 305/BC-CP ngày 30/10/2012 thì nợ Chính phủ năm 2010 là

quốc gia nợ công lên đến 200% GDP vẫn an toàn, trong khi có nơi chỉ quá 50% GDP đã vỡ nợ.
Theo thông lệ quốc tế, trần trả nợ công được giới hạn là 25% thu ngân sách nhưng tỉ lệ này của
Việt Nam đang là 25,9% và dự kiến lên mức 31,9% năm 2015. Đặc biệt, từ năm 2012, Việt
Nam bắt đầu phải thực hiện vay để đảo nợ, tức là phải dành một phần vốn vay mới để trả nợ cũ.
Mức đảo nợ ngày càng lớn, năm 2014 Chính phủ phải vay hơn 70.000 tỉ đồng để đảo nợ thì
năm 2015 dự kiến tăng gần gấp đôi, đạt mức 130.000 tỉ đồng. Số tiền lãi phải trả nợ hằng năm
cũng đang tăng rất nhanh.
Số liệu của Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (Bộ Tài chính) cho thấy năm 2010, ngân
sách phải trả cả gốc và lãi 1.323,65 triệu USD và gần 24.503 tỉ đồng thì đến năm 2012 đã phải
trả 2.673,75 triệu USD và hơn 50.520 tỉ đồng. Riêng quý I/2014, số tiền trả nợ đã gần 30.000 tỉ
đồng.
Theo chuyên gia kinh tế Đinh Tuấn Minh, khi nợ công của một quốc gia đến mức báo động đỏ,
khả năng trả nợ khó khăn mà không thể cắt giảm vốn vay thì sẽ lâm vào tình trạng chủ nợ
không cho vay nữa hoặc cho vay lãi suất rất cao.
Khi đó người dân sẽ phải gồng mình trả nợ, ngân sách làm ra đồng nào trả nợ đồng ấy, không
còn tiền dành cho đầu tư phát triển hay chi cho các mục tiêu an sinh xã hội, đẩy nền kinh tế lâm
vào tình trạng trì trệ.
Ở góc độ vĩ mô, nợ công gia tăng sẽ làm giảm uy tín của Chính phủ trong vấn đề cải cách nền
kinh tế. Việc vay mượn nhiều cũng khiến nhà đầu tư nước ngoài lo ngại khi quyết định rót vốn.

Còn theo chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long, những con số trên chỉ là phương pháp tính. Ông lấy
ví dụ ở các nước châu Âu xem lạm phát vượt qua 3% và nợ công trên 60% là rất xấu. "Còn Việt
Nam quy định lớn hơn 65% mất an toàn", ông Long nói.
Tuy nhiên, ông Long khẳng định các con số báo cáo của Chính phủ chỉ tính nợ Chính phủ, chưa
tính các khoản nợ doanh nghiệp nhà nước, các bảo lãnh ngành, địa phương.

Page 8 of 50


Thực tế, theo thẩm tra của Ủy ban tài chính - Ngân sách Quốc hội, nếu cộng thêm 85 nghìn tỷ



- Phải có những lĩnh vực ưu tiên rõ ràng trong chi tiêu sử dụng nợ công. Những ưu
tiên cần đặt ra là: các cơ sở hạ tầng công ích, các dịch vụ an sinh xã hội, các doanh nghiệp
nhà nước không vì mục đích thương mại. Các doanh nghiệp nhà nước vì thế cũng cần phải
thu hẹp theo hướng: tiếp tục phát triển các doanh nghiệp nhà nước vì lợi ích công ích và
được Chính phủ bảo lãnh, đồng thời bán các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh thương
mại cho nhà đầu tư nước ngoài và tư nhân trong nước.
- Cần phải đánh giá lại đầu tư công. đầu tư công trình nào cần thiết và phải có nguồn lực
tài chính đảm bảo.
- Không vay nợ nữa (giải pháp này đối với Việt Nam là khó vì hiện nay chúng ta đã đến mức
phải vay để đảo nợ, không vay nữa sẽ không có nguồn trả nợ cũ đến hạn.)
- Tăng GDP nhanh hơn tỉ lệ vay nợ ( khó thực hiện vì đây là giải pháp dài hạn.)
- Cần kiểm soát tốt nợ công, không nên chỉ đặt vấn đề tỉ lệ nợ công trên GDP ở mức bao nhiêu
mà phải xem xét tính bền vững của nợ công, khả năng trả nợ và tốc độ gia tăng.
- Phải nâng cao hiệu quả đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó, quản lý nợ
công phải gắn chặt với quản lý kinh tế vĩ mô, dự đoán được các nhân tố tác động đến quy mô
nợ như lãi suất và tỷ giá, để giảm thiểu rủi ro.
- Cần thay đổi cơ cấu nợ công theo hướng tăng tỷ trọng nợ trong nước nhiều hơn nợ nước
ngoài. Nợ trong nước có thể huy động thông qua các đợt phát hành trái phiếu với lãi
suất phù hợp để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong người dân. Nếu không thay đổi được cơ
cấu nợ công theo hướng tăng cao nợ trong nước, Việt Nam sẽ rất khó khăn trong việc trả
nợ nước ngoài bởi trong thời gian tới những ưu đãi từ nguồn vốn ODA cho Việt Nam sẽ giảm
mạnh, buộc Chính phủ tiếp tục phải đi vay nợ tại các ngân hàng thương mại nước ngoài với lãi
suất cao và thời gian ngắn hạn hơn rất nhiều. Hơn nữa, việc vay nợ các ngân hàng nước ngoài
rất nguy hiểm nếu gặp những biến động bất lợi về tỷ giá.
- Cẩn trọng hơn đối với quản lý rủi ro nợ công của khu vực doanh nghiệp nhà nước.
- Cần xây dựng một cơ chế quản lý nợ công hiệu quả.
KẾT LUẬN:
Vấn đề nợ công giờ không chỉ là vấn đề của thế giới mà ngay tại Việt Nam, nếu cứ theo đà tăng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status