VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIỆU THỊ HỒNG NHẤT
TRANH THỜ TRONG ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG
CỦA NGƯỜI DAO Ở HUYỆN LỤC YÊN TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIỆU THỊ HỒNG NHẤT
TRANH THỜ TRONG ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG
CỦA NGƯỜI DAO Ở HUYỆN LỤC YÊN TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 60 31 06 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐOÀN THỊ TUYẾN
HÀ NỘI, năm 2017
hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình. Những nhận xét và góp ý của cô đã giúp
tôi khắc phục những hạn chế, thiếu sót để hoàn thành luận văn này.
Xin được cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi của các đồng chí
lãnh đạo bảo tàng tỉnh Yên Bái, huyện Lục Yên, các thầy cúng ở xã Tân
Phượng, Khai Trung, Tân Lĩnh, Phúc Lợi, gia đình ông Phùng Xuân Nhị xã Tân
Phượng, gia đình ông Phùng Kim Phú xã Khai Trung và đặc biệt cảm ơn ông
Triệu Đức Tâm xã Tân Phượng, ông Đặng Hữu Thanh xã Đại Sơn huyện Văn
Yên đã tạo điều kiện thuận lợi mọi mặt trong thời gian tôi thực hiện nghiên cứu
tại địa bàn.
Cuối cùng, tôi xin dành lời cảm ơn sâu sắc đến những người thân trong
gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn quan tâm, động viên và khích lệ tôi
trong suốt quá trình học tập cũng như trong nghiên cứu khoa học.
Trân Trọng!
Hà Nội, tháng 02 năm 2017
Tác giả luận văn
Triệu Thị Hồng Nhất
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Những tư liệu tham khảo chỉ dùng để làm rõ vấn đề nghiên cứu của
luận văn đồng thời có trích dẫn rõ ràng. Nếu có gì sai, tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm.
Tác giả luận văn
Triệu Thị Hồng Nhất
MỞ ĐẦU
trò và ý nghĩa của nó trong đời sống người dân. Về ý nghĩa thực tiễn, nghiên
cứu tranh thờ sẽ cho thấy một bức tranh văn hóa truyền thống đa dạng, phong
phú của người Dao, từ đó, góp phần vào việc thực hiện Nghị quyết Trung
ương 5 khóa 8 của Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đạm đà
bản sắc dân tộc và Nghị quyết và Nghị quyết Trung ương 9, khóa 11 năm
2014 của Đảng về xây dựng văn hóa và con người Việt Nam trong sự nghiệp
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong khi các thực hành văn hóa truyền thống khác của người Dao như
lễ cấp sắc, nhà cửa, trang phục, dòng họ, hôn nhân, gia đình, tang ma, nghi lễ
vòng đời và tín ngưỡng đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu,
văn hóa nghệ thuật dân gian, bao gồm không chỉ tranh thờ mà còn dân ca, dân
nhạc, dân vũ của người Dao còn chưa hoặc ít được tìm hiểu.
Là một người con của dân tộc Dao, đang theo học tại khoa văn hóa học
và đặc biệt quan tâm tới mảng nghệ thuật dân gian, học viên mạnh dạn đề
xuất nghiên cứu: “Tranh thờ trong đời sống tín ngưỡng của người Dao ở
huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái” làm đề tài tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nói đến lịch sử nghiên cứu về văn hóa ở Việt Nam thì đây là một vấn
đề khá rộng và đã được quan tâm từ rất sớm. Khi thực dân Pháp xâm lược
Việt Nam, người Pháp đã có nhiều ghi chép về văn hóa Việt Nam nói chung
và của các dân tộc thiểu số nói riêng. Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XX thì văn
hóa Việt và đặc biệt là văn hóa các dân tộc thiểu số mới thực sự lôi cuốn các
nhà khoa học vào cuộc và văn hóa dân tộc Dao cũng không nằm ngoài sự
quan tâm đó. Nghiên cứu về dân tộc Dao đã có rất nhiều tác giả thực hiện và
công bố trên các tạp chí khác nhau như Dân Tộc học, Nghiên cứu lịch sử và
một vài tạp chí chuyên ngành khác.
2
Về tên gọi, lịch sử thành phần tộc người, quá trình di cư, các thực hành tín
trong những công trình nghiên cứu này có thể không đúng với tất cả tộc người
Dao ở Việt Nam; người Dao ở địa phương này có thể có những đặc điểm khác
biệt với người Dao ở các địa phương khác.
