VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG HOÀI DINH
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC NGÀNH TÒA ÁN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TÂY NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI – 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG HOÀI DINH
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC NGÀNH TÒA ÁN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TÂY NINH
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐỖ PHÚ HẢI
HÀ NỘI - 2017
1.3.6. Điều chỉnh chính sách phát triển nhân lực ngành tòa án ...............................29
1.4. Vai trò, trách nhiệm của các chủ thể thực hiện chính sách phát triển nhân lực
ngành tòa án ..............................................................................................................32
1.4.1. Chủ thể chính sách phát triển nhân lực ..........................................................32
1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách phát triển nhân lực ngành Tòa án ........35
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
NHÂN LỰC NGÀNH TÒA ÁN TỪ THỰC TIỄN TỈNH TÂY NINH ..............39
2.1. Kết quả thực hiện mục tiêu chính sách phát triển nhân lực ngành Tòa án từ thực
tiễn tỉnh Tây Ninh .....................................................................................................39
2.1.1. Mục tiêu chính sách ........................................................................................39
2.1.2. Kết quả thực hiện mục tiêu chính sách ...........................................................41
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển nhân lực của Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh ......................................................................................................43
2.2.1. Đặc điểm, tình hình của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh ảnh hưởng đến tổ
chức thực hiện chính sách phát triển nhân lực .........................................................43
2.2.2. Kết quả triển khai các giải pháp, công cụ chính sách phát triển nhân lực ...45
2.3. Đánh giá chung về việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển nhân lực của tòa
án nhân dân tỉnh Tây Ninh ........................................................................................50
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN
LỰCTẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH ............................................57
3.1. Quan điểm, phương hướng hoàn thiện chính sách phát triển nhân lực ngành Tòa
án ...............................................................................................................................57
3.2. Mục tiêu hoàn thiện chính sách phát triển nhân lực tại Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh ....................................................................................................................58
3.3. Giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển nhân lực tại Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh ....................................................................................................................59
KẾT LUẬN ..............................................................................................................70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................75
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Phân tích chủ thể chính sách phát triên nguồn nhân lực tại tại Việt
Nam ................................................................................................................. 32
Bảng 1.2: Môi trường thể chế chính sách phát triển nguồn nhân lực ............ 34
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở bất cứ lĩnh vực nào, chế độ nào nhân tố con người hết sức quan
trọng, đóng vai trò quyết định để đạt được mục tiêu. Chủ tịch Hồ Chí Minh
trong tác phẩm "Sửa đổi lề lối làm việc" đã khẳng định: "Cán bộ là cái gốc
của mọi công việc - công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay
kém, có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong". Chính vì vậy, sự nghiệp cách mạng
hơn 70 năm qua, Đảng ta luôn đề ra chiến lược, nghị quyết để xây dựng chính
sách đào tạo, phát triển cán bộ.
Các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội đã đặt con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong sự nghiệp đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, con người và nguồn nhân lực là những
nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền
vững của đất nước. Đất nước ta đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới,
giai đoạn đẩy mạnh CNH – HĐH, giai đoạn "ra khỏi tình trạng kém phát
triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tạo nền tảng
để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng
hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ
tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế
thị trường, định hướng XHCN được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta
trên trường quốc tế được nâng cao" 37; tr. 159].
Nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng, quý giá không chỉ đối
với một quốc gia, dân tộc, mà còn có ý nghĩa quyết định đối với từng Bộ,
hoàn thiện hơn.
Với vị trí là một tỉnh biên giới, tình hình tội phạm ở tỉnh Tây Ninh diễn
biến rất phức tạp, luôn trong tình trạng báo động, nhất là các loại tội phạm
cướp giật, buôn lậu, ma túy, buôn bán người. Ngoài ra, với trình độ dân trí
2
thấp, tỉnh Tây Ninh cũng là khu vực có tỷ lệ cao các loại tệ nạn xã hội như
bạo lực gia đình, mại dâm, đánh đập hành hạ, mua bán phụ nữ trẻ em và các
tranh chấp dân sự phức tạp khác. Trong những năm gần đây, Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh đã thụ lý, giải quyết lượng án mỗi năm một tăng, năm sau cao
hơn năm trước. Mặc dù đạt được những thành tích đáng kể khi liên tục đảm
bảo tỷ lệ giải quyết án trung bình trên 95%, nhưng Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh vẫn còn tồn tại những khiếm khuyết như còn tình trạng án để quá hạn
luật định, tỷ lệ án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán còn cao. Một
trong những nguyên nhân đó là do thiếu hụt nguồn cán bộ công chức (Thẩm
phán) phục vụ cho công tác xét xử, khiến cho áp lực giải quyết án tăng cho
đội ngũ này. Điều này đã vô tình làm cho Thẩm phán phải giải quyết án chạy
theo số lượng để đảm bảo hoàn thành công tác, nên nghiên cứu hồ sơ án chưa
sâu và ưu tiên xét xử các vụ án dễ trước. Nhiệm vụ trong thời gian tới của Tòa
án nhân dân tỉnh Tây Ninh là cần có kế hoạch hoàn thành công tác tổ chức
cán bộ, để có thể thực hiện nhiệm vụ xét xử một cách tốt nhất, hướng tới công
cuộc cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước giao cho.
Điều đáng lo ngại nhất hiện nay là dòng chảy chất xám của ngành Tòa
án nhân dân tỉnh Tây Ninh đang diễn ra theo hướng bất lợi. Có sự chuyển
dịch nhân lực từ địa bàn tỉnh Tây Ninh sang các tỉnh khác trong nước, sang
khu vực nước ngoài có thu nhập cao và điều kiện để tiến thân - theo quy luật
“nước chảy về chỗ trũng”. Điều này đang tạo thành rào cản cho sự phát triển
của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu một chính sách
Các nghiên cứu về công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tòa án
Tác giả Đào Xuân Tiến với bài viết “Đào tạo thẩm phán” [45] đã khái
quát năng lực, trình độ chuyên môn của các thẩm phán.
Tác giả Phạm Mạnh Hùng với bài viết “Về vấn đề đào tạo nguồn để bổ
4
nhiệm các chức danh tư pháp ở Việt Nam” [27] đã phân tích tính đặc thù của
đào tạo nguồn để bổ nhiệm đối với các chức danh tư pháp như thẩm phán,
kiểm sát viên; có so sánh với công tác đào tạo của một số nước.
Tác giả Nguyễn Hữu Hậu với bài viết “Một số suy nghĩ về định hướng
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm sát trước yêu cầu cải cách tư pháp và hội
nhập quốc tế” [22] đã nêu lên những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện đào
tạo bồi dưỡng cán bộ kiểm sát viên.
Tác giả Phan Chí Hiếu “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chiến lược
đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp đến năm 2020” đã nêu lên cơ sở lý
luận xây dựng Chiến lược đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp đến năm
2020.
Ngoài ra còn có một số đề tài khoa học cấp cơ sở nghiên cứu về đào tạo
đội ngũ cán bộ tư pháp do Học viện Tư pháp tiến hành, với nhiều chủ đề khác
nhau như: “Những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn thẩm
phán”[24]; “Xây dựng chương trình đào tạo kiểm sát viên-Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn” [26]; “Đào tạo các chức danh tư pháp phục vụ công cuộc
cải cách tư pháp” [24]. Ngoài ra, ngành Toà án, Kiểm sát, trong phạm vi
chức năng, nhiệm vụ của ngành, cũng đã triển khai nghiên cứu các đề tài khoa
học về đội ngũ cán bộ của ngành như: “Đào tạo thẩm phán của Tòa án nhân
dân tối cao” do Toà án nhân dân tối cao thực hiện [52]. Nội dung của các đề
tài này, dưới nhiều góc độ, cách tiếp cận khác nhau, trên mức độ ít nhiều có
đề cập đến việc thực hiện chủ trương của Đảng về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
của từng ngành và chủ yếu đi sâu khái quát thực trạng và giải pháp nhằm
Nhà nước.
Các công trình nghiên cứu trên mặc dù đã góp phần hoàn thiện về mặt
lý luận và thực tiễn cho việc thu hút và phát triển nhân lực nói chung trên các
lĩnh vực, các ngành, trong đó có cả ngành Tòa án trong phạm vi cả nước. Tuy
6
nhiên, cho đến nay chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào đề cập đến chính
sách phát triển nhân lực cho ngành Tòa án tại tỉnh Tây Ninh. Xuất phát từ
những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Chính sách phát triển nhân lực ngành
tòa án từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh” để làm luận văn thạc sỹ chính sách công,
là một yêu cầu khách quan, cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận về phát triển nhân lực ngành tòa án ở Việt Nam để
có cơ sở lý thuyết nhằm phân tích, đánh giá chính sách, thực trạng thực hiện
chính sách phát triển nhân lực ngành Tòa án tại Tây Ninh trong những năm
qua và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách phát triển nhân
lực ngành Tòa án ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính sách phát triển nhân lực
ngành Tòa án ở Việt Nam hiện nay.
Khảo sát đánh giá chính sách và thực trạng thực hiện chính sách phát
triển nhân lực ngành Tòa án từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh, chỉ rõ ưu điểm, hạn
chế, bất cập và nguyên nhân của các hạn chế, bất cập.
Đề xuất, định hướng và các giải pháp hoàn thiện chính sách sách phát
triển nhân lực ngành Tòa án ở tỉnh Tây Ninh và ở Việt Nam hiện nay
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu chính sách phát triển nhân lực ngành Tòa án từ thực tiễn
văn tốt nghiệp, các bài báo, tạp chí có liên quan để làm tài liệu tham khảo.
+ Nguồn thông tin thứ cấp, chủ yếu sử dụng số liệu từ báo báo của Tòa
án nhân dân tỉnh Tây Ninh; Các báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao về việc
thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết 49- NQ/TW
8
ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020;
+ Nguồn thông tin sơ cấp: Sử dụng số liệu thông tin tự thu thập qua
việc điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu, xử lý và tổng hợp về chính sách phát
triển nhân lực ngành Tòa án trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.
Phỏng vấn 3 cán bộ ngành Tòa án tại tỉnh Tây Ninh, 1 lãnh đạo Tòa án
nhân dân tỉnh Tây Ninh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Một là, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách phát
triển nhân lực ngành Tòa án ở Việt Nam nói chung và Tòa án tỉnh Tây Ninh
nói riêng. Từ đó đặt ra vấn đề tại sao phải xây dựng chính sách phát triển
nhân lực ngành Tòa án cho tỉnh Tây Ninh.
Hai là, bằng các số liệu chứng minh, luận văn phân tích và làm sáng tỏ
thực trạng phát triển nhân lực ngành Tòa án của tỉnh Tây Ninh; Từ đó tìm
kiếm các giải pháp phù hợp với đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương,
nhằm mục đích xây dựng một chính sách nâng cao hiệu quả phát triển nhân
lực ngành Tòa án cho tỉnh Tây Ninh, phục vụ quá trình cải cách tư pháp từ
nay đến năm 2020.
7. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục
và các bảng biểu, luận văn chia làm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về chính sách phát triển nhân lực ngành Tòa án.
Theo Liên hiệp quốc “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến
thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm
năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”.
10
Theo Tổ chức lao động quốc tế “Nguồn nhân lực của một quốc gia là
toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động”.
Theo GS.TS Phạm Minh Hạc “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm
năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được
chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động
nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung)
bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao
động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Theo tác giả Nguyễn Đăng Thành : “Nguồn nhân lực là một khái niệm
tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người
lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như trong tương lai tiềm năng của mỗi
tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới”.
Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức,
một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội
(thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người thuộc các
nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con người biến thành nguồn vốn
con người đáp ứng yêu cầu phát triển.
Nguồn nhân lực theo cách tiếp cận mới có nội hàm rộng bao gồm các
yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến
thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hóa.
Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con người khó khăn phức tạp hơn
nhiều so với các nguồn lực khác bởi con người là một thực thể sinh vật - xã
hội, rất nhạy cảm với các tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh
thẩm nhân dân, Thư ký, Thẩm tra viên và các cán bộ khác.
Dựa trên Luật tổ chức Tòa án nhân dân (năm 2014), Luật cán bộ công
chức (năm 2008), Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tố tụng
hành chính, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm của Tòa án nhân dân (được
12
sửa đổi bổ sung năm 2011), ta có thể xác định rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ của
từng cán bộ công chức trong Tòa án như sau :
Thẩm phán: Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của
pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác
thuộc thẩm quyền của Toà án. Thẩm phán là người thực hiện quyền xét xử
chính tại một phiên tòa bên cạnh hội đồng xét xử gồm nhiều Thẩm phán, hoặc
Hội thẩm nhân dân (tùy thuộc theo tính chất phiên toà). Các loại Thẩm phán ở
hệ thống Tòa án nước ta bao gồm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thẩm
phán cao cấp, Thẩm phán trung cấp; Thẩm phán sơ cấp. Hệ thống các Thẩm
phán được phân loại theo từng khu vực như Tòa án nhân dân tối cao có Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án cấp cao có Thẩm phán cao cấp, Tòa án
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Tòa án nhân dân
cấp tỉnh), Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi
chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) có Thẩm phán trung cấp và Thẩm phán
sơ cấp. Số lượng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán trung cấp,
Thẩm phán sơ cấp do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Hội thẩm nhân dân: Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là sự thể hiện
nguyên tắc quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án, thể
hiện bản chất nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân của nước ta. Hội thẩm nhân dân là người được bầu hoặc cử
theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm
giữ, sắp xếp, chuyển hồ sơ; hướng dẫn, phổ biến cho đương sự; và làm những
công việc khác đảm bảo cho Thẩm phán Toà án thực hiện chức năng, nhiệm
vụ theo quy định của pháp luật [32].
Thư ký Tòa án có thể được phân công làm Thư ký phiên tòa. Thư ký
14
phiên tòa có nhiệm vụ ghi chép thành biên bản diễn biến của phiên toà; kiểm
tra sự có mặt của những người tham gia tố tụng được triệu tập đến phiên toà,
làm rõ lý do của những người vắng mặt và báo cáo danh sách đó cho Hội
đồng xét xử; ghi lại một cách đầy đủ trong biên bản phiên toà các diễn biến
tại phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc và cùng với chủ tọa phiên toà
ký vào biên bản đó [34,tr. 31].
Thẩm tra viên: Thẩm tra viên là công chức chuyên môn nghiệp vụ về
lĩnh vực thẩm tra các vụ án án hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính và lao
động; trực tiếp thực hiện việc thẩm tra các vụ án theo sự phân công của lãnh
đạo Toà án. Chức danh Thẩm tra viên được xác lập riêng cho đơn vị Toà án,
gồm ba ngạch Thẩm tra viên cao cấp, Thẩm tra viên chính và Thẩm tra viên.
Thẩm tra viên cao cấp là công chức chuyên môn nghiệp vụ cao nhất về
lĩnh vực thẩm tra án, giúp lãnh đạo Toà án nhân dân tối cao chủ trì tổ chức chỉ
đạo và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ thẩm tra các vụ án quan trọng, rất phức
tạp có liên quan đến nhiều lĩnh vực. Thẩm tra viên chính là công chức chuyên
môn nghiệp vụ cao về lĩnh vực thẩm tra án, giúp lãnh đạo Toà án nhân dân
chủ trì tổ chức và thực hiện nhiệm vụ thẩm tra các vụ án thuộc thẩm quyền
của Toà án cấp tỉnh trở lên. Thẩm tra viên là công chức chuyên môn nghiệp
vụ về lĩnh vực thẩm tra, giúp lãnh đạo Toà án nhân dân từ cấp huyện trở lên,
trực tiếp thực hiện việc thẩm tra các vụ án theo sự phân công của lãnh đạo
Toà án. Từ ngạch Thẩm tra viên này sang ngạch Thẩm tra viên ngạch cao hơn
phải được thi tuyển chứ không phải cứ đến hạn lại lên như trong cùng một
ngạch công chức [58]
đặt ra hiện nay và phải cần giải quyết bằng chính sách của Nhà nước được
luận giải bởi các mục tiêu sau: Nguồn nhân lực Tòa án nhân dân được coi là
động lực quan trọng quyết định cho sự thành công của công cuộc cải cách tư
pháp. Một nguồn nhân lực đủ và giỏi để có thể đáp ứng được công tác xét xử,
16
bảo vệ pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả
với tội phạm mới. Trong đó, đội ngũ Thẩm phán là những người trực tiếp giải
quyết, xét xử các loại vụ án và thực hiện quyền tư pháp, đây cũng là biểu hiện
của nền công lý của quốc gia. Do đó, họ được xã hội thừa nhận có địa vị pháp
lý cao và được tôn trọng là phù hợp với tiến bộ xã hội và phù hợp với xu thế
hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, để đạt được những mục tiêu đó, phải phụ thuộc
vào cách thức và phương thức khai thác nguồn nhân lực có trình độ cao này.
So sánh với các nguồn nhân lực khác, đội ngũ nhân lực ngành tòa án
nhân dân mang đầy đủ tính chất, đặc điểm, vai trò chung của nguồn nhân lực.
Điểm khác biệt là nguồn nhân lực này thuộc về cơ quan tư pháp nên có những
đặc điểm riêng biệt khác như :
- Thứ nhất là có trình độ cao, đa phần là cử nhân Luật được đào tạo
bài bản tại các trường đại học trong nước.
- Thứ hai, nguồn nhân lực từ đủ 18 tuổi đến 60 tuổi, có sức khoẻ hoàn
thành nhiệm vụ được giao như có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, ngoài thể
lực cần thiết, còn bao gồm yếu tố ngoại hình, đó là không có dị tật, dị hình
ảnh hưởng trực tiếp đến tư thế hoặc việc thực hiện nhiệm vụ.
- Thứ ba là có tác phong nghiêm túc, ăn mặc gọn gàng, thái độ lịch
sự, nhã nhặn khi tiếp công dân.
- Thứ tư là phải có tinh thần hết lòng phục vụ nhân dân, đảm bảo cán
cân công lý, dám đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, tích cực
trau dồi kiến thức để áp dụng vào công tác chuyên môn nhằm đạt hiệu quả
nhanh, gọn và chính xác.
nghĩa và mở cửa hội nhập quốc tế. Một điều tất yếu là, khi nền kinh tế thị
trường ngày càng hoàn thiện, tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau thì
số lượng các quan hệ xã hội, giao lưu kinh tế diễn ra ngày càng phong phú và
đa dạng hơn, trình độ dân trí, trình độ pháp luật của nhân dân ngày càng cao
18