VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN CHÍNH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
NHÂN LỰC NGÀNH Y TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. VĂN TẤT THU
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Thực hiện chính sách phát triển nhân lực
ngành y tế ở nước ta hiện nay” là đề tài nghiên cứu độc lập của riêng tôi,
được đưa ra dựa trên cơ sở tìm hiểu, phân tích và đánh giá tình hình chính
sách phát triển nguồn nhân lực y tế ở nước ta. Các số liệu là trung thực và
chưa được công bố tại các công trình nghiên cứu có nội dung tương đồng nào
khác.
Hà Nội, tháng 12 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Văn Chính
nước ta hiện nay ................................................................................................... 50
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC Y TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY ................................ 60
3.1. Hoàn thiện tổ chức nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển nhân lực
ngành y tế ............................................................................................................. 60
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển nhân lực ngành
y tế ........................................................................................................................ 63
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 77
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PTNNLYT
Phát triển nguồn nhân lực y tế
BHXH
Bảo hiểm xã hội
BHYT
Bảo hiểm y tế
CBNV
Cán bộ nhân viên
NNL
ta đã ban hành nhiều chính sách nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của đội
ngũ này, cụ thể là Luật khám chữa bệnh, Luật viên chức năm 2010, Quyết
định số 122/QĐ – TTg ngày 10/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
chiến lược Quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân gia
đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn 2030; Quyết định số 2992/QĐ – BYT ngày
17/7/2015 của Bộ Y tế về phê duyệt kế hoạch phát triển nhân lực trong hệ
thống khám chữa bệnh 2015 – 2020; Kết quả đã có những chuyển biến tích
cực. Số lượng, chất lượng nguồn nhân lực ngành y tế cơ bản đáp ứng nhu cầu,
năng lực chuyên môn phù hợp với vị trí việc làm. Tuy nhiên, chất lượng hoạt
1
động vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Năng lực chuyên môn của một bộ phận
viên chức, người lao động trong ngành y tế chưa đáp ứng yêu cầu công việc,
phân bố nguồn nhân lực không đồng đều, đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp
chưa cao, việc đổi mới phong cách thái độ làm việc và ứng sử còn chậm. Do
đó, những kết quả đạt được chưa tương xứng với vị trí, vai trò, miềm tin và sự
mong muốn của xã hội.
Trước thực trạng này, mặc dù chính phủ đã có nhiều chính sách để khắc
phục tình trạng trên như chính sách cử tuyển đào tạo nhân lực cho vùng núi,
khó khăn; chính sách đào tạo liên tục; chính sách luân chuyển cán bộ cho
tuyến dưới... nhưng dường như vẫn chưa đem lại hiệu quả như mong đợi.
Bên cạnh đó do sự phát triển về kinh tế - xã hội; đời sống nhân dân
tăng cao, nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe tăng, sự biến đổi khí hậu và
chất lượng thực phẩm không an toàn đã xuất hiện nhiều căn bệnh mới đòi hỏi
cần có một đội ngũ cán bộ y tế với trình độ, chất lượng, chuyên môn đáp ứng
những yêu cầu khám chữa bệnh.
Đặc biệt, chất lượng nhân lực y tế còn nhiều bất cập bởi việc đào tạo
của nhiều trường còn chạy theo số lượng, công tác thực hành chưa được chú
trọng hoặc mang tính hình thức. Chính sách tiền lương cho các cán bộ y tế
bộ giỏi, tay nghề tốt.
Một trong những vấn đề cấp thiết đặt ra với Ngành y tế ở nước ta hiện
nay là phát triển nhân lực đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân
dân trong tình hình mới: “Phải phát triển, chuyển hóa đội ngũ cán bộ y tế để
có đủ nhân lực chất lượng phù hợp”. Trong xây dựng và phát triển nhân lực y
tế, giải pháp quan trọng nhất là chính sách đối với nguồn lực này. Với lý do
nêu trên, tác giả đã chọn vấn đề nghiên cứu đề tài: “Thực hiện chính sách
phát triển nhân lực ngành y tế ở nước ta hiện nay” để làm đề tài cho luận
văn cao học chuyên ngành chính sách công.
3
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nói chung và chính sách phát triển
nhân lực y tế nói riêng đã được nhiều tác giả đề cập và nghiên cứu qua một số
công trình. Dưới góc độ quản lý trong cuốn sách “Quản lý NNL ở Việt
Nam”và “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của hai tác giả Phạm Thành
Nghị và Vũ Hoàng Ngân đã tập trung phân tích những cơ sở khoa học của
quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam.
Có thể kể đến bài viết của PGS.TS Lương Ngọc Khuê về “Thực trạng
NNL bệnh viện tại Việt Nam giai đoạn 2008-2010”trong đó khẳng định nhân
lực là nguồn lực quan trọng nhất trong sự hoạt động và phát triển cho bệnh
viện nói riêng và ngành y tế nói chung. Nghiên cứu này được thực hiện với
mục tiêu: Đánh giá thực trạng và sự biến động nguồn nhân lực qua các năm
2008-2010 với kết luận là mặc dù nhân lực phục vụ chăm sóc người bệnh chỉ
tăng nhẹ, nhưng cơ cấu nhân lực đã và đang dần dần đáp ứng được các quy
định trong Thông tư 08/2007/TTLT-BYT-BNV để đảm bảo chất lượng chăm
sóc người bệnh..
Ở phạm vi vai trò nguồn nhân lực, tác giả PGS.TS Đường Vinh Sường
quận/huyện và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
phát triển nhân lực ngành y tế ở nước ta hiện nay góp phần thắng lợi nhiệm vụ
chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, học viên đề ra các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển
nhân lực ngành y tế ở nước ta.
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển nhân lực
ngành y tế, chỉ rõ kết quả, ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của các hạn chế
trong thực hiện chính sách phát triển nhân lực ngành y tế hiện nay.
- Đề xuất, khuyến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách phát triển nhân lực ngành y tế ở ở nước ta hiện nay.
5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chính sách phát triển nguồn
nhân lực ở nước ta hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về mội dung: Thực hiện chính sách phát triển nhân lực ngành y tế ở
nước ta hiện nay; nghiên cứu các chính sách mang tính vĩ mô, hệ thống các
văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước của Ngành Y tế, UBND tỉnh, Sở
Nội vụ và Sở Y tế.
- Phạm vi thời gian: Phân tích thực hiện các chính sách phát triển
nguồn nhân lực ngành y tế ở nước ta hiện nay từ năm 2011 đến năm 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về phát triển
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác xây dựng, ban
hành các chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành y tế ở nước ta hiện nay.
Đồng thời giảng viên, cán bộ cũng có thể sử dụng tài liệu này trong hoạt động
quản lý và đào tạo
- Qua thực tiễn nghiên cứu thực hiện chính sách phát triển nhân lực
ngành y tế, luận văn chỉ ra được khó khăn, hạn chế trong thực thi chính sách,
đồng thời đề xuất ra các giải pháp thiết thực, hữu hiệu nâng cao hiệu quả thực
hiện chính sách phát triển nhân lực ngành y tế ở nước ta hiện nay. Kết quả tổ
chức thực hiện chính sách phát triển nhân lực ngành y tế góp phần quan trọng
vào việc xây dựng nguồn nhân lực y tế có đủ trình độ, năng lực chuyên môn,
phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
nhân dân.
7
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục Bảng , Danh mục Chữ viết tắt
và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu theo 03 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển
nhân lực ngành y tế ở nước ta hiện nay.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển nhân lực ngành
y tế ở nước ta hiện nay.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát
triển nhân lực ngành y tế ở nước ta hiện nay.
8
Chương 1
Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa “Nhân lực y tến bao gồm tất cả
những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ”.
Theo đó nhân lực y tế không chỉ có Bác sỹ, Dược sỹ, Điều dưỡng, Kỹ thuật
viên y mà bao gồm cả những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác
quản lý, nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế. Nó
bao gồm cán bộ y tế chính thức và cán bộ y tế không chính thức (tình nguyện
viên, y lang).
Trên cơ sở tổng hợp những khái niệm trên, có thể hiểu một cách ngắn
gọn: NLYT là toàn bộ tiềm năng lao động có thể tham gia làm việc trong lĩnh
vực y tế cả trực tiếp và không trực tiếp để phục vụ cho sự nghiệp chăm sóc và
bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
1.1.2. Chính sách phát triển nhân lực ngành y tế
Cho đến nay, xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau vẫn còn nhiều cách
hiểu khác nhau khi bàn về chính sách phát triển nhân lực ngành y tế. Theo
quan niệm của Liên hiệp quốc, chính sách phát triển nguồn nhân lực y tế bao
gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Cũng có quan điểm cho rằng, chính sách phát triển nhân lực là gia tăng
giá trị cho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn
cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động
có những năng lực và phẩm chất mới cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu
to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Một số tác giả khác lại quan niệm, chính sách phát triển nguồn nhân lực
là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm
lực, đồng thời phâm bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn
lực thông qua chính sách phân công lao động và giải quyết việc làm để phát
triển kinh tế - xã hội
10
dự phòng cho tất cả các tuyến, chú ý các chuyên khoa đầu ngành, mũi nhọn,
cán bộ lãnh đạo quản lý.
- Thực hiện chuẩn hoá cán bộ y tế, đặc biệt là sử dụng thành thạo các
phương tiện khoa học kỹ thuật, y dược chuyên khoa sâu trong công tác khám,
chữa bệnh cho nhân dân.
- Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi trong việc cử cán bộ y tế đi
đào tạo tại các trường đại học trong và ngoài nước, tại các cơ sở y tế chuyên
khoa và đầu ngành.
- Tiếp tục triển khai và mở rộng việc luân phiên cán bộ từ tuyến trên về
tuyến dưới nhằm bổ sung cán bộ có năng lực, chuyển giao kỹ thuật để nâng
cao chất lượng điều trị và thăm khám cho tuyến dưới, góp phần cấp cứu, điều
trị tại chỗ giảm thiểu rủi ro và giảm quá tải cho các bệnh viện tuyến trên, đẩy
mạnh việc thực hiện tự chủ toàn diện theo chủ trương của Chính phủ.
- Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và ứng dụng các kết quả nghiên cứu
vào công tác khám chữa bệnh, công tác y tế dự phòng, sản xuất thuốc, vắc
xin, sinh phẩm, đào tạo, quản lý nhà nước và xây dựng chính sách.
- Rà soát và đề xuất những chính sách, giải pháp phù hợp để đảm bảo
chế độ đãi ngộ xứng đáng cho cán bộ y tế về làm việc tại miền núi, vùng sâu,
vùng xa, hải đảo, vùng khó khăn.
1.1.3. Thực hiện chính sách phát triển nhân lực ngành y tế
Thực hiện chính sách phát triển NLNYT là một khâu tổng hợp của chu
trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách
thành hiện thực, với đối tượng chính sách nhằm mục tiêu định hướng
Tổ chức thực hiện chính sách phát triển NLNYT là một khâu hợp thành
chu trình chính sách, nếu không thực hiện công đoạn này thì công đoạn chính
sách phát triển NLNYT không thể tồn tại. So với các khâu khác trong chu
trình chính sách phát triển NLNYT, tổ chức thực hiện chính sách có vị trí đặc
vũng, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên, tạo tiền
đề vững trắc để phát triển cao hơn trong gia đoạn sau”.
13
Ba là, đặt ra yêu cầu phải gắn kết chặt chẽ giữa phát triển NNL với phát
triển và ứng dụng khoa học, công nghệ. Đối với Việt Nam chúng ta, một nước
có xuất phát điểm thấp thì sự gắn kết này là yêu cầu nghiêm ngặt và phải
được đặc biệt coi trọng và mang ý nghĩa sống còn của sự nghiệp đổi mới đất
nước.
Tại Nghị quyết số 46-NQ/TW Đảng về công tác bảo vệ, chăm sóc và
nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã nhấn mạnh “sức khỏe là
vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội. Bảo vệ, chăm sóc và
nâng câo sức khỏe nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp đảm bảo NNL
cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc là một trong những chính sách ưu
tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư cho
phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ” và một lần nữa vai trò của đội
ngũ cán bộ y tế được khẳng định “Nghề y là một nghề đặc biệt, cần phải
được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt”. Mỗi cán bộ, nhân
viên y tế phải không ngừng nâng cao đạo đức nghề nghiệp và năng lực
chuyên môn, xứng đáng với sự tin cậy và tôn vinh của xã hội, thực hiện lời
dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là
người mẹ hiền”.
Kiện toàn đội ngũ cán bộ y tế cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu sắp
xếp lại mạng lưới, mở rộng và nâng cấp các cơ sở đào tạo, đáp ứng nhu cầu
về cán bộ y tế phù hợp với quy hoạch phát triển ngành; quy hoạch đào tạo
chuyên ngành y tế; tăng cường đào tạo theo hình thức cử tuyền cho miền núi
và vùng sâu, vùng xa, hải đảo; chú trọng đào tạo cán bộ quản lý y tế, nhất là
cán bộ quản lý bệnh viện; coi trọng việc đào tạo, sử dụng và đãi ngộ nhân tài
vào mục tiêu sử dụng NL của chính đơn vị đó. Việc tuyển dụng công chức,
viên chức cho ngành y tế cần phải xuất phát từ nhu cầu của tổ chức và theo
chức danh cần tuyển. Phương pháp tuyển dụng công chức, viên chức tại các
cơ sở y tế phổ biến hiện nay là thi tuyển công khai, công bằng, quy trình
tuyển dụng phải căn cứ vào các văn bản hướng dẫn hiện hành của Nhà nước.
15
Giải pháp sử dụng nhân lực ngành y tế
Sử dụng NLYT là nội dung quan trọng trong chính sách phát triển
NLYT. Việc xây dựng kế hoạch và tuyển chọn NL mới chỉ là cơ sở cần thiết
tạo khả năng hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ của cơ quan tổ chức, còn
việc sử dụng NL mới là yếu tố quyết định đến chất lượng và hiệu của hoạt
động của mỗi tổ chức. Sử dụng NL là công việc phức tạp vì nó luôn động
chạm đến những vấn đề về lợi ích của người lao động. Sử dụng NL phù hợp
sẽ tạo động lực để mỗi người lao động yên tâm phấn khởi để làm việc, tích
cực học tập để nâng cao trình độ và năng lực làm việc.
Sử dụng NL phải đảm bảo vừa ổn định, vừa cơ động. Có một đội ngữ
cơ cấu NL đủ về cố lượng, tốt về chất lượng và điều kiện để mỗi cơ quan, tổ
chức hoàn thành được những mục tiêu và kế hoạch đồng thời tạo sự phát triển
ổng định và bền vững đồng thời thích ứng nhanh với với sự thay đổi và tạo ra
nhiều ưu thế hơn cho tổ chức.
Trong chính sách sử dụng NLNYT, việc đánh giá NL là một yêu cầu và
một khâu quan trọng trong quản lý, sử dụng NL. Việc đánh giá chính xác các
hoạt động, các mức độ hoàn thành công việc của NL trong tổ chức, giúp các
nhà quản lý đưa ra phương án sử dụng, đãi ngộ, bổ nhiệm, đề bạt, khen
thưởng, kỷ luật một cách kịp thời và đúng đắn.
Giải pháp đào tạo, bồi dưỡng
Là giải pháp không thể thiếu cho chính sách PTNLNYT hiện nay. Tiến
trình đổi mới, phát triển và hội nhập đòi hỏi NL ở bất cứ cơ quan, tổ chức,
Minh, Nhà nước…..); Thầy thuốc ưu tú, Thầy thuốc nhân dân.
Bên cạnh chính sách tiền lương, thưởng và các đãi ngộ khác về vật
chất. Ngành y tế cần ban hành hoàn thiện hệ thống các chính sách hỗ trợ khác
để phát huy tiềm năng của người lao động như: tạo môi trường làm việc,
chính sách thi đua, khen thưởng, chính sách nghiên cứu khoa học, chế độ
thăng tiến…Nhà nước ban hành các chính sách này nhằm khuyến khích động
viên đội ngũ công chức, viên chức trong ngành y tế luôn luôn tự rèn luyện,
17
học tập trau dồi kiến thức, kỹ năng tay nghề, kỹ năng giao tiếp ứng xử, nâng
cao hiệu quả làm việc.
NL ngành y tế là một nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã
hội, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Phát triển NLNYT chất lượng cao cũng đang
là một vấn đề cấp thiết đối với việc bảo vệ và phát triển NNL xã hội ở nước ta
hiện nay
1.3. Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách phát triển
nhân lực ngành y tế ở nước ta hiện nay
Tổ chức thực hiện chính sách phát triển nhân lực ngành y tế là một
khâu hợp thành chu trình chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của
chủ thể chính sách thành hiện thực.
Tổ chức thực hiện chính sách phát triển nhân lực ngành y tế có vị trí
đặc biệt quan trọng, là bước hiện thực hoá chính sách vào đời sống xã hội.
Để có được chính sách phát triển nhân lực ngành y tế tốt, các nhà hoạch
định, xây dựng phải qua một quá trình nghiên cứu tìm kiếm công phu.
Nhưng dù tốt đến đâu thì chính sách cũng trở thành vô nghĩa nếu nó không
được đưa vào thực hiện.
Tổ chức thực hiện chính sách không tiến hành tốt dễ dẫn đến thiếu tin
tưởng, thậm chí có sự chống đối của nhân lực trong toàn ngành y tế
Tổ chức thực hiện chính sách phát triển nhân lực ngành y tế giúp bổ
vào thực tiễn cuộc sống là một quá trình phức tạp đầy biến động, chịu sự tác
động của nhiều yếu tố giúp các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính
sách có kinh nghiệm để đề ra được các giải pháp hữu hiệu trong thực hiện
chính sách.
Thực hiện chính sách phát triển nhân lực ngành y tế có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng. Điều này thể hiện ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, việc thực hiện chính sách phát triển nhân lực ngành y tế có
vai trò chuyển hóa ý chí của chủ thể ban hành chính sách thành hiện thực hay
cụ thể hơn là hiện thực hóa chính sách này vào đời sống xã hội. Xuất phát từ
19
các vấn đề nảy sinh về mặt thực tiễn, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành các văn
bản chính sách về đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên
ngành y tế. Tuy nhiên, các văn bản chính sách này nếu không được đưa vào
thực hiện thì chính sách sẽ trở thành vô nghĩa, không có giá trị thực tiễn,
không giải quyết được vấn đề thực tiễn nảy sinh. Thực hiện chính sách là
trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống.
Thứ hai, nếu chính sách phát triển nhân lực ngành y tế được thực
hiện tốt sẽ tạo động lực tích cực cho nhân lực ngành y tế làm việc hiệu quả,
gắn bó với cơ quan, giữ vững lập trường tư tưởng chính trị và nỗ lực hoàn
thành tốt nhiệm vụ cả về chuyên môm và thái độ. Ngược lại, nếu thực hiện
chính sách phát triển nhân lực ngành y tế không tốt thì sẽ tác động tiêu cực
đến động lực làm việc của nhân lực ngành y tế, tạo nên tâm lý chán nản,
không có động lực phấn đấu, nảy sinh những hành động cũng như thái độ
tiêu cực trong làm việc.
Thứ ba, thông qua việc thực hiện chính sách phát triển nhân lực ngành
y tế, các nhà hoạch định chính sách có thể phát hiện ra những vấn đề chính
sách nảy sinh trong quá trình thực hiện, từ đó có những điều chỉnh, bổ sung
cho phù hợp trong quá trình thực hiện chính sách. Trong trường hợp thực hiện
chinh sách sẽ thuận lợi và đạt hiệu quả cao đồng thời quá trình thực hiện xẽ
không phải điều chỉnh, bổ sung kế hoạch. Để xây dựng được kế hoạch thực
hiện chính chính sách hiệu quả đòi hỏi công chức, viên chức được giao thực
hiện nhiệm vụ có trách nhiệm tham mưu, phải hiểu, nắm chắc mục tiêu, nội
dung, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng, quy mô và tầm quan trọng của chính
sách phát triển NLNYT. Trên cơ sở đó xác định mục tiêu, nội dung, nhiệm
vụ, các nguồn lực (nhân lực và vật lực), thời gian và các giải pháp tổ chức
thực hiện.
- Phổ biến tuyên truyền chính sách
Việc phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách PTNLNYT giúp cho
công chức, viên chức và nhân viên ngành y tế (là đối tượng thụ hưởng trực
21