Ngoài những công trình nghiên cứu như đã nêu ở trên, riêng về mảng
tranh thờ, đã được một số tác giả đi sâu nghiên cứu. Có thể kể đến một số
cuốn sách tiêu biểu như:
Cuốn Tranh thờ đạo giáo ở Bắc Việt Nam của tác giả Phan Ngọc Khuê
(2001) do Nhà xuất bản Mỹ Thuật công bố. Tác giả là một họa sĩ. Ông là một
cán bộ làm công tác nghiên cứu mỹ thuật lâu năm. Đặc biệt là mỹ thuật cổ
truyền của các dân tộc ít người. Tác giả Phan Ngọc Khuê từng có nhiều năm
sinh sống và nghiên cứu về mỹ thuật của các dân tộc vùng núi phía Bắc.
Tranh Đạo Giáo là một vấn đề khá rộng và hấp dẫn đối với ông. Trong cuốn
sách này tác giả đã trình bày tóm lược những nét cơ bản về nghệ thuật của
tranh Đạo giáo nói chung ở phía Bắc Việt Nam. Trên cơ sở của các tư liệu đã
sưu tầm, tác giả trình bày vấn đề rất đơn giản nhưng mạch lạc, giúp cho người
đọc dễ dàng nắm bắt nội dung. Tác giả đưa vào trong cuốn sách từng bức
tranh của các dân tộc khác nhau, trình bày chi tiết tiểu sử của nhân vật trong
bức tranh đó nhằm giúp người xem hiểu rõ hơn về ý nghĩa của việc thờ các
nhân vật trong tranh.
Ngoài tác phẩm tiêu biểu nêu trên, tác giả Phan Ngọc Khuê còn có một
bài viết trình bày chi tiết về tranh thờ của người Dao, đăng trong cuốn kỷ yếu
Hội thảo quốc tế: Sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và
tương lai, do Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia xuất bản năm
1998. Bài viết của tác giả có tiêu đề Tranh thờ của người Dao ở Bắc Bộ Việt
Nam. Trong bài viết này, tác giả Phan Ngọc Khuê đã trình bày rất cụ thể, chi
tiết về tranh thờ; ông đặt tranh thờ của người Dao trong sự so sánh với các
4
dân tộc khác như Tày và Cao Lan, phân biệt rõ đặc điểm tiêu biểu của tranh
người Dao. Theo như tác giả Frederick Farris nhận xét thì: “Sự sùng bái thần
linh và sức sống mãnh liệt của linh hồn tạo ra nhu cầu cho những suy nghĩ,
bùa chú và các bức tranh thiêng liêng. Theo thần thoại Hy Lạp, không phải
con người sinh ra để đại diện cho các Thánh thần mà chính con người mới là
nguyên mẫu cho họ. Sự tồn tại song song của vật chất và ý thức, linh hồn và
thể xác, suy nghĩ và thực tại chính là nhân tố để người dân tộc thiểu số miền
núi phía Bắc vẽ lên những bức tranh mang tính nghi lễ của Đạo giáo” [04,
tr.11]. Khoảng 300 bức tranh tiêu biểu nhất của cuốn sách đã được lựa chọn
và đưa ra triển lãm.
Cũng đề cập về chủ đề tranh thờ, tác giả Chu Xuân Giao (2016) gần
đây có bài viết Hệ thống thờ Tứ Phủ trong tín ngưỡng của người Dao đăng
trên Tạp chí Văn hóa dân gian. Bài viết mặc dù không đi quá sâu phân tích
tranh thờ, tác giả cũng đã chỉ ra một đặc điểm của Tứ Phủ của người Dao thể
hiện trong kinh sách, trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng của họ và so sánh
với việc thờ Tứ Phủ ở nhóm người Kinh.
Tóm lại, nghiên cứu về văn hóa người Dao nói chung và tranh thờ nói
riêng, mặc dù đã có nhiều tác giả đã tìm hiểu, nghiên cứu song chưa có công
trình chuyên sâu nào giới thiệu về thực trạng tranh thờ trong bối cảnh thực
hành đời sống của người Dao; cách thờ tranh hiện nay được quan tâm và sử
dụng như thế nào? các ứng xử và thực hành liên quan đến nó hiện nay ra sao
và có những vấn đề nào đang đặt ra đối với tranh thờ.... dường như vẫn còn là
một khoảng trống, chưa được giới nghiên cứu đề cập một cách tương xứng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.
