ĐẠI HỌC KINH TẾ - TP.HCM
BỘ BA BẤT KHẢ THI
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI
GVHD: Trương Trung Tài
Họ và tên : Nguyễn Trúc Hải
Lớp Ngân Hàng
Điện thoại :0973654344
Email:
TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG 2012 TP1
Tháng 12 năm 2014
Khi đề cập đến chính sách tiền tệ của một đất nước, Ngân hàng trung ương đóng vai trò rất quan
trọng trong chính sách điều hành tiền tệ của mình. Một trong những lý thuyết quan trọng được quan tâm
nhất và cần được suy xét đó là: “ Bộ ba bất khả thi “. Lý thuyết này đã chỉ ra được sự liên hệ giữa ba mục
tiêu kinh tế đó là tự do dòng vốn, sự độc lập của chính sách tiền tệ và tỷ giá cố định. Có rất nhiều ý kiến
đánh giá khác nhau xung quanh vấn đề này, với mong muốn tìm hiều sâu hơn về lý thuyết bộ ba bất khả
thi và thực tế việc vận dụng vấn đề ở Việt Nam nên tôi đã chọn đề tài này.
HỆ THỐNG TIỂU LUẬN
1.Lý thuyết bộ ba bất khả thi
1.1 Ba nhân tố của lý thuyết và thước đo của lý thuyết bộ ba bất khả thi
1.1.1 Chính sách tiền tề độc lập
1.1.2 Ổn định tỷ giá
1.1.3 Hội nhập tài chính ( tự do hóa dòng vốn )
1.1.4 Sự kết hợp của bộ ba bất khả thi
1.2 Thước đo bộ ba bất khả thi
1.3 Chứng minh bộ ba bất khả thi
•
•
Ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế độ tỷ giá cố
định nhưng phải từ bỏ độc lậo tiền tệ. Điều này đồng thời với ý nghĩa chính phủ đã mất đi
một công cụ điều hành để điều chỉnh lãi suất trong nước độc lậ với lãi suất nước ngoài
Độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế độ tỷ giá thả
nổi nhưng phải từ bỏ mục tiều ổn định tỷ giá.Với lựa chọn này chính phủ được quyền ấn
định lãi suất nhưng đổi lại tỷ giá phải vận hành theo nguyên tắc của thị trường..
Ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ được kết hợp bằng cách lựa chọn thị trường vốn đóng.
Với sự lựa chọn này thì chính phủ phải thiết lập kiểm soát vốn. Khi có kiểm soát vốn,
mối liên hệ giữa lại suất và tỷ giá sẽ bị phá vỡ.
Tại sao lại có “ bộ ba bất khả thi” ?
Nếu nguồn vốn được tự do lưu chuyển thì khi đó có 2 trường hợp xảy ra: vốn đổ vào quá nhiều
hoặc quá ít. Ta xét trường hợp vốn đổ vào trong nước quá nhiều, khi đó đồng nội có sức ép lên giá. Để có
định tỷ giá, Ngân hàng trung ương buộc phải mua ngoại tệ vào , bơm nội tệ ra. Động thái này sẽ làm cho
lạm phát trong nước tăng. Khi đó, nếu chính sách tiền tệ là độc lập, để kìm chế lạm phát, Ngân hàng trung
ương lại phải hút bớt tiền trong lưu thông. Như vậy hành động của Ngân hàng trung ương sẽ mâu thuẫn
lẫn nhau.Do vậy bộ ba bất khả thi xuất hiện
1.1 Ba nhân tố của lý thuyết và thước đo của lý thuyết bộ ba bất khả thi
1.1.1 Chính sách tiền tề độc lập
Giúp cho chính phủ chủ động thực hiện các chính sách và công cụ của mình để thực hiện kinh tế
phát triển ổn định. Chẳng hạn nền kinh tế có dấu hiệu phát triển nóng, chính phủ sẽ tăng lãi suất
hoặc thắt chặt lượng cung tiền ra cho nền kinh tế và ngược lại.
Sự độc lập tiền tệ này mà nhiều nhà kinh tế tin rằng chúng sẽ giúp nền kinh tế tăng trưởng ổn
định hơn. Tuy nhiên vấn đề là trong một thế giới mà giá cả và tiền lương tương đối cứng nhắc
hành nhiều cải cách và quản trị tốt hơn để theo kịp từ những thay đổi của hội nhập.
o
Mặc khác hội nhập có những lợi ích quan trọng như thế, nhưng nó cũng mang lại những rắc rối to
lớn khác cho nền kinh tế như những cuộc khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt
nguồn từ hội nhập và thiếu nguyên tắc kèm theo, tình trạng bong bóng chứng khoán, bất độ ng
sản, những bất ổn định về kinh tế vĩ mô một phần cũng do tự do hóa tài chính nhưng thiếu cơ chế
giám sát tương thích. Dòng vốn chảy vào nền kinh tế đa phần là ngắn hạn và mang tính đầu cơ
1.1.4 Sự kết hợp của bộ ba bất khả thi
Hiện tại ở hầu hết các nền kinh tế phát triển các nền kinh tế phát triển có trình độ cao thì tỷ giá
được thả nổi, tức là tỷ giá biến động theo tỷ lệ cung cầu của thị trường. Thường tại các quốc gia này cũng
đã thực hiện việc tự do hóa dòng vốn. Do vậy chính sách tiền tệ của họ gần như độc lập không phải làm
nhiệm vụ ổn định tỷ giá
Tại Việt Nam và một số quốc gia khác sử dụng chính sách tỷ giá cố định hoặc thả nổi có điều
tiết . Lúc đó, khi có biến động cung cầu ngoại tệ trong nền kinh tế thì Ngân hàng trung ương phải mua
bán ngoài tệ để giữ ổn định tỷ giá trong phạm vi cho phép. Như vậy bộ ba bất khả thi trở thành một vấn
đề đặt biệt quan tâm với những nền kinh tế có tỷ giá cố định.
Trong thời gian quan Việt Nam sử dụng cả hai yếu tố tức là vừa kiểm soát dòng vốn vừa can
thiệp bằng chính sách mua bán ngoại tệ trên thị trường để giữ tỷ giá.
1.2 Thước đo bộ ba bất khả thi
Tỷ giá
Tỷ giá là thứ dễ đo lường nhất trong bộ ba. Độ ổn định của tỷ giá được đo lường dựa vào chế độ tỷ
giá trên thực tế thay vì chế độ tỷ giá như cam kết của một quốc gia
Độ ổn định của tý giá chính là độ lệch chuẩn của tỷ giá được tính theo năm dựa trên dữ liệu tỷ giá
mỗi tháng của một quốc gia sở tại và quốc gia cơ sở. Độ ổn định tỷ giá nằm giữa giá trị 1 và 0 , càng tiến
về tỷ giá 1 tỷ giá càng ổn định
Độc lập tiền tệ
Chẳng hạn:
Mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập và tỷ giá ổn định đạt được bởi thị trường vốn đóng ( kiểm
soát vốn hòan toàn )
Mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập và hội nhập tài chính hoàn toàn đạt được bởi tỷ giá thả nổi
Mục tiêu hội nhập tài chính hoàn toàn và ổn định tỷ giá được bởi tỷ giá ổn định
2.Thực tiễn áp dụng bộ ba bất khả thi
Đối với mỗi quốc gia đang phát triển, hội nhậ tài chính là cần thiết nhưng phải cần có những
chính sách kiểm soát vốn phù hợp. Với tác động của các dòng vốn vào trong nước, chúng ta phải đảm bảo
rằng nó không làm ảnh hưởng xấu đến cán cân vãng lai, đồng thời giảm thiếu tối đa rủi ro cho nền kinh tế
thì tỷ giá phải giữ ở một mức ổn định nhất định.
Tuy nhiên tỷ giá càng ổn định, đòi hỏi phải có một kho dự trữ càng lớn và theo đó là chính sách
can thiệp của nhà nước phải có hiệu lực mạnh- gánh chịu nhiều chi phí phát sinh và đang có xu hướng nới
lỏng khoảng cách so với lợi ích đạt được.
Trong điều kiện dòng vốn quá lớn, với kho dự trữ ngọai hối không đáng kể sẽ dẫn các quốc gia
đang phát triển phải hi sinh đi chính sách độc lập tiền tệ bằng cách giảm lãi suất nhằm hạn chế các dòng
vốn từ bên ngoài ào ạt vào trong nước.
Mặc khác, nếu nền kinh tế đang tăng trưởng nóng và rủi ro lạm phát cao thì đây không phải là
một hành động thông minh khi tiếp tục nhập khẩu lạm phát. Từ đó cho thấy, hành động của các quốc gia
đang phát triển có thể làm nhằm duy trì được chính sách độc lập tiền tệ ở một mức nhất định là tăng kho
dự trữ ngoại hối và các biện pháp can thiệp vô hiệu hóa.
Như vậy trong xu thế hội nhập tài chính có kiểm soát vốn, duy trì tỷ giá ổn định và độc lập chính
sách tiền tệ ở mức cần thiết. Tuy nhiên độ bền của mỗi quốc gia còn tùy thuộc vào chi phí và lợi ích của
các quốc gia đó có được
Xét cho cùng thì các quốc gia thường sử dụng mỗi cái một ít và thường kiểm soát nó, không thể
mất cái nào hết.
2.1 Bộ ba bất khả thi ở các nước
Trung Quốc là quốc gia áp dụng khá thành công bộ ba bất khả thi. Trong những năm gần đây,
Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ rất nhanh, thặng dư thương mại rất lớn làm cho Mỹ rất lo ngại, gây
nước vẫn chưa độc lập trong chính sách tiền tệ đã dẫn đến áp lực phá tỷ giá Mọi ngừơi đều biết nền kinh
tế nước ta có độ mở và tăng trưởng kinh tế là dựa vào xuất khẩu, nên việc phá giá đồng Việt Nam luôn
được quan tâm để có thể xuất khẩu. Bên cạnh đó nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế thâm dụng vốn
và lao động, và các doanh nghiệp FDI đầu tư vào nhiều cũng hướng tới giảm giá thành và xuất khẩu
Dòng vốn tự do luân chuyển
Trên thực tế lãi suất của mỗi nước sẽ không thể bằng nhau do chi phí cơ hội và rủi ro đều khác
nhau với mức độ chấ nhận ở mỗi thị trường nên không thể cho rằng lãi suất của chúng ta phải thấp hơn
các quốc gia khác, mà nên gắn liền với sự so sánh các giai đọan của các quốc gia có tương đồng trong khi
bản thân chúng ta là nền kinh tế thâm dụng vốn đòi hỏi để đổi lấy tăng trưởng để bắt kị với các quốc gia
khác thì lạm phát sẽ đem ra cân nhắc. Thực tế Việt Nam là một trong quốc gia được xem có độ ổng định
về chính trị tuy nhiên do cơ sỏ hạ tầng thấp và rủi ro hệ thống chính sách làm ảnh hưởng đến mức độ thu
hút vốn và bù rủi ro khá cao khi tình hình nợ xấu ở hệ thống ngân hàng đang tác động làm tăng rủi ro đối
với thị trường.
Hiện tại, khi thông tin nới room đối với các doanh nghiệp trong nước là bước thay đổi chính sách
thu hút dòng vốn hổ trợ tăng trưởng trong dài hạn rất tốt, giúp làm giảm rủi ro lạm phát..Việc tái cơ cấu
kinh tế nhà nước cũng được đánh giá khá cao khi giảm sự phụ thuộc trong việc sử dụng ngân sách cho các
khoản đầu tư không hiệu quả và làm hạn chế chính sách tài khóa của chính phủ.
Mặt khác việc sớm đàm phám về hiệp định TTP sẽ thúc đẩy xu hướng xuất khẩu và dòng đầu tư
trực tiếp từ trong và ngòai khôi TPP sẽ tác động đến việc tự do luân chuyển vốn như tăng xuất khẩu, giảm
thâm hụt cán cân vãng lai và thưong mại, giảm bội chi và nợ nước ngoài cũng như gián tiếp cho sự ổn
địnhcủa hệ thống tài chính quốc gia
Độc lập chính sách tiền tệ
Việc Ngân hàng nhà nước là một cơ quan ngang bộ đã ảnh hưởng lớn tới sự độc lập của chính
sách tiền tệ khi tung ra hai gói QE gần tỷ USD vào năm 2008 đã gây lạm phát mạnh tác động tiêu cực về
mặt dài hạn với nền kinh tế và dự trữ ngoại hối thấp.
Hiệu quả của độc lập chính sách tiền tệ dựa vào khả năng kiểm sóat lượng tiền cung ứng và lãi
suất. Bên các chính sách tác động đến bình ổn thị trường ngoại tệ, vàng trong nước khi cấp bách và mang
tính cưỡng chế là một điều cần thiết trong ngắn hạn, tuy nhiên các chính sách hiệu quả về dài hạn Ngân
hàng nhà nước nên có những hành động mang tính định hướng và quy chuẩn cho chính phủ để làm mạnh
ra một cái neo danh nghĩa để củng cố niềm tin của thị trường vào giá trị đồng nội tệ và kiểm soát lạm
phát. Nhất là đối với những quốc gia mà lòng tin của thị trường vào cái neo danh nghĩa khác bị mất tín
nhiệm, như cái neo kỷ luật tài khóa không được chính phủ xem trọng
Ngòai ra nếu nguyên nhân chính yếu dẫn đến lạm phát quán tính ở các nước là do các cú sốc trong
nguồn cung (giá nhiên liệu, lương thực tăng lên), hoặc cung tiền gia tăng quá mức, nhất là tài trợ cho các
chương trình chi tiêu của chính phủ thì các neo danh nghĩa của tỷ giá cũng không mang lại tác dụng để
hấp thụ lạm phát
Trong cơ chế này, chính phủ mất đi tính độc lập trong chính sách tiền tệ và do đó chỉ còn có chính
sách tài khóa là hữu hiệu hơn để thực hiện chính sách phản chu kỳ. Tuy nhiên đối với những quốc gia
thâm hụt ngân sách đã trở nên dai dẳng thì chính sách tài khóa phản chu kỳ cũng bị giới hạn nhiều.Trong
trường hợp này điển hình thì có EU sử dụng chung đồng euro cho toàn bộ khối
Tỷ giá thả nổi và hội nhập tài chính
Những quan điểm không đồng tình với hội nhập tài chính và tỷ giá cố định trong bộ ba bất khả thi có
xu hướng lựa chọn tỷ giá thả nổi và hội nhập tài chính. Trong trường hợp này, tỷ giá thả nổi sẽ giúp cho
chính phủ chủ động sử dụng công cụ chính sách tiền tệ phản chu kỳ kinh tế.
Tất nhiên lựa chọn này làm cho tỷ giá không trở thành cái neo danh nghĩa và làm cho nền kinh tế rơi
vào tình trạng lạm phát nếu như bản thân chính sách tiền tệ không đủ sức mạnh tạo ra cái neo danh nghĩa
Giải pháp cho vấn đề này tùy thuộc vào chính sách lạm phát mục tiêu và tính độc lập tiền tệ của
NHTW đến mức độ nào.
Điển hình trong lựa chọn này là Mỹ. Bất kỳ công dân nào của Mỹ cũng có thể dễ dàng đầu tư ra nước
ngoài, đơn giản nhất là gửi tiền vào một quỹ đầu tư tương hổ quốc tế và người nước ngòai cũng có thêr dễ
dàng mua chứng khoán tại Mỹ
Chế độ trung gian
Trong bộ ba bất khả thi , chế độ trung gian được hiểu hoặc là tỷ giá cố định với kiểm soát vốn, hoặc
là tỷ giá thả nổi với kiểm soát vốn
Loại trừ một số quốc gia đóng cửa với thế giới bên ngoài và do đó lựa chọn cơ chế 1 hoặc cơ chế 2
tức là kiểm sóat vốn cho phép của chính phủ vừa tiến hành triển khai chính sách tỷ giá vừa điều hành
chính sách tiền tệvới tư cách là công cụ riêng biệt với nhau..