TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA NGÂN HÀNG
Bài tiểu luận: Môn TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO
VẤN ĐỀ NỢ CÔNG
Giảng viên hướng dẫn: TRƯƠNG TRUNG TÀI
Sinh viên thực hiện: LÂM NGỌC LAN
Lớp: Ngân Hàng – Khóa K2012TP1
SĐT: 0908.415.101
Email:
NIÊN KHÓA 2012 - 2016
MỤC LỤC
GIỚI THIỆU
CHƯƠNG I : NỢ CÔNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
1.1 Tổng quan chung
1.1.1 Khái niệm
1.1.2 Đặc điểm của nợ công
1.1.3 Phân loại nợ công
1.1.4 Các hình thức vay nợ của chính phủ
1.1.5 Các vấn đề gặp phải khi tính toán nợ công
1.1.6 Tác động của nợ công
1.2. Tình hình nợ công trên thế giới
- Chương I: Nợ công và những vấn đề liên quan
- Chương II: Tình hình quản lý nợ công ở Việt Nam
- Chương III: Các giải pháp ứng phó nợ công
Trong phạm vi hẹp của một đề tài tiểu luận không tránh khỏi những thiếu sót về nội dung, rất
mong nhận được sự quan tâm góp ý của Thầy.
Xin trân trọng cảm ơn!
CHƯƠNG I : NỢ CÔNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
1.1 Tổng quan chung
1.1.1 Khái niệm
Khái niệm nợ công là một khái niệm tương đối phức tạp. Tuy nhiên, hầu hết những cách tiếp
cận hiện nay đều cho rằng, nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịu
trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó. Tuy nhiên, nợ công hoàn toàn khác với nợ quốc
gia. Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ phải trả của một quốc gia, bao gồm hai bộ phận là nợ
của Nhà nước và nợ của tư nhân (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân). Như vậy, nợ công chỉ là
một bộ phận của nợ quốc gia. Một cách khái quát nhất, có thể hiểu nợ chính phủ, nợ công
hoặc nợ quốc gia là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến
địa phương đi vay nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách. Việc đi vay này là nhằm
tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách nên nói cách khác, nợ chính phủ là thâm hụt
ngân sách luỹ kế đến một thời điểm nào đó. Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ,
người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với Tổng sản phẩm quốc
nội (GDP).
1.1.2 Đặc điểm của nợ công
a) Đặc trưng của nợ công
Tuy có nhiều cách tiếp cận rộng hẹp khác nhau về nợ công, nhưng về cơ bản, nợ công có
những đặc trưng sau đây:
- Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước khác với các khoản nợ
thông thường, nợ công được xác định là một khoản nợ mà Nhà nước (bao gồm các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệm trả khoản nợ ấy. Trách nhiệm trả nợ của Nhà nước
1.1.3 Phân loại nợ công:
Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhau trong việc
quản lý và sử dụng nợ công.
- Theo tính chất nợ, Luật Quản lý Nợ công số 29/2009/QH12, Nợ công được quy định trong
Luật này bao gồm N ợ chính phủ, Nợ được Chính phủ bảo lãnh và Nợ chính quyền địa
phương. Trong đó:
+ Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết,
phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài
chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của pháp luật.
+ Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay
trong nước,nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.
+ Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền
phát hành.
- Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay, nợ công gồm có hai loại: nợ trong nước và nợ
nước ngoài. Nợ trong nước là nợ công mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức Việt Nam. Nợ
nước ngoài là nợ công mà bên cho vay là Chính phủ nước ngoài, vùng lãnh thổ, tổ chức tài
chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài.
Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong quản lý nợ. Việc
phân loại này về mặt thông tin sẽ giúp xác định chính xác hơn tình hình cán cân thanh toán
quốc tế. Và ở một số khía cạnh, việc quản lý nợ nước ngoài còn nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ
của Nhà nước Việt Nam, vì các khoản vay nước ngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển
đổi hoặc các phương tiện thanh toán quốc tế khác.
- Theo thời hạn nợ: Nợ ngắn hạn (từ 1 năm trở xuống), nợ trung hạn (từ trên 1 năm đến 10
năm) và nợ dài hạn (trên 10 năm).
- Theo phương thức huy động vốn, thì nợ công có hai loại là nợ công từ thỏa thuận trực tiếp
và nợ công từ công cụ nợ.
+ Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từ những thỏa thuận vay trực
tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức cho vay
+ Nợ công từ công cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền
các khoản nợ tiềm tàng như tiền trợ cấp hưu trí, các khoản bảo hiểm xã hội mà chính phủ sẽ
phải chi trả cho người lao động hay các khoản mà chính phủ sẽ phải chi trả khi đứng ra bảo
đảm cho các khoản vay của người có thu nhập thấp mà trong tương lai họ không có khả năng
thanh toán…
1.1.6 Tác động của nợ công
Những tác động tích cực chủ yếu của nợ công bao gồm:
- Nợ công làm gia tăng nguồn lực cho Nhà nước, từ đó tăng cường nguồn vốn để phát triển
cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước. Việt Nam đang trong giai đoạn
tăng tốc phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó cơ sở hạ
tầng là yếu tố có tính chất quyết định.
- Huy động nợ công góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân cư.
- Nợ công sẽ tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế. Tài trợ
quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế - ngoại giao quan trọng của các nước phát triển
muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo, cũng như muốn hợp tác kinh tế song phương.
1.2. Tình hình nợ công trên thế giới
1.2.1 Toàn cảnh nợ công thế giới
Theo số liệu do “The Economist” cập nhật tính đến đầu tháng 3/2013, tổng nợ công toàn cầu
hiện đã lên tới hơn 50.731 tỷ USD, tăng khoảng 5,6% so với năm 2012. Nợ công tập trung
chủ yếu ở Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Bắc M ỹ, Brazil, Australia và khu vực đồng euro.
Trong đó, Nhật Bản là nước có số nợ công khổng lồ nhất, lên tới hơn 12,5 nghìn tỷ USD
(tương đương 226,1% GDP), tiếp theo là Mỹ nợ hơn 11,8 nghìn tỷ USD (tương đương 75,2%
GDP). Trung Quốc cũng đang là nước có mức nợ công cao trên thế giới. Tổng mức nợ công
của Trung Quốc tính tới cuối năm 2010 là gần 1,03 tỷ nghìn tỷ USD, nhưng nợ công cũng chỉ
chiếm có 17% GDP của Trung Quốc.
Châu Phi có số quốc gia mắc nợ ít nhất thế giới. Nước nợ nhiều nhất ở đây là Ai Cập với 224
tỷ USD. Việt Nam hiện nằm trong nhóm nước có mức nợ công trung bình của thế giới. Tổng
mức nợ công của Việt Nam hiện vào khoảng 71,6 tỷ USD, tương đương 49,4% GDP, tăng
12,7% so với năm trước. Mức nợ công bình quân đầu người của Việt Nam đang là 798,92
động vốn; trong đó nguồn vay này chủ yếu từ nguồn vốn ODA. Về thực hiện nghĩa vụ trả nợ
công giai đoạn 2006 - 2012: Con số trả nợ cho Chính phủ là rất cao (từ 42.440 tỷ đồng/2006 108.186 tỷ đồng/2012). Tỷ lệ bình quân trả nợ Chính phủ, thu NSNN chiếm khoảng 15%.
Về thực trạng nợ công giai đoạn 2006 - 2012: nếu tính chỉ số nợ công/ GDP thì giai đoạn
2006 — 2012 nợ công đã tăng đáng kề, từ 41,5% (404.556 tỷ đồng) năm 2006 lên 55,6%
(1.641.296 tỷ đồng) năm 2012. Cơ cấu dư nợ công tính đến 31/12/2012 thì nợ Chính phủ
chiếm 77,6%, nợ Chính phủ bảo lãnh chiếm 20,9% và nợ chính quyền địa phương chiếm
1,5%.
Nợ chính phủ 77.60%Nợ Chính phủ bảo lãnh 20.90%
Vay Nhật Bản 17%
Vay World Bank 13%
Vay NH phát triển Châu Á 8%
Đầu tư trái phiếu 28%
Bảo hiểm xã hội 5%
Vay tạm ứng tồn ngân kho bạc 9%
Vay khác 20% (Nguồn: Cục quản lý nợ công & tài chính – Bộ tài chính )
2.1.2 Thực trạng về quản lý nợ công giai đoạn 2006-2012
a. Thực trạng về hệ thống các văn bản quản lý nợ công ở Việt Nam
Đối với vay nợ nước ngoài, văn bản pháp lý cao nhất hiện nay là Nghị định134/2005/NĐ-CP
của Chính phủ ngày 1/11/2005 ban hành về quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài, và
nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 9/11/2006 của Chính phủ ban hành quy chế quản lý và sử
dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, căn cứ vào các nghị định này, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành các quy chế hướng dẫn cụ thể về quy trình, thủ tục đối với từng nghiệp vụ quản
lý nợ nước ngoài như cấp và quản lý bảo lãnh chính phủ, cho vay lại từ nguồn vay, viện trợ
nước ngoài của Chính phủ, xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá, giám sát tình trạng và báo
cáo thông tin nợ. Nhìn chung, các văn bản quy phạm pháp luật điểu chỉnh hoạt động vay nợ
nước ngoài là tương đối đầy đủ và đồng bộ, đã thể hiện những quan điểm đổi mới trong quản
lý nợ của Chính phủ, phù hợp luật Ngân sách nhà nước năm 2002, đồng thời cập nhật những
khái niệm, phương pháp luận quản lý nợ hiện đại. Khuôn khổ pháp luật và thể chế cho quản
lý nợ công ở nước ta đã có bước cải thiện đáng kể từ khi Luật Quản lý nợ công và Nghị định
79/2012/NĐ-CP hướng dẫn nghiệp vụ quản lý nợ công ban hành và có hiệu lực vào 1/1/2010.
2.2.2 Một số vấn đề tồn tại trong công tác quản lý nợ công ở Việt Nam
- Thứ nhất, nhu cầu vốn của Việt Nam rất lớn nhưng khả năng ngân sách không đủ do đoa bắt
buộc chúng ta phải đi vay nên đã tạo sức ép rất lớn, thúc đẩy tăng nợ công.
- Thứ hai, thị trường trái phiếu trong nước cũng chưa phát triển, huy động vốn trong nước
còn hạn chế, tính thanh khoản thấp.
- Thứ ba, hiệu quả sử dụng vốn ODA và các chính sách sử dụng vốn ODA chưa được cao và
chưa gắn với chính sách huy động vốn đối ứng.
- Thứ tư, các chỉ tiêu nợ trong tầm kiểm soát nhưng một số rủi ro thị trường chưa được tính
toán kỹ càng; rủi ro tín dụng chưa được phản ánh trong phí cho vay lại và phí bảo lãnh của
Chính phủ.
- Thứ năm, cơ chế cảnh báo sớm còn hạn chế, chẳng hạn như trường hợp của Vinashin,
Vinaline là một bài học lớn cho chúng ta.
- Thứ sáu, quyền hạn của các cơ quan còn chồng chéo, phân tán.
2.3 Kiến nghị về quản lý nợ công của tổ chức IMF
- Thứ nhất, tỷ lệ đầu tư công và nợ có bảo lãnh chính phủ/GDP đã giảm từ năm 2011 nhưng
vẫn còn những nguy cơ đối với triển vọng nợ.
- Thứ hai, tiến độ thực hiện giải pháp đối với khu vực tài chính bởi NHNN còn chậm, khu
vực tài chính vẫn còn dễ đổ vỡ và còn nhiều rủi ro xuất phát từ các khoản cho vay DNNN. Có
thể nói, Đoàn đánh giá rất e ngại về nợ xấu trong NHNN.Những biện pháp của NHNN hiện
nay chưa đủ mạnh, những rủi ro, phát sinh từ nợ xấu của NHNN còn tiềm ẩn.
CHƯƠNG III : CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ NỢ CÔNG
3.1 Giải pháp ứng phó của các nước phát triển và bài học cho Việt Nam
- Thứ nhất, xây dựng chiến lược quản lý nợ công. Tại Hội nghị Thượng đỉnh châu Âu
(26/10/2011), các nước thành viên khu vực đồng euro đã đạt được đồng thuận về kế hoạch
chống khủng hoảng để đảm bảo cho sự tồn tại của khu vực. Kế hoạch bao gồm 4 điểm chính:
1) xóa 50% nợ công của Hy Lạp; 2) tăng vốn cho các ngân hàng châu Âu; 3) nâng khả năng
can thiệp của Quỹ bình ổn tài chính châu Âu (EFSF) lên thành 1000 tỷ euro thay vì 440 tỷ
như hiện nay; 4) gia tăng các biện pháp giới hạn bội chi ngân sách của các thành viên trong
khủng hoảng nợ công, tạo việc làm và duy trì đà tăng trưởng kinh tế. Việc tái cơ cấu lại các
khoản tín dụng là cần thiết bởi vì bất kỳ tiền lệ không trả được khoản nợ công ở khu vực
đồng euro đều sẽ kéo theo những hậu quả nặng nề. Việc thành lập Quỹ tiền tệ của riêng EU
(với số vốn ban đầu là 750 triệu euro) được coi là bước đầu tiên của tiến trình cải cách. Quỹ
tiền tệ EU sẽ là một t ổ chức đủ mạnh với nguồn lực có thể can thiệp nhanh vào những thành
viên gặp khó khăn. Bên cạnh đó, cơ chế “học kỳ châu Âu” (European Semester) được thiết
lập nhằm phối hợp liên kết chặt chẽ giữa các thành viên châu Âu về kinh tế để tránh tái diễn
khủng hoảng nợ tương tự. Mục tiêu của cơ chế này là giám sát mạnh mẽ để kiểm soát kinh tế
vĩ mô, kiểm soát chi tiêu ngân sách, thâm hụt tài chính Tiếp theo đưa Quỹ khủng hoảng
tạm thời của châu Âu trở thành Quỹ thường xuyên (do các thành viên EU và IMF góp vốn).
3.2 Giải pháp cho nợ công của Việt Nam
Chính phủ cần kiểm soát chặt chẽ hơn tốc độ tăng và hiệu quả sử dụng nợ công, trên cơ sở
kiểm soát thâm hụt ngân sách hợp lý và có chiến lược cụ thể về huy động và sử dụng hiệu
quả nợ công trong trung hạn vì mặc dù tỷ lệ nợ công và nợ nước ngoài trên GDP của VN
chưa quá cao (thấp hơn 50%) nhưng trong điều kiện mức tín nhiệm tín dụng quốc tế thấp, chỉ
cần một cú sốc tài chính nhỏ, các nhà đầu tư rút vốn, có thể biến các khoản nợ dài hạn ngay
lập tức thành nợ ngắn hạn như khuyến cáo trước đó.
- Một là, hoàn thiện thể chế chính sách và các công cụ quản lý nợ công.
- Hai là, nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn vay: đặc biệt trong sử dụng vốn ODA,
chúng ta phải khắc phục bất hợp lý và phải gắn kết từ khâu huy động đến khâu trả nợ.
- Ba là, tăng cường công tác giám sát và quản lý rủi ro về nợ công: trước hết là nghiên cứu,
xây dựng và triển khai phương án xử lý rủi ro.
- Bốn là, kiểm soát chặt chẽ việc cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ. Có nhiều dự án, chẳng
hạn trước đây như Vinashin do Chính phủ bảo lãnh, hiện nay một số dự án về điện, xi măng,
cơ sở hạ tầng, giao thông, giấy còn khó khăn trong lĩnh vực trả nợ.
- Năm là, tăng cường phát triển thị trường trái phiếu trong nước: Phát triển thị trường trái
phiếu sơ cấp là ưu tiên hàng đầu; Phát triển thị trường thứ cấp nhằm tăng cường tính thanh
khoản và minh bạch của thị trường trái phiếu; Xây dựng đường cong lãi suất trái phiếu Chính
- Nâng cao khả năng kiểm soát và đánh giá việc sử dụng các khoản nợ nhằm đảm bảo một
chính sách công nợ có hiệu quả cao nhất.
- Tăng cường tuyên truyền và phổ biến pháp luật về quản lý nợ công: công khai minh bạch
tài chính, cải cách hành chính, nâng cao hoạt động kiểm soát, tăng cường thanh tra, kiểm
tra, xử lý việc thực hiện quản lý nợ công.
- Gia tăng dự trữ ngoại hối.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
-
Luận bàn về vấn đề nợ công ở Việt Nam, 2011.
Website :
www.vov.vn
www.mof.gov.vn
www.tapchitaichinh.vn
www.ecna.gov.vn