KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TÀI CHÍNH QUỐC TẾ NĂM 2017 - Pdf 42

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
KHOA TÀI CHÍNH
------  ------

BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài:

Bộ ba bất khả thi thực trạng và giải
pháp trong thời kì đổi mới

Giảng viên hướng dẫn: Trương Trung Tài
Sinh viên: Nguyễn Viết Quang Lâm
Lớp: Ngân Hàng 2012 TP1
Số đt: 01227904567
Email: [email protected]


Bộ ba bất khả thi thực trạng và giải pháp trong thời kì đổi mới

Mở Đầu
Như chúng ta đã biết, bộ ba bất khả thi là một lý thuyết rất quan trọng của lý thuyết
tài chính quốc tế. Vào thập niên 1960, Robert Mundell và Marcus Fleming đã cho ra
đời lý thuyết mang tính kinh điển này. Song, trải qua quá trình phát triển của nền kinh
tế cũng như các cuộc khủng hoảng kinh tế đã tạo ra nhiều phiên bản mới của lý thuyết
này. Nhận thức được tầm quan trọng của bộ ba bất khả thi và qua những hiểu biết về
sách vở, tài liệu thu thập được, em xin đưa ra đề tài nghiên cứu “Bộ ba bất khả thi,
thực trạng và giải pháp trong thời kì đổi mới ở Việt Nam”
Bài nghiên cứu này đánh giá mức độ mở cửa thị trường vốn của Việt Nam trong thực
tế, sau đó nói lên thực trạng Việt Nam vào thời điểm hiện tại,và nêu ra giải pháp cho
Việt Nam trong thời kì đổi mới. Đồng thời cũng thu thập số liệu để đánh giá ba khía
cạnh của bộ ba bất khả thi:

1960 trong thời gian làm việc tại quỹ tiền tệ quốc tế IMF . Sau đó, vào năm 1980, khi
vấn đề kiểm soát vốn bị thất bại ở nhiều quốc gia cùng với mâu thuẫn giữa việc cố
định tỷ giá và độc lập trong chính sách tiền tệ ngày càng rõ nết thì lý thuyết Bộ ba bất
khả thi đã trở thành nền tảng cho kinh tế học vĩ mô cả nền kinh tế hiện đại.
Lý thuyết Bộ ba kinh tế được phát biểu như sau: Một quốc gia không thể đòng thời đạt
được cả ba mục tiêu tỷ giá hối đoái cố định, hội nhập tài chính, và độc lập tiền tệ. Tức
là, 1 quốc gia chỉ có thể lựa chọn cùng 1 lúc đồng thời hai trong ba mục tiêu kể trên:
“Độc lập tiền tệ + Tỷ giá hối đoái cố định + hội nhập tài chính = 2”. Đó chính là lý
thuyết cổ điển của Bộ ba bất khả thi.
*Độc lập tiền tệ: chính là sự tự chủ về chính sách tiền tệ của chính phủ, giúp cho
chính phủ chủ động sử dụng các công cụ về chính sách tiền tệ, để thực hiên các chính
sách kinh tế.
*Ổn định tỉ giá: là tạo ra cái neo danh nghĩa để chính phủ tiến hành các biện pháp ổn
định giá cả. Cái neo này giúp nhà đầu tư nhận thức về rủi ro của nền kinh tế, làm tăng
thêm niềm tin của công chúng vào đồng nội tệ, tạo ra mục tiêu làm cho môi trường đầu
tư tốt lên.
*Hội nhập tài chính: là xu thế khó có thể cưỡng lại được trong bối cảnh toàn cầu hóa,
lợi ích của hội nhập tài chính là giúp quốc gia tăng trưởng nhanh hơn và phân bổ
nguồn lực tốt hơn. Đồng thời giúp cho nhà đầu tư đa dạng hóa đầu tư, kéo theo nền
kinh tế phát triển. Hơn nữa, cũng tạo ra động lực giúp cho chính phủ tiến hành nhiều
cải cách và đưa ra những chính sách tốt hơn để theo kịp hội nhập.

4


Bộ ba bất khả thi thực trạng và giải pháp trong thời kì đổi mới

Hình 1.1 Lý thuyết Bộ ba bất khả thi

+ Ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế độ tỷ giá

1.2, khoảng cách từ điểm O đến các cạnh càng ngắn thì ưu tiên cho mục tiêu đại diện
đó càng cao và ngược lại. Tại điểm O, có vẻ như nền kinh tế đang dàn trải thực hiên cả
ba mục tiêu, nhưng mỗi mục tiêu không được thực hiện hoàn toàn. Đó chính là ưu
điểm về sự thay đổi linh hoạt của Bộ ba bất khả thi hiện đại.
*** Lưu ý: nếu cố gắng thực hiện 3 mục tiêu trong Bộ ba bất khả thi cùng nhau thì sẽ
dẫn đến khủng hoảng kinh tế trầm trọng, và Thái Lan năm 1997 là 1 ví dụ điển hình
( link tham khảo http://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%A7ng_ho%E1%BA
%A3ng_t%C3%A0i_ch%C3%ADnh_ch%C3%A2u_%C3%81_1997 )

6


Bộ ba bất khả thi thực trạng và giải pháp trong thời kì đổi mới

PHẦN II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
1. Sơ lược:
Tiền tệ, tỷ giá và hội nhập tài chính là bộ ba vấn đề kinh tế luôn xuất hiện trong
bất kỳ nền kinh tế nào. Trong bối cảnh hội nhập, mở cửa như hiện nay thì việc chu
chuyển dòng vốn từ bên ngoài vào và từ trong ra là vấn đề hiển nhiên không tránh
khỏi. Bên cạnh đó, nhiều quốc gia tham gia vào nền kinh tế, mà mỗi quốc gia lại có
một đồng tiền riêng, để việc trao đổi trở nên thuận tiện và có sự ngang giá hàng hóa
giữa các nước thì tỷ giá hối đoái ra đời để thực hiện chức năng đó. Ngoài ra, một quốc
gia luôn muốn chủ động về vấn đề tiền tệ của mình mà không phụ thuộc vào bất kỳ tác
động nào của nền kinh tế bên ngoài, ngân hàng trung ương có thể tăng cung tiền và
giảm lãi suất khi nền kinh tế suy thoái hoặc thắt chặt tiền tệ và giảm lãi suất khi nền
kinh tế quá nóng. Chúng có quan hệ mật thiết và tác động lẫn nhau. Làm thế nào để
đạt được ba mục tiêu: độc lập tiền tệ, tỷ gía ổn định và hội nhập tài chính cùng một
lúc? Vận dụng bộ ba bất khả thi trong nền kinh tế của nước mình như thế nào? Và làm
thế nào để tối ưu hóa sự phát triển và tăng trưởng bền vững về kinh tế chính trị của
một đất nước? Đây là vấn đề nan giải đối với các nhà hoạch định chính sách tài

Total

Total registered
capital (Mill.
USD)(*)

Implementatio
n capital
(Mill. USD)

17434

268691.6

111692.9

1988-1990

211

1603.5

1991

152

1284.4

428.5


2792.0

1996

372

9635.3

2938.2

1997

349

5955.6

3277.1

1998

285

4873.4

2372.4

1999

327


791

3172.7

2723.3

2004

811

4534.3

2708.4

2005

970

6840.0

3300.5

2006

987

12004.5

4100.4



1237

19886.8

11000.3

2011

1191

15618.7

11000.1

2012

1287

16348.0

10046.6

Prel. 2013

1530

22352.2

11500.0

trên thị trường tự do. Giai đoạn năm 2005-2007, NHNN vẫn duy trì chính sách ổn định

9


Bộ ba bất khả thi thực trạng và giải pháp trong thời kì đổi mới

tỷ giá vì thế trong 3 năm thì tỷ gía chỉ tăng chưa tới 3% (từ 15.750 đồng vào ngày
6/1/2005 lên 16.113 vào 15/12/2008)
Độc lập tiền tệ:
Theo công thức ta có được:

��=�− {����(�,�∗)−(−�)/[�−(−�)]}

Giả sử chọn Mỹ là nước cơ sở đối với Việt Nam. Ta biết rằng chỉ số MI sẽ cao
nếu lãi suất của Việt Nam và Mỹ biến động ngược chiều nhau (có tương quan âm với
nhau) và ngược lại. Dựa vào bảng lãi suất tỷ lệ ta có:

Lãi suất của Mỹ và Việt Nam giai đoạn 1996-2008
(http://luanvan.net.vn/luan-van/bo-ba-bat-kha-thi-o-cac-thi-truong-moi-noi-vathuc-trang-tai-viet-nam-6168/ hình 26)

Vào thời điểm năm 2000-2001 thì lãi suất giữa Mỹ và Việt Nam biến động
ngược chiều nhau dẫn đến MI trong giai đoạn này cao. Năm 2002-2004, hai lãi suất
biến động cùng chiều dẫn đến MI trong giai đoạn này giảm mạnh. Năm 2005-2007,
chỉ số MI có dấu hiệu phục hồi. Tuy nhiên xét cho cả giai đoạn từ năm 2000-2007, chỉ
số MI giảm từ 0.83 xuống 0.77.
Từ những nhận xét trên ta có thể thấy được, thực tiễn Việt Nam cũng chứng
minh được có sự đánh đổi hai trong ba vấn đề “bộ ba”. Việt Nam ngày càng mở cửa
hội nhập (chỉ số KAOPEN) và chính sách tỷ giá càng ổn định (ERP càng tiến đến 1)
thì càng mất sự độc lập về tiền tệ (MI giảm).

Cụ thể là chấp nhận nới lỏng các quy định kiểm soát tỷ giá và lựa chọn cách
thức kiểm soát vốn hiệu quả, liên quan đến mở cửa khu vực nào và mở đến đâu. Trong
bối cảnh các giao dịch về vốn cần được tự do hóa theo thông lệ và cam kết hội nhập,
có những khu vực có thể kiểm soát chặt chẽ hơn, ví dụ như kiểm soát nợ nước ngoài.
Ước tính, hết năm 2011, tổng nợ công của Việt Nam đã tăng lên khoảng 58,7%
GDP, trong đó nợ công nước ngoài là 31,1% và nợ công trong nước là 17,6% GDP.
Tuy nhiên, những khoản nợ được sổ sách ghi nhận có lẽ không phải là rủi ro
tiềm tàng lớn nhất, mà những khoản nợ xấu của khu vực doanh nghiệp nhà nước
(DNNN) (rất có thể phải dùng ngân sách nhà nước để trả) mới là mầm mống đe dọa
tính bền vững của nợ công, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kiểm soát nợ nước ngoài của
Việt Nam.
Khoản nợ nước ngoài của khu vực tư nhân và DNNN không được Chính phủ
bảo lãnh đã chiếm tới 11,1% GDP. Do đó, thời gian tới, cần kiểm soát nợ nước ngoài
chặt chẽ song song với quyết tâm đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, tái cơ cấu đầu
tư công, DNNN và hình thành cơ chế giám sát hữu hiệu đối với các tổ chức tài chính ngân hàng, các tập đoàn, tổng công ty trong việc vay nợ nước ngoài.
Trong dài hạn, cần lựa chọn một mô hình chính sách hợp lý hơn để tránh những
hạn chế của các biện pháp vô hiệu hóa. Với định hướng chính sách lạm phát mục tiêu
đã được Nhà nước công bố, việc duy trì ổn định tỷ giá thường xung đột với nguyên tắc
lạm phát mục tiêu, đặc biệt là trong bối cảnh các luồng vốn nước ngoài luân chuyển
liên tục, phức tạp và khó tiên định.
Do đó, năng lực điều hành cơ chế tỷ giá linh hoạt cần được tăng cường, những
can thiệp hành chính của NHNN cần được gỡ bỏ, biên độ tỷ giá cần được nới lỏng,
tiến tới thả nổi tỷ giá có quản lý khi các điều kiện đã chín muồi.

12


Bộ ba bất khả thi thực trạng và giải pháp trong thời kì đổi mới

KẾT LUẬN

http://luanvan.net.vn/luan-van/tieu-luan-chinh-sach-ty-gia-hoi-doai-nham-cai-thien-can-canthuong-mai-cua-viet-nam-thoi-ky-hau-wto-giai-doan-2007-2010-10225/
http://tailieu.vn/doc/thuyet-trinh-chinh-sach-tai-khoa-1686542.html
http://www.dlf.vn/tintuc.aspx?lang=vi&<id=2&&Tid=998
http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=109&News=5449&CategoryID=7
Tư liệu lấy bảng FDI:
http://www.vietnam-report.com/vietnam-fdi/

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status