Mục đích nghiên cứu
6
chép lại những lời kể của thầy tào và người dân ở huyện Lục Yên và Văn Yên (chỉ
phỏng vấn 1 họa công ở Văn Yên bởi vì họa công này được người dân ở Lục Yên
rất tin tưởng và đặt vẽ tranh). Quá trình thâm nhập thực địa, tiếp xúc và trò chuyện
với người dân địa phương đã giúp chúng tôi có được nguồn tư liệu phong phú, tạo
cơ sở quan trọng để hoàn thiện luận văn.
Bên cạnh đó, để có cái nhìn bao quát đối với chủ đề nghiên cứu, chúng
tôi còn tiến hành tổng thuật các tài liệu có liên quan đã công bố, bao gồm:
sách/báo/tạp chí và các đề tài luận văn, luận án. Các hiện vật ở bảo tàng trung
ương và địa phương cũng được chúng tôi quan tâm tìm hiểu.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1.
Ý nghĩa lý luận
Đề tài luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về Tranh thờ trong
đời sống của người Dao ở huyện Lục Yên. Thông qua nội dung nghiên cứu,
luận văn cho chúng ta biết được thực trạng và cách thức sử dụng tranh thờ
hiện nay. Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tư liệu giúp
người đọc có được một hiểu biết đầy đủ và sâu sắc hơn về tranh thờ của người
Dao tại huyện Lục Yên và Việt Nam nói chung.
6.2.
Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo dành cho các nhà quản lý
văn hóa và những ai quan tâm tới chủ đề tranh thờ của người Dao; góp phần
vào công tác quản lý, bảo vệ, gìn giữ và phát huy những giá trị của tranh thờ
gắn với một tộc người cụ thể.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài luận
Hán là Dao Nhân, tức là người Dao. Hoặc, tự xưng là Kiềm Miền hay Kiềm
Mùn, viết và đọc phiên âm theo chữ Hán là sơn nhân, có nghĩa người ở rừng/núi.
Ở nước ta, người Dao được chia thành nhiều nhóm với những nét riêng về phong
tục tập quán và thể hiện rõ nhất qua trang phục. Đó là: Dao Đỏ (Đại Bản), Dao
Tiền (Tiểu Bản), Dao Quần chẹt, Dao Lô Gang và Dao Áo Dài.
Trong quá trình di cư và sinh sống, do cư trú riêng theo bản làng độc
lập hoặc sống xen kẽ với một hoặc nhiều tộc người khác, người Dao hiện nay
có nhiều nhóm ở địa phương và giữa họ không hiểu tiếng nói của nhau, phải
dùng đến ngôn ngữ tiếng Kinh để giao tiếp.
10
Câu chuyện lịch sử viết bằng thơ Đặng Hành và Đại Bàn Hồ, về quá
trình di cư của người Dao tới Việt Nam kể rằng: tổ tiên của họ sinh sống lâu
đời ở đất Quảng Đông (phía Nam Trung Quốc), khoảng cuối thế kỷ II trước
Công Nguyên. Theo tác giả Phan Ngọc Khuê, Tranh thờ đạo giáo ở Bắc Việt
Nam (2001) viết: “Có trường hợp chỉ rõ là khu vực Động Đình Hồ (tỉnh Hồ
Nam). Cứ liệu khảo cổ học cho hay nơi đây và khu vực láng giềng, thời đồ
đồng, đồ đá, đã phát hiện một nền nông nghiệp dùng cuốc với rìu có vai, khác
với nền văn hóa Ngưỡng Thiều (R.F.Ito. 1960). Chủ nhân là những bộ lạc gọi
chung là Tam Miêu hay Miêu Dân. Về sau họ ly tán xuống Quảng Tây, Quảng
Đông. Đến thời Tần – Hán (thế kỷ II – II trước Công Nguyên) trong thư tịch
không còn thấy xuất hiện tên gọi Tam Miêu nữa, mà xuất hiện nhiều tộc danh
mới như Man, Di, Việt...kế đó là Man Dao, Man Mieu”.
Còn theo ông Trương Hữu Tuấn, Viện trưởng Viện nghiên cứu Dân
Tộc Học, Học Viện Dân Tộc Quảng Tây, Phó chủ tịch Hội người Dao Trung
Quốc, trong một tranh luận tại Hội nghị quốc tế về người Dao, họp tại Thái
Nguyên, tháng 12 – 1995 cho rằng: Thời kỳ Đường Tống, người Dao sống
chủ yếu ở tỉnh Hồ Nam có một bộ phận sống ở miền Bắc Lưỡng Quảng. Thời
Nguyên (1280 – 1369) trung tâm cư trú của người Dao bắt đầu di chuyển về
Đông Bắc người Dao cư trú ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang và
Hà Giang. Tỉnh Bắc Kạn có 4 huyện có Dao Tiền sinh sống và đông nhất là 2
huyện Ba Bể và Ngân Sơn.
Trước đây, người dao ở nước ta sinh sống chủ yếu bằng phương thức
canh tác nương rẫy và thường du cư từ nơi này tới nơi khác. Ngày nay, người
Dao đã kết hợp làm ruộng, trồng rừng, trồng cây ăn quả và chăn nuôi; chỉ có một
số ít còn làm nương rẫy. Đa số làng của người Dao nay đã định cư, có kinh tế
khá ổn định, đời sống vật chất và tinh thần không ngừng được cải thiện.
12
Người Dao có nền văn hóa lâu đời và phong phú. Đó là các hình thức
sinh hoạt ca hát, các loại truyện cổ, những điệu múa dân gian trong dịp tết
Nguyên đán và lễ cấp sắc, các loại hoa văn trang trí thêu thùa, kho tàng tri
thức dân gian về thời tiết, chữa bệnh,... Tuy sống phân tán, nhưng người Dao
rất trân trọng giá trị văn hóa cổ truyền, luôn quan tâm truyền dạy và tạo điều
kiện kế thừa, phát huy những đặc trưng văn hóa của mình. Một trong những
điều kiện quan trọng đồng bào trao truyền và bảo lưu những giá trị văn hóa từ
thế hệ này sang thế hệ khác là việc duy trì các nghi lễ vòng đời, các nghi lễ
sinh đẻ, cấp sắc, cưới xin, và tang ma là những nghi lễ chủ yếu, bởi vì ai cũng
phải trải qua một lần. Nhờ vậy, trong điều kiện hiện nay là đoàn kết, bình
đẳng và giao lưu với các dân tộc anh em, nền văn hóa của người Dao vốn đa
dạng và phong phú lại càng trở nên đa dạng, phong phú hơn.
Trải qua hàng ngàn năm ly tán trong không gian rộng lớn người Dao đã
xây dựng nên một tục lệ chung của dân tộc Dao là thờ Bàn Vương - thủy tổ
của dân tộc, mang tinh thần tôn giáo nghiêm ngặt nhằm củng cố và mở rộng
huyết thống của cộng đồng người Dao.
1.2. Người Dao ở Yên Bái và huyện Lục Yên
1.2.1. Người Dao ở Yên Bái
Dao này có tục chải tóc bằng sáp ong nên gọi là Dao Sơn Đầu. Đặc điểm
trang phục của Dao quần trắng là ở chiếc yếm, sử dụng để che kín cả phần
ngực và bụng. Người Dao Quần Trắng mặc quần màu trắng trong lễ cưới.
Cuối cùng, Dao Làn Tuyển mặc áo dài, đội mũ nhỏ như cái đấu gỗ.
Giữa các nhóm Dao ở đây cũng có sự khác biệt tương đối về tiếng nói,
do đặc điểm cư trú đưa lại. Tuy nhiên họ đều thuộc nhóm ngôn ngữ H’mông –
Dao (ngôn ngữ Nam Á) và có chung tục thờ Bàn Vương. Ngày nay, trong
cộng đồng người Dao vẫn lưu truyền phổ biến câu chuyện về Bàn Hồ.
14
Chuyện kể rằng xưa có hai vị Cao Vương và Bình Vương cầm đầu hai
nước đánh nhau không phân thắng bại. Một lần Cao Vương uy hiếp thành
công Bình Vương. Bình Vương rất lo sợ liền tuyến bố sẽ gả công chúa cho ai
có thể đánh thắng được giặc. Không một viên tướng nào dám nhận. Sau đó,
bỗng nhiên xuất hiện một người tự xưng là Bàn Hồ đến xin đánh mà không
cần dùng quân lính. Cực chẳng đã, Bình Vương buộc phải bằng lòng. Bàn Hồ
đi tới thành của Cao Vương, biến thành con chó, canh một tới chân thành,
canh hai vào thành tới chỗ Cao Vương. Thấy chó quý đến, Cao Vương cho
rằng có điềm lành, bèn giữ lại, luôn cho theo bên mình. Một hôm, Cao Vương
quá chén, rượu say bất tỉnh, Bàn Hồ bèn chém đầu và đưa về dâng cho Bình
Vương. Thắng trận, Bