TÀI LIỆU THAM KHẢO đề CƯƠNG CHI TIẾT ôn THI môn CHÍNH TRỊ học - Pdf 42

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN CHÍNH TRỊ HỌC CHI TIẾT
Câu 1: Những đặc trưng cơ bản của quyền lực chính trị. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi
quyền lực chính trị Nhà nước ta hiện nay – Những vấn đề đặt ra và giải pháp.
Quyền lực chính trị là một phạm trù trung tâm của khoa học chính trị. Khi nói đến quyền lực
và quyền lực chính trị, có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau, nhưng tựu chung lại đều
cho rằng quyền lực chính là năng lực của một chủ thể buộc chủ thể khác phải phục tùng ý chí
của mình, bất kể sự kháng cự và quyền lực chính trị là quyền lực của một giai cấp (hay liên
minh giai cấp) nhằm thực hiện mục tiêu chính trị của mình.
a) Khái niệm Quyền lực chính trị: Quyền lực công: quyền lực chung của cộng đồng, xã hội
Quyền lực chính trị: là quyền lực của một giai cấp (hay liên minh giai cấp) nhằm thực hiện mục
tiêu chính trị của mình. Quyền lực nhà nước: là quyền lực chính trị của một giai cấp được tổ chức
thành nhà nước. QLNN có tính độc quyền cưỡng chế hợp pháp, được xã hội thừa nhận (bộ máy quân
đội và an ninh). Quyền lực chính trị là quyền lực tiềm năng, trong khi quyền lực nhà nước là quyền lực
thực tế
b) Đặc trưng cơ bản của QLCT :QLCT là một tất yếu khách quan trong một giai đoạn phát triển
nhất định của lịch sử
Về xã hội: Con người - phải sống thành cộng đồng, xã hội => mâu thuẫn của việc sống chung
=> Hình thành quyền lực công để giải quyết mâu thuẫn => Tổ chức thành nhà nước
Về kinh tế: Nhu cầu phát triển sản xuất cần phải có sự phân công, phối hợp => Quyền lực. “Từ
nhu cầu tự nhiên phải phối hợp sản xuất, xuất hiện sự cần thiết phải phục tùng một sự chuyên
chế thực sự, bất chấp tổ chức, xã hội là như thế nào” (Ăngghen)
* Quyền lực chính trị mang tính giai cấp: QLCT của giai cấp cầm quyền được tổ chức thành
nhà nước. Ăngghen: QLCT là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để đàn áp một giai cấp khác.
Giai cấp nào giữ địa vị thống trị về kinh tế sẽ giữ địa vị thống trị về mặt chính trị
* Quyền lực chính trị mang tính xã hội: Thực thi QLCT của giai cấp thống trị trong XH bao
giờ cũng phải giải quyết được sự tương quan, công bằng nhất định giữa lợi ích của các giai cấp
=> Tránh tạo ra xung đột lợi ích nghiêm trọng giữa các nhóm, giai cấp trong xã hội => tạo sự
bất ổn, khủng hoảng. QLNN là quyền lực công, phục vụ mọi công dân sống trên lãnh thổ quốc
gia (Khế ước xã hội – Nhà nước “của dân, do dân, vì dân”)
* Quyền lực chính trị cần được tập trung đủ mức. Về nguyên tắc, quyền lực cần được tập
trung đủ mức; nếu không, quyết định, mệnh lệnh của người cầm quyền đưa ra khó có thể được

tham nhũng, lãng phí chưa đạt được yêu cầu đề ra. Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn
nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc
xã hội.
Công tác xây dựng Đảng còn nhiều hạn chế, yếu kém, chậm được khắc phục: Công tác nghiên
cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu
quả của công tác tư tưởng còn hạn chế; thiếu sắc bén trong đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn
“diễn biến hòa bình”. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ
phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và
tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với sự phân
hóa giàu nghèo và sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, nhiều ngành làm giảm lòng
tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước. Cuộc vận
động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chưa thực sự đi vào chiều sâu, ở một
số nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, làm theo chưa đạt yêu cầu.
Tổ chức của một số cơ quan đảng, nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội chưa thực sự tinh
gọn, hiệu quả; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ chưa rõ ràng. Việc đổi mới công tác cán bộ
còn chậm; thiếu cơ chế, chính sách cụ thể để thực sự phát huy dân chủ trong công tác cán bộ,
phát hiện và sử dụng người tài; chậm đổi mới cơ chế, phương pháp và quy trình đánh giá, bổ
nhiệm, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ; đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu. Tình trạng chạy
chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, huân chương chưa được khắc phục. Công tác cán bộ
thiếu tầm nhìn xa. Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thấp. Môi trường làm việc, chính sách
cán bộ chưa tạo được động lực để khuyến khích, thu hút, phát huy năng lực, sự cống hiến của
cán bộ; chưa cổ vũ ý chí phấn đấu vươn lên, sự gắn bó, tận tụy của cán bộ đối với công việc.
Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp; công tác quản lý
đảng viên chưa chặt chẽ, sinh hoạt đảng chưa nền nếp, nội dung sinh hoạt nghèo nàn, tự phê
bình và phê bình yếu. Việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp tư nhân, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn chậm, vai trò của tổ chức đảng ở đây mờ nhạt. Động cơ
phấn đấu vào Đảng của một số người có biểu hiện lệch lạc, cơ hội. Việc xử lý, sử dụng và quản
lý cán bộ, đảng viên có vấn đề lịch sử chính trị còn phiến diện, thiếu chặt chẽ. Việc xem xét,
giải quyết những vấn đề chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên còn lúng túng. Nhiều cấp uỷ,

* Vận dụng: Đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam - Nâng cao
nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Tiếp tục đẩy mạnh việc xây
dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là
của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo; thực hiện tốt chức năng quản lý
kinh tế, quản lý xã hội; giải quyết đúng mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức khác trong
hệ thống chính trị, với nhân dân, với thị trường. Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của
Nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương. Nhà nước
chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của mọi người dân. Nghiên cứu
xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân
công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp
và tư pháp. Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước phù hợp với yêu cầu phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ
chế, chính sách để vận hành có hiệu quả nền kinh tế và thực hiện tốt các cam kết quốc tế, bảo
vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.
Khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung
năm 2001) phù hợp với tình hình mới. Tiếp tục xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm
tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công
quyền.
- Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước
Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao
nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Hoàn thiện cơ chế bầu cử đại biểu
Quốc hội để cử tri lựa chọn và bầu những người thực sự tiêu biểu vào Quốc hội. Nâng cao chất
lượng đại biểu Quốc hội, tăng hợp lý số lượng đại biểu chuyên trách; có cơ chế để đại biểu
Quốc hội gắn bó chặt chẽ và có trách nhiệm với cử tri. Cải tiến, nâng cao chất lượng hoạt động
của Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội, chất lượng hoạt động của đại biểu Quốc hội


và đoàn đại biểu Quốc hội. Nghiên cứu, giao quyền chất vấn cho Hội đồng Dân tộc và các uỷ
ban của Quốc hội. Tiếp tục phát huy dân chủ, tính công khai, đối thoại trong thảo luận, hoạt

bảo đảm tốt hơn các điều kiện để viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong
hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra. Sắp xếp, kiện toàn tổ chức và hoạt động
của cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối; xác định rõ hoạt động điều tra theo tố tụng và
hoạt động trinh sát trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tiếp tục đổi mới và kiện toàn các tổ
chức bổ trợ tư pháp. Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của đội
ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp. Tăng cường các cơ chế giám sát, bảo đảm sự tham gia
giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp. Tiếp tục đổi mới tổ chức hoạt động của chính
quyền địa phương. Nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân
các cấp, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định và tổ chức thực
hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp. Nghiên cứu tổ chức, thẩm quyền của
chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo. Tiếp tục thực hiện thí điểm chủ trương không tổ chức
hội đồng nhân dân huyện, quận, phường.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình
mới. Rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy chế quản lý cán bộ, công chức; phân định rõ chức năng,
nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền của mỗi cán bộ, công chức; tăng cường tính công khai,


minh bạch, trách nhiệm của hoạt động công vụ. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà
nước. Có chính sách đãi ngộ, động viên, khuyến khích cán bộ, công chức hoàn thành nhiệm vụ
và có cơ chế loại bỏ, bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất
uy tín với nhân dân. Tổng kết việc thực hiện “nhất thể hoá” một số chức vụ lãnh đạo Đảng, Nhà
nước để có chủ trương phù hợp. Thực hiện bầu cử, bổ nhiệm lại chức vụ lãnh đạo theo hướng
cấp trưởng giới thiệu cấp phó để cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
- Tích cực thực hành tiết kiệm, phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí
Phòng và chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu
dài. Mọi cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân từ
trung ương đến cơ sở và từng đảng viên, trước hết là người đứng đầu phải gương mẫu thực hiện
và trực tiếp tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tiếp tục hoàn thiện thể chế

động dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Có nhìều quan điểm khác nhau về quyền lực, nhà xã hội học người Anh B.Rulxen cho rằng:
“quyền lực là khả năng tạo ra những sản phẩm một cách có chủ ý”. Các nhà chính trị học và xã
hội học Mỹ cho rằng : “ Quyền lực là cái mà nhờ đó người khác phải phục tùng”( RĐan). “
Quyền lực là khả năng đạt tới kết quả nhờ một hành động phối hợp” (LXlipxơn); “Quyền lực là
cái buộc người khác phải hành động heo ý của ta” (A.Tốp phơ lê). Bách khoa triết học Liên Xô


cũ định nghĩa : “Quyền lực là khả năng thực hịen ý chí ” ( của chủ thể) tác động đếnhành vi và
phẩm hạnh của chủ thể (đối tượng) nhờ vào một phương tiện nào đó như uy tín, sức
mạnh..Trong xã hội được tổ chức thành Nhà nước, quyền lực bao gồm ba loại quyền lực công,
quyền lực chính trị, quyền lực Nhà nước.
Quyền lực công ( hay còn gọi là quyền lực xã hội ) là loại quyền lực này sinh từ một nhu cầu
chung nào đó của cộng đồng, nhờ vậy mà cộng đồng có được tổ chức, trật tự. Quyền lực công
cơ bản không mang tính giai cấp. Nếu có thì tính dân tộc nổi trội hơn tính giai cấp. Mặc dù nội
dung của quyền lực công không mang tính giai cấp, xong người thực hiện nó lại chi phối bởi
giai cấp. Ăngghen chỉ rõ : “ Khi nào giai cấp chính trị không thi hành tốt quyền lực xã hội,
quyền lực công thì chính nó không còn là giai cấp thống trị”.
Từ khái niệm quyền lực các nhà lý luận Matxit đã đi đến định nghĩa quyền lực chính trị : “
quyền lực chính trị là quyền lực của một giai cấp hoặc liên minh giai cấp, liên minh đảng phái,
nó nói lên khả năng thực tế của giai cấp, của Đảng phái đó trong việc thực hiện ý chí của mình
trong chính trị và các chuẩn mực pháp quyền . Nhờ đó mà lợi ích của giai cấp, của liên minh
giai cấp, liên minh đảng phái đó được hiện thực hoá”.
Quyền lực chính trị biểu hiện ở nhiều hình thức khác nhau ( quyền lực giai cấp, quyền lực
liên minh giai cấp, quyền lực liên minh đảng phái). Quyền lực chính trị thể hiện y chí của giai
cấp và bảo vệ lợi ích giai cấp thông qua cương lĩnh, đường lối, điều lệ của Đảng phái của tính
giai cấp. Nó là cái thống nhất biểu hiện ra bên ngoài, nhưng trong quan hệ nội tại có thể chứa
đựng sự khác biệt mâu thuẫn. Quyền lực chính trị thường biểu hiện ra bằng sức mạnh của các tổ
chức mang tính giai cấp, mang tính đảng phái.
Quyền lực Nhà nước là một bộ phận của quyền lực chính trị, đó là quyền lực chính trị của

ở đây là quá trình hiện thực hoá các ý chí, quyền lực của một lực lượng chính trị nhất định, đó
chính là giai cấp cầm quyền. Các nhà lý luận chính trị Mát xít đề cập đến hai phương diện hợp
thành của cơ chế thưc thi quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền đó là cơ chế nội dug và cơ
chế thực thể .Quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền xét về phưong diện nội dung được tạo
thành bởi bốn nhân tố và được sắp xếp theo một trật tự thống nhất bao gồm :
Thứ nhất, mục tiêu chính trị của giai cấp cầm quyền được thể hiện trong đường lối, cương
lĩnh , chiến lược của Đảng chính trị cầm quyền.
Thứ hai, hệ thống hiến pháp, pháp luật với tư cách là cụ thể hoá mục tiêu chính trị thành
những văn bản pháp quy biến cái rốn trở thành cái mang hình thức phổ biến.
Thứ ba, quá trình tổ chức thực hiện hiến pháp, pháp luật, nghị định, thực chất cải biến xã hội,
cải biến hiện thực theo mô hình, mục tiêu đã lựa chọn.
Thứ tư, quá trình kiểm tra và xử lý việc tổ chức thực hiện hiến pháp, pháp luật, nghị định.
Quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền xét về phương diện thực thể, trước hết được tạo
bởi bốn tổ chức bộ máy, đảm nhận các chức năng tương ứng trong cơ chế nội dung bao gồm:
Đảng cầm quyền ( co thể là đảng tư sản hay vô sản); Quốc hội hay hội nghị ( cơ quan lập pháp),
chính phủ ( cơ quan hành pháp); các cơ quan tư pháp ( toà án, Viện kiểm soat, các cơ quan điều
tra).
Ngoài ra, trong thể chế chính trị dân chủ, các tổ chức chính trị xã hội cũng trở thành một
nhân tố tham gia vào cơ chế thực thể. Vào hệ thống chính trị ở đây được hiểu là sự cấu thành từ
Nhà nước như các tổ chức Quôc hội, Chính phủ , tư pháp tồn tại nư nhân tố thứ nhất vì các tổ
chức chính trị- xã hội là nhân tố thứ hai.
Giới nghiên cứu lý luận chính trị Mát xít quan tâm đến tính hiệu quả và phương pháp đánh
giá hiệu quả của cơ chế thực thi quyền lực chính trị của giai cấp cầm quỳen bàn về hệ tieu chí
xem xét và đánh giá hiệu quả của cơ chế này, các nhà nghiên cứu đã nêu rõ các tiêu chí cơ bản
gồm:
Một là, cơ chế đó phải góp phầNhà nước duy trì, bảo đảm quyền lãnh đạo hay kiểm soát xã
hội của Đảng cầm quyền, giai cấp cầm quyền.
Hai là góp phần giữ vững ổn định chính trị- xã hội. thực chất cơ chế đó góp phần đảm bảo an
ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội .
Ba là, cơ chế đó phải góp phần hoàn thành các nhiệm vụ, các chỉ tiêu phát triển, kinh tế, văn

thể chế nhất nguyên chính trị. về mặt kết cấu hệ thống tổ chức quyền lực chính trị ở các nước
XHCN bao gồm : Đảng cộng sản cầm quyền, Nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động, các tổ chức chính trị- xã hội vừa là tổ chức đại diện cho cá nhân, lợi ích đồng thời cũng là
công cụ, thông qua đó quyền lực chính trị của Đảng cầm quyền được nối dài.
Ở nước ta hiện nay, quyền làm chủ của nhân dân cũng được thực hiện thông qua một hệ
thống tổ chức quyền lực chính trị bao gồm: Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà
XHCN Việt Nam, MTTQ và các đoànt hể nhân dân ( các tổ chức chính trị - xã hội ). Tổng thể
các tổ chức trong hệ thống đó được gọi là hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị của chúng ta
hiện nay hoạt động theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
Việt Nam, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc
theo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội .
mục tiêu của Đảng và cách mạng là giải phonp con người, mang lại hạnh phúc thực sự cho
nhân dân và ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc, Đảng không còn lợi ích nào khác. Mọi chủ
trương đường lối của đảng đều là kết quả phản ánh khát quát nhu cầu lợi ích chính đáng của
nhân dân .
Nhà nước là công cụ để thể chế hoá và thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao
động , đồng thời thông qua Nhà nước và nhân dân lao động được tổ chưc lại để có sức mạnh
nhằm thực hiện vai trò là chủ thể đích thực của xã hội. Đối tượng mà quyền lực chính trị hướng
tới trong Nhà nước ta là sự áp đặt ý chí của nhân dân vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, cơ
chế chính trị xã hội mà đó “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ”. Nước
ta là một nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đèu vì dân, bao nhiêu quyền lực đều là của dân, chính
quyền từ xã đến chính phủ, trung ương đều do dân cử ra, là tư tưởng được Hồ Chí Minh đè cập
khi nói đén vai trò chủ thể của nhân dân đối với quyền lực Nhà nước . Các cơ quan Nhà nước
và các cá nhân tự nó không có quyền mà chỉ được uỷ quyền từ dân. Là một Nhà nước của dân,
nhân dân là người có quyền tối cao trong việc tham gia vào công việc quản lý của Nhà nước, cò
quyền giám sát , phê phán, bãi miễn cán bộ Nhà nước phải có trách nhiệm phục vụ nhân dân,
đem lại quyền lọi cho nhân dân, khơi dậy động lực sáng tạo cho mọi quyết định quan trọng đều
phải có phán quyết của dân và ý nguyện đó phải được thể chế hoá bằng một cơ chế hoàn thiện ,
những biện pháp có tính khả thi.

thành hệ thống quyền lực của nhân dân còn cồng kềnh, chưa tinh giảm, gọn nhẹ, nhiều đầu mối,
khâu vào trọng yếu chưa phân định rõ ràng nhiệm vụ, chức năng giữa Đảng và Nhà nước, chất
lượng và hiệu quả hoạt động thấp, nạn quan liêu cửa quyền “ hành dân là chính” vẫn còn trong
các cơ quan Nhà nước. Quyền dân chủ của nhân dân chưa được phát huy, đôi lúc đôi chỗ còn bị
vi phạm … năng lực và phẩm chất của đội ngũ chưa tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ.
Không ít đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hoá về phẩm chất đạo đức, làm mất lòng
tự trọng một bộ phận quần chung nhân dân , làm giảm sức chiến đấu của Đảng. Thực trạng này
do nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân chủ yếu là chưa quán triệt sâu sắc quan điểm của
Đảng. Thực trạng này do nhiều nguyên nhân , song nguyên nhân chủ yếu là chưa quán triệt sâu
sắc quan điểm của Đảng về hệ thống chính trị trong điều kiện một đảng cầm quyền, chậm tổng
kết thực tiễn và nghiên cứu khoa học về tổ chức . Việc tổ chức chỉ đạo thực hiện các Nghị
quyết về tổ chức bộ máy không nhất quán, thiếu kiên quyết để. Để khắc phục nguyên nhân của
thực trạng trên, nhịệm vụ quan trọng và cấp bách đặt ra cho đất nước ta hiện nay là phải đổi
mới hệ thống chính trị và thực hiện dân chủ dưới đời sống xã hội. Muốn vậy, chúng ta cần phải
thực hiện các giải pháp cơ bản sau :
Thứ nhất : Tổ chức sự thống nhất trong Đảng về nhận thức , ý chí, hành động, kiên trì đấu
tranh hòng đẩy lùi bốn nguy cơ đảng viên phải nói và làm theo nghị quyết, thực hiện đúng
cương lĩnh, điều lệ Đảng, pháp luật Nhà nước ; Đảy mạnh công tác tổng kết thực tiễn và nghiên
cứu lý luận, tiếp tục làm rõ hơn những vấn đè bức xúc do thực tiễn đặt ra, làm rõ hơn mô hình
và con đường đi lên CNXH ở nước ta. Đổi mới công tác giáo dục trong Đảng, pháp luật của
Nhà nước, tăng cường giáo dục , rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ , đảng viên .
Tập trung chỉ đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãnh phí, quan liêu có hiệu quả. Thực hiện
đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, ché độ phê bình và tự phê bình trong Đảng,củng cố tổ chức,
tăng cường sức chíen đấu và năng lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng, sắp xếp tổ chức thực
hiện nghị quyết của Đảng.


Thứ hai : Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội XHCN. Về quan
điểm chỉ đạo: làm cho Nhà nước luôn giữ bản chất cách mạng và khoa học thực sự là Nhà nước
cỷa dân, do dân, vì dân .Quyền lực Nhà nước là thống nhất đồng thời có sự phân công, phối

nhân dân cần tập trung thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm soát hoạt động tư pháp. Đối với
Toà án nhân dân cần sắp xếp lại, phân địnhhợp lý thẩm quyền của toà án các cấp. Đối với cơ
quan điều tra và cơ quan thi hành án cần được tổ chức lại theo hướng gọn đầu mối.
Thứ ba,, Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị- xã hội ở
nước ta trong thời kỳ đổi mới : Đa dạng hoá các hình thức tập hợp quần chúng phù hợp với đìều
kiện , đặc điểm tâm lý, nhu cầu và lợi ích của các tầng lớp trong cơ cấu xã hội, dân cư, mở rộng
các tổ chức và hoạt động tự quản của nhân dân dưới nhiều hình thức phong phú; Đẩy mạnh việc
tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người dân; vận động
nhân dân thực hiện các nhiệm vụ kinh tế- xã hội, an ninh quốc phòng; thúc đẩy việc thực hiện
quy chế dân chủ ở cơ sở, phản ánh ý thức của nhân dân về xây dựng Đảng và chính quyền,
tham gia hoà giải các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân; đổi mới cơ chế đảm bảo kinh phí hoạt
động của các tổ chức chính trị- xã hội, đặc biệt là ở cấp cơ sở. Phát huy chủ động sáng tạo của
các tổ chức chính trị- xã hội trong việc tạo nguồn và sử dụng kinh phí; hoàn thiện các quy định
về hội phí, đoàn phí, phụ cấp, sự lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc quan trọng đảm bảo cho việc
đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị- xã hội.


Quỏ trỡnh thc thi quyn lc chớnh tr ca ng ta hin nay thc cht l quỏ trỡnh thc hin
dõn ch XHCN. Quỏ trỡnh ny ó v ang tip tc c hon thin nguyờn tc quyn lc thuc
v tay nhõn dõn lao ng tr thnh hnh ng chung cho ton xó hi, tng bc c hin thc
hoỏ
Câu 3. V trớ, vai trũ chc nng ca cỏc b phn cu thnh h thng chớnh tr. i mi,
nõng cao hiu lc, hiu qu hot ng ca h thng chớnh tr nc ta hin nay Nhng
vn t ra v gii phỏp.
Hệ thống chính trị của mỗi quốc gia là một cấu trúc của xã hội bao gồm các tổ chức
chính trị đặc trng của xã hội (Nhà nớc, các đảng phái chính trị, các tổ chức chính trị xã
hội, các đoàn thể, phong trào chính trị) tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật
chính thức hiện hành, cùng với tổng thể các MQH ràng buộc gắn kết các tổ chức đó thành
một chỉnh thể, thông qua đó giai cấp cầm quyền thực hiện quyền lực chính trị của mình
trong xã hội

cộng hoà tổng thống hay hay cộng hoà đại nghị mà đứng đầu cơ quan hành pháp là tổng
thống hay thủ tớng. Cơ quan t pháp có chức năng bảo vệ hiến pháp và pháp luật thông qua các
hoạt động xét xử mọi hành vi vi phạm hiến pháp và pháp luật; giảI thích hiến pháp và pháp
luậtNh vậy NN có chức năng tạo dựng khôn khổ pháp lý; đảm bảo sự ổn định của môI tr-


ờng xã hội; cung cấp các dịch vụ hàng hoá công; xoá đói giảm nghèo, bảo vệ các nhóm dễ bị
tổn thơng; bảo vệ môI trơng, bản sắc văn hoá dân tộc
nc ta hin nay, giai cp cụng nhõn v nhõn dõn lao ng ang l ch th chõn chớnh
ca quyn lc. Vỡ vy, h thng chớnh tr di s lónh o ca ng l cụng c thc hin quyn
lm ch ca nhõn dõn lao ng. H thng chớnh tr ca nc ta gm nhiu t chc, mi t chc
cú v trớ, vai trũ khỏc nhau do chc nng, nhim v ca tng t chc, nhng cựng tỏc ng vo
cỏc quỏ trỡnh phỏt trin kinh t - xó hi nhm m bo quyn lc ca nhõn dõn.
a. ng Cng sn Vit Nam: ng Cng sn Vit Nam - i tiờn phong ca giai cp
cụng nhõn, i biu trung thnh li ớch giai cp cụng nhõn, nhõn dõn lao ng v ca c dõn
tc. ng l mt b phn ca h thng chớnh tr nhng li l ht nhõn lónh o ca ton b h
thng chớnh tr. Vai trũ lónh o ca ng th hin trờn nhng ni dung ch yu sau:
ng ra Cng lnh chớnh tr, ng li, chin lc, nhng quan im, ch trng phỏt trin
kinh t-xó hi; ng thi ng l ngi lónh o v t chc thc hin Cng lnh, ng li ca
ng.
ng lónh o xó hi ch yu thụng qua Nh nc v cỏc on th qun chỳng. ng li, ch
trng, quan im ca ng c Nh nc tip nhn, th ch hoỏ c th bng phỏp lut v
nhng ch trng, chớnh sỏch, k hoch, chng trỡnh c th. Vỡ vy, ng luụn quan tõm n
vic xõy dng Nh nc v b mỏy ca Nh nc, ng thi kim tra vic Nh nc thc hin
cỏc Ngh quyt ca ng. ng lónh o xó hi thụng qua h thng t chc ng cỏc cp v
i ng cỏn b, ng viờn ca ng. ng lónh o cụng tỏc cỏn b bng vic xỏc nh ng
li, chớnh sỏch cỏn b, la chn, b trớ, gii thiu cỏn b cú tiờu chun vo cỏc c quan lónh
o ca Nh nc v cỏc on th qun chỳng v cỏc t chc chớnh tr - xó hi.
Ngoi ra, ng lónh o bng phng phỏp giỏo dc, thuyt phc v nờu gng, lm cụng tỏc
vn ng qun chỳng, lónh o thc hin tt quy ch dõn ch...

có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật.
Để đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, đảm bảo việc xét xử đúng người đúng tội,
Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức thành hệ thống, tập trung thống nhất và độc lập thực hiện thẩm
quyền của mình đối với các cơ quan khác của Nhà nước. Thực hiện các quyền khởi tố, kiểm sát các
hoạt động điều tra, truy tố...Với ý nghĩa đó, các tổ chức Toà án, Viện kiểm sát được gọi là cơ quan tư
pháp.Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục nâng cao ý thức
chấp hành pháp luật của nhân dân. Vì vậy, cần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
c. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội...
Đây là những tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp được tổ chức để tập hợp rộng rãi các tầng lớp
nhân dân theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản đại diện cho lợi ích của nhân dân, tham gia vào hệ thống
chính trị, tuỳ theo tính chất, tôn chỉ, mục đích của mình nhằm bảo vệ quyền lợi dân chủ của nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại
đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ đất nước; phát huy dân chủ, nâng cao trách nhiệm
công dân của các hội viên, đoàn viên, giữ gìn kỷ cương phép nước, thúc đẩy công cuộc đổi mới,
thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân là cơ sở chính trị của chính quyền
nhân dân, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng; phát huy khả năng tham gia bầu cử Quốc hội và
Hội đồng Nhân dân; tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước; thực hiện giám sát của nhân dân với cán bộ, công chức và giải quyết những mâu
thuẫn trong nội bộ nhân dân.
Các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng, động
viên và phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện nhiệm vụ
chính trị; chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân; tham gia vào công việc
quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng,
Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện và thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và đổi mới xã
hội, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
Hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức theo một hệ thống từ Trung ương đến cơ sở. Cơ sở
phân cấp theo quản lý hành chính gồm có xã, phường, thị trấn. Hệ thống chính trị ở cơ sở bao gồm: Tổ
chức cơ sở Đảng, Hội đồng Nhân dân xã, phường; Uỷ ban Nhân dân xã, phường; Mặt trận Tổ quốc xã,
phường và các tổ chức chính trị-xã hội khác như: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Phụ

chính trị ở nước ta đều lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng
và kim chỉ nam cho hành động. Các quan điểm và nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh đều được tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta vận dụng, ghi rõ trong
hoạt động của từng tổ chức.
Hai là,hệ thống chính trị ở nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảng là một tổ chức trong hệ thống chính trị nhưng có vai trò lãnh đạo các tổ chức trong hệ
thống chính trị. Trong điều kiện cụ thể ở nước ta, do những phẩm chất của mình - Đảng là đại
biểu cho ý chí và lợi ích thống nhất của các dân tộc; do truyền thống lịch sử mang lại và do
những thành tựu rất to lớn đạt được trong hoạt động thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự
lãnh đạo của Đảng... làm cho Đảng ta trở thành Đảng chính trị duy nhất có khả năng tập hợp
quần chúng lao động đông đảo để thực hiện lý tưởng của Đảng, nhân dân tự nguyện đi theo
Đảng, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong thực tế. Đây là đặc trưng cơ bản của hệ thống
chính trị ở nước ta.
Ba là,hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung
dân chủ. Nguyên tắc này được tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta thực hiện.
Việc quán triệt và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nhân tố cơ bản đảm bảo cho hệ
thống chính trị có được sự thống nhất về tổ chức và hành động nhằm phát huy sức mạnh đồng
bộ của toàn hệ thống cũng như của mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị.
Bốn là,hệ thống chính trị bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân và tính
nhân dân, tính dân tộc rộng rãi.
Đây là đặc điểm khác biệt căn bản của hệ thống chính trị ở nước ta với hệ thống chính trị
của các nước tư bản chủ nghĩa, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, sự thống nhất
lợi ích giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động cũng như cả dân tộc, vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
d) Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của các tổ chức chính trị trong hệ thống chính trị ở nước ta.
Ở nước ta hiện nay, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đang là chủ thể chân chính
của quyền lực. Vì vậy, hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng là công cụ thực hiện quyền
làm chủ của nhân dân lao động. Hệ thống chính trị của nước ta gồm nhiều tổ chức, mỗi tổ chức
có vị trí, vai trò khác nhau do chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, nhưng cùng tác động vào
các quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm đảm bảo quyền lực của nhân dân.

nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ
máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.Quốc hội thực hiện quyền giám
sát tối cao với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.Với ý nghĩa đó, Quốc hội được gọi là cơ quan
lập pháp. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm
vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước. Chính
phủ là cơ quan chấp hành, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và phải báo cáo công tác với Quốc
hội. Trên ý nghĩa đó, Chính phủ được gọi là cơ quan hành pháp.
Cơ quan tư pháp gồm: Toà án, Viện kiểm sát và các cơ quan điều tra. Đây là những cơ
quan được lập ra trong hệ thống tổ chức Nhà nước để xử lý những tổ chức và cá nhân vi phạm
pháp luật, đảm bảo việc thực thi pháp luật một cách nghiêm minh, chính xác.Toà án các cấp là
cơ quan nhân danh Nhà nước, thể hiện thái độ và ý chí của Nhà nước trước các vụ án thông qua
hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Toà án là cơ quan duy nhất có quyền áp dụng chế
tài hình sự, không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án
đã có hiệu lực pháp luật.Để đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, đảm bảo việc xét
xử đúng người đúng tội, Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức thành hệ thống, tập trung thống
nhất và độc lập thực hiện thẩm quyền của mình đối với các cơ quan khác của Nhà nước. Thực
hiện các quyền khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra, truy tố...Với ý nghĩa đó, các tổ chức
Toà án, Viện kiểm sát được gọi là cơ quan tư pháp. Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng


pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân. Vì
vậy, cần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội: Đây là những tổ chức chính trị-xã hội
hợp pháp được tổ chức để tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân theo nguyên tắc tự nguyện, tự
quản đại diện cho lợi ích của nhân dân, tham gia vào hệ thống chính trị, tuỳ theo tính chất, tôn
chỉ, mục đích của mình nhằm bảo vệ quyền lợi dân chủ của nhân dân.Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc
để xây dựng và bảo vệ đất nước; phát huy dân chủ, nâng cao trách nhiệm công dân của các hội
viên, đoàn viên, giữ gìn kỷ cương phép nước, thúc đẩy công cuộc đổi mới, thắt chặt mối quan

Đảng, Nhà nước, đoàn thể chậm được sắp xếp lại cho tinh giản và nâng cao chất lượng, còn
nhiều biểu hiện quan liêu, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân. Công tác tuyển chọn, bồi
dưỡng, thay thế, trẻ hoá, chuẩn bị cán bộ kế cận còn lúng túng, chậm trễ. Năng lực và phẩm
chất của đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị chưa tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ. Một
bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hoá về phẩm chất đạo đức, sức
chiến đấu của một số tổ chức cơ sở Đảng chưa cao.
Hệ thống chính trị ở cơ sở hiện nay còn nhiều mặt yếu kém, bất cập trong công tác lãnh
đạo, quản lý, tổ chức thực hiện và vận động quần chúng. Tình trạng tham nhũng, quan liêu, mất


đoàn kết nội bộ, vừa vi phạm quyền làm chủ của dân, vừa không giữ đúng kỷ cương, phép nước
xảy ra ở nhiều nơi, có những nơi nghiêm trọng. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong hệ
thống chính trị chưa được xác định rành mạch, tránh nhiệm không rõ; nội dung và phương thức
hoạt động chậm đổi mới, còn nhiều biểu hiện của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp. Đội ngũ
cán bộ cơ sở ít được đào tạo, bồi dưỡng; chính sách đối với cán bộ cơ sở còn chắp vá.Để tiếp
tục đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở, cần tập trung giải quyết mấy vấn
đề cơ bản và bức xúc sau đây:
Một là, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức trong hệ thống chính trị, đồng
thời xây dựng mối quan hệ đoàn kết, phối hợp giữa các tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ,
chi bộ cơ sở; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động hướng vào phục vụ dân, sát với dân,
được dân tin cậy.
Hai là, thực hành dân chủ thực sự trong nội bộ các tổ chức của hệ thống chính trị ở cơ sở
theo nguyên tắc tập trung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên cơ sở thực hiện
quyền dân chủ trực tiếp, phát huy quyền làm chủ đại diện, quy định cụ thể việc thực hiện quyền
của dân giám sát tổ chức và cán bộ ở cơ sở và kịp thời thay thế người không đủ tín nhiệm. Phát
huy dân chủ phải đi liền với củng cố và nâng cao kỷ luật, kỷ cương theo pháp luật.
Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện
đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tuỵ với dân, biết phát huy sức
dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân; trẻ hoá đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải
quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở.Trước yêu cầu mới ngày càng cao của sự

liêu, tham nhũng, lộng quyền, xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân; ngăn chặn và khắc phục
tình trạng dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan, đồng thời nghiêm trị những hoạt động phá hoại
gây rối...Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và trong sinh hoạt
của bộ máy Nhà nước.
- Đổi mới và kiện toàn các đoàn thể chính trị-xã hội. Những năm qua các tổ chức chính
trị-xã hội, các đoàn thể quần chúng nhân dân đã phát huy vai trò của mình trong công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới, các tổ chức chính trị - xã
hội cần được đổi mới toàn diện theo hướng sau đây: Nâng cao hơn nữa nhận thức của toàn xã
hội về vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các đoàn thể quần chúng. Đẩy
mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội nghề
nghiệp... các tổ chức quần chúng…Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội theo hướng mở rộng và đa dạng hoá các
hình thức tập hợp quần chúng nhân dân, đáp ứng yêu cầu và chăm lo lợi ích thiết thực, chính
đáng và hợp pháp của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân tập trung
hướng mạnh về cơ sở. Lãnh đạo thực hiện tốt quy chế dân chủ, đảm bảo quyền làm chủ của
nhân dân, ngăn chặn và chống mọi hành động vi phạm quyền làm chủ của nhân dân. Tăng
cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đổi mới hình thức tuyên truyền, vận động nhân dân;
gắn hoạt động của các tổ chức đoàn thể quần chúng trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát
triển kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng... với việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân.
Vì sao phải tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị?( thực tiễn)
Trong những năm qua, hệ thống chính trị ở nước ta đã có những đổi mới đáng kể: Đảng đã
được củng cố cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức; vai trò lãnh đạo của Đảng trong xã hội ngày
càng tăng; Nhà nước tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện theo hướng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội từng
bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, đem lại hiệu quả thiết thực; quyền làm chủ của
nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá, tư tưởng được phát huy... Bên cạnh đó, hệ
thống chính trị ở nước ta còn bộc lộ nhiều nhược điểm: Năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, hiệu
quả quản lý, điều hành của Nhà nước, hiệu quả hoạt động của các đoàn thể chính trị-xã hội chưa nâng
lên kịp với đòi hỏi của tình hình nhiệm vụ mới. Bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể chậm được sắp xếp

hiện đại hoá đất nước, cùng với đổi mới nền kinh tế, từng bước đổi mới kiện toàn hệ thống
chính trị là đòi hỏi khách quan, yêu cầu cấp bách..Nội dung, phương hướng cơ bản nhằm đổi
mới, kiện toàn hệ thống chính trị. Việc đổi mới hệ thống chính trị phải hướng vào việc thực hiện
mục tiêu chủ yếu là nhằm thực hiện tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân
dân
Một là; Đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo của Đảng.Để thực hiện vai trò lãnh đạo
của Đảng trong tình hình mới, cần tập trung làm tốt những vấn đề sau: Một là, nâng cao nhận thức và
thực hiện đúng vai trò hạt nhân chính trị và trình độ lãnh đạo của tổ chức Đảng ở các cấp để phát huy
tính chủ động, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong việc
thực hiện đường lối của Đảng. Hai là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng cần nâng cao
nhận thức và có quan niệm đúng đắn về sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Trước hết là việc đổi
mới, việc ra Nghị quyết và chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết của Đảng. Phát huy dân chủ trong
sinh hoạt Đảng, giữ vững đoàn kết thống nhất trong Đảng. Tăng cường công tác kiểm tra, thực
hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; tăng cường công tác giáo
dục rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên của Đảng...
Hai là; Đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước. Để Nhà nước làm nhiệm
vụ quản lý và lãnh đạo xã hội, cần làm tốt một số vấn đề sau: Phát huy mạnh mẽ vai trò của hệ
thống chính quyền Nhà nước trong việc mở rộng và thực hiện dân chủ, hoàn thiện cơ chế dân
chủ, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, cụ thể hoá phương châm dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra. Chăm lo xây dựng, kiện toàn bộ máy của Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, có
cơ cấu gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả, đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực với tinh thần
trách nhiệm cao. Hoạt động của cơ quan Nhà nước phải đặt nhiệm vụ phục vụ nhân dân lên trên
hết, giải quyết đúng đắn và nhanh chóng các công việc có liên quan trực tiếp đến đời sống của
nhân dân. Giáo dục cán bộ, công chức Nhà nước xây dựng và thực hành phong cách "Trọng
dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân", "Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm
dân tin"... Xây dựng cơ chế và biện pháp để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan
liêu, tham nhũng, lộng quyền, xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân; ngăn chặn và khắc phục
tình trạng dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan, đồng thời nghiêm trị những hoạt động phá hoại
gây rối...Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và trong sinh hoạt của bộ máy Nhà nước.
Ba là; Đổi mới và kiện toàn các đoàn thể chính trị-xã hội.

nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự
nghiệp cách mạng”1.
Đảng Cộng sản cầm quyền? Đó là Đảng Cộng sản lãnh đạo cách mạng trong điều kiện
có chính quyền. Nội dung hoạt động của Đảng khác căn bản với thời kỳ chưa giành chính
quyền. Sau khi giành được chính quyền rồi, Đảng Cộng sản là người chịu trách nhiệm cao nhất
trước sự phát triển của dân tộc, trở thành người lãnh đạo toàn xã hội, lãnh đạo mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng, tổ chức, quốc phòng - an ninh, đối
ngoại...) và lãnh đạo mọi tổ chức trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, trong đó chủ yếu
lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội. Vấn đề đặt ra đối với Đảng cầm quyền là
phải vươn tới tầm cao mới về trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức, phẩm chất để có thể lãnh đạo xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội.
Về lý luận: Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: “Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng
là vấn đề chính quyền... Việc giai cấp vô sản đoạt lấy chính quyền mới chỉ là bước đầu của
những cải biến cách mạng. Công cuộc xây dựng xã hội mới bao trùm suốt cả một thời kỳ lịch
sử những cải biến xã hội một cách triệt để”2. Điều này có nghĩa sau khi phát động nhân dân lao
động vùng lên đánh đổ chính quyền phản động, Đảng của giai cấp vô sản phải thiết lập chính
quyền mới để tiến hành những cải biến cách mạng. Muốn làm được điều này, Đảng phải một
mình cầm quyền đất nước. Lý luận về đảng cầm quyền của giai cấp công nhân, hay nói cách
khác là Đảng Cộng sản cầm quyền là một vấn đề còn mới mẻ. C. Mác và Ph.Ăngghen trong tác
phẩm “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” năm 1848 đã nói đến việc giai cấp vô sản mỗi nước phải
thành lập chính đảng độc lập của mình, tiến hành cách mạng bạo lực “Trước hết phải giành lấy
chính quyền, phải xây dựng nên một giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”3. Công
xã Pari là một sự kiện lịch sử vĩ đại, nó thể nghiệm trong thực tế hành động cách mạng để thực
hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Công xã đã thể hiện mình như một Nhà nước vô
. Điều Lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia 2011, tr.5.
. Từ điển triết học, Nxb. TB, M, 1975; Bản dịch tiếng Việt, Nxb.TB và Nxb ST, M, 1986, tr.64-65.
3
. C.Mác - Ph.Ăngghen, Tuyển tập, tập 1, tr. 565, NXB Sự thật, H, 1980.
1
2

quyền của mình. “Đảng Cộng sản cầm quyền” là sự kiện bước ngặt đánh dấu sự chuyển biến
của giai đoạn cách mạng, từ cách mạng dân tộc dân chủ sang cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta. Đây là giai đoạn chính quyền đã thuộc về nhân dân, quyền lực nhà nước do nhân dân
ủy quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, quyền lực đó được sử dụng để trấn áp kẻ thù và
tổ chức xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa.Từ những nội dung trên, chúng ta nhận
thức rằng: Đảng cầm quyền là Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp cách mạng
trong điều kiện có quyền lực nhà nước và Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện Nhà nước của
dân, do dân và vì dân. Suy rộng ra là lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị nước ta để thực hiện
mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Từ nhận thức đó, Đảng lãnh đạo Nhà nước của dân, do dân, vì dân nói riêng, lãnh đạo hệ
thống chính trị nói chung là vì nhân dân làm chủ, để nhân dân làm chủ và cho nhân dân làm
chủ một cách toàn diện, triệt để và sâu sắc. Đảng không phải là cơ quan quyền lực nhà nước,
nhưng Đảng có quyền lực về chính trị, quyền lực về tư tưởng chính trị, quyền lực về tổ chức bộ
máy và nhân sự, quyền lực về kiểm tra... đối với toàn bộ hệ thống chính trị, Đảng tự nguyện và
phải hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật do Nhà nước xây dựng dưới sự
lãnh đạo của Đảng. Các quyền đó được dân tộc trao cho Đảng, vì sự phát triển bền vững của đất
nước, chứ Đảng không tự nhận lấy cho mình. Điều đó cũng tự nhiên như nhân dân ủy thác cho
Nhà nước quyền lực của mình, và khi cần, nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh "có thể đuổi Chính
. V.I.Lênin toàn tập, tập 43, tr. 112 - 113, NXB Tiến bộ, M, 1978.
. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, tr. 491 Nxb Chính trị quốc gia, H, 2000

4
5


phủ đi", nếu Chính phủ không làm trọn trách nhiệm với nhân dân. Về cơ sở thực tiễn: Từ kinh
nghiệm bản thân cũng như kinh nghiệm thành công và thất bại của các Đảng Cộng sản cầm
quyền khác, Đảng Cộng sản Việt Nam rút ra kết luận quan trọng, đó là: Đường lối cách mạng
đúng đắn là nhân tố quyết định để giữ vững vai trò Đảng Cộng sản duy nhất cầm quyền. Đường
lối cách mạng Việt Nam gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đó là con

chiến và kiến quốc. Do đó, đường lối, chủ trương của Đảng không dừng lại ở các nguyên tắc chung
mà thường rất cụ thể, bao quát các chức năng của Nhà nước”6. Đến Hiến pháp năm 1992, mối quan
hệ giữa Đảng và Nhà nước có những thay đổi quan trọng. Hiến pháp quy định: “Nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp
luật. Đảng không quyết định trực tiếp mọi công việc và Đảng không phải là cấp trên của Nhà nước.
Quyền lực Nhà nước được tập trung. Tình trạng Đảng bao biện làm thay cơ quan Nhà nước, can thiệp
vào chức năng của cơ quan Nhà nước, dùng phương pháp mệnh lệnh, áp đặt đối với cơ quan Nhà nước
được khắc phục. Thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” được Đại hội lần thứ VIII của Đảng, năm 1996

. Nguyễn Hữu Đổng (chủ biên): Đảng và các tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị
Quốc gia, H, 2009, tr.118-119.
6


nhắc lại: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lý
xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”.
Như vậy, trước đây khi Đảng ta chưa giành được chính quyền, phương thức lãnh đạo của
Đảng là lãnh đạo nhân dân lao động giành lấy quyền lực nhà nước, lập nên Nhà nước của dân,
do dân, vì dân và Đảng trực tiếp lãnh đạo bộ máy nhà nước đó để tiếp tục hoàn thành sự nghiệp
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội qua hơn 67 năm cầm quyền, nhất là hiện nay, cùng với
phương thức cơ bản đó, Đảng tiếp tục tìm tòi và phát triển các phương thức lãnh đạo, quản lý
xã hội, tổ chức, huy động lực lượng quần chúng bằng các biện pháp hành chính, pháp lý thông
qua bộ máy Nhà nước của dân, do dân, vì dân để thực hiện mục tiêu đó. Mối quan hệ giữa mục
tiêu cầm quyền với phương thức cầm quyền của Đảng là mối quan hệ giữa cái bất biến với cái
khả biến, giữa mục tiêu và phương tiện. Phương thức cầm quyền chủ yếu của Đảng hiện nay là
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và sử dụng Nhà nước ta như một
công cụ quyền lực pháp lý, một phương tiện có hiệu lực pháp lý để tổ chức và quản lý xã hội
mới, huy động mọi tiềm lực và sức mạnh của toàn xã hội nhằm thực hiện thắng lợi những

thể của nước ta và xu thế phát triển của thời đại. Để thực hiện tốt vấn đề này, Đảng cần phải
khắc phục triệt để chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa kinh nghiệm, duy ý chí cũng như đấu tranh
chống chủ nghĩa cơ hội tiềm ẩn nguy cơ phản bội xã hội chủ nghĩa, phản bội lại giai cấp công
nhân, đi ngược lại lợi ích của nhân dân lao động.


Ba là, phải xây dựng Đảng, làm cho Đảng luôn xứng đáng là một Đảng cách mạng chân
chính, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tránh
được những sai lầm về đường lối, không bị phân liệt về tư tưởng và tổ chức, có quan hệ mật
thiết với nhân dân. Đảng phải xây dựng cho được đội ngũ đảng viên ưu tú, nêu tấm gương sáng
trong nhân dân về đạo đức, lối sống trong sạch và lành mạnh, có kỷ luật nghiêm minh, xứng
đáng với lòng tin yêu của nhân dân. Phải thật sự phát huy dân chủ trong sinh hoạt Đảng, thực
hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, chống quan liêu, bè phái, cục bộ địa phương... Đặc
biệt, chúng ta phải quyết tâm xây dựng Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa
XI): “Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là lãnh đạo, quản lý các cấp
để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với
Đảng”, khẳng định vai trò và vị thế của Đảng ta trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Bốn là, Đảng lãnh đạo, xây dựng Nhà nước. Nhà nước là vấn đề căn bản của mọi cuộc
cách mạng, nên cần phải xây dựng Nhà nước đủ mạnh, đảm bảo quyền lực chính trị của nhân
dân lao động, tức là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước thực sự của
dân, do dân và vì dân, trung thành với lợi ích của nhân dân, bảo vệ dân, động viên được đông
đảo quần chúng nhân dân tham gia vào quản lý Nhà nước. Muốn vậy phải tiến hành chống quan
liêu, tham nhũng, làm cho Nhà nước trở nên trong sạch, vững mạnh, đủ sức quản lý, điều hành
đất nước đi đúng quỹ đạo do Đảng cầm quyền đề ra.
Năm là, Đảng xây dựng và phát triển kinh tế - văn hóa phải theo quy luật khách quan,
chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, chăm lo phát triển nguồn lực con
người, vì giải phóng con người là mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội. Cùng với đó là Đảng
phải xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, sự thành
bại của cách mạng là dân có bảo vệ, ủng hộ hay không. Vì vậy, phải chăm lo và phát triển khối

nh nc mt s lnh vc nht nh. Chc nng vn ng hnh lang, gõy ỏp lc. Chc nng
phn bin, giỏm sỏt chớnh quyn. V trớ, vai trũ ca cỏc t chc chớnh tr - xó hi, th hin Trong
xó hi hin i, mi h thng chớnh tr, cỏc t chc chớnh tr - xó hi l c s ca cỏc ng phỏi, ca
nh nc, l cu ni gia nhõn dõn vi chớnh quyn. Cỏc t chc chớnh tr - xó hi cú vai trũ to ln
trong i sng chớnh tr - xó hi, chỳng kt ni cỏc li ớch v iu tit cỏc mõu thun, cỏc xung t
trong xó hi. Cỏc t chc chớnh tr - xó hi khụng ch l ch da, hp tỏc vi nh nc, m nú
cũn l c s kim ch, i trng i vi nh nc, gi cho vic thc thi quyn lc nh nc tr
nờn cõn bng trong xó hi. Cỏc t chc chớnh tr - xó hi ỏp ng yờu cu phi tp trung hoỏ
quyn lc nh nc, chuyn mt b phn quyn lc nh nc cho s t qun cho cng ng, xó
hi, lm cho nh nc hot ng ngy cng hiu qu.
V Cỏc t chc chớnh tr - xó hi Vit Nam. Các tổ chức chính trị xã hội và các nhóm lợi
ích: đây là các tổ chức của công dân, những ngời có chung mục tiêu và muốn gây ảnh hởng
đến chính sách công. Trong XH hiện đậi vai trò của các tổ chức CTXH rất lớn và không
ngừng tăng lên đây là bộ phận quan trọng của XH công dân tích cực cùng NN và hệ thống
chính trị hiện thực hoá các lợi ích, cân bằng mối quan hệ giữa NN và XH, các tổ chức này
là cơ sở XH của các đảng chính trị, có ảnh hởng mạnh mẽ quan trọng trong việc hoạch định
chính sách của NN và khuynh hớng chính trị của các đảng. Chức năng chủ yếu của các tổ
chức này là đại diện biểu đạt lợi ích của các thành viên trong nhóm, bổ sung cho sự đại diện
của cácnghị sĩ; chức năng tuyên truyền giáo dục vận động cung cấp thông tin, chia sẻ thông
tinQuan nim v cỏc t chc chớnh tr - xó hi trong h thng chớnh tr Vit Nam. H thng chớnh tr
Vit Nam hin nay gm 3 b phn: Nh nc Cng ho xó hi ch ngha Vit Nam, ng Cng
sn Vit Nam, Mt trn T quc v cỏc t chc chớnh tr - xó hi. Cỏc t chc chớnh tr - xó hi
Vit Nam gm 6 t chc: Mt trn T quc Vit Nam,.Tng Liờn on lao ng Vit Nam. on
Thanh niờn cng sn H Chớ Minh. Hi Nụng dõn Vit Nam. Hi Liờn hip ph n Vit Nam. Hi
Cu chin binh Vit Nam. Cỏc t chc chớnh tr - xó hi Vit Nam hu ht t chc thnh bn cp:
Trung ng, cp tnh, cp huyn, cp xó c im ca cỏc t chc chớnh tr - xó hi Vit Nam. Do
ng Cng sn Vit Nam t chc v lónh o. c t chc rng khp theo cỏc cp hnh chớnh t
Trung ng n c s. Thng cú chc nng chớnh tr ni tri hn chc nng xó hi (nht l trong
giai on u).V V trớ, Cỏc t chc chớnh tr - xó hi cú v trớ quan trng, l mt trong 3 b phn
cu thnh h thng chớnh tr Vit Nam. Cỏc t chc chớnh tr - xó hi l c s chớnh tr ca chớnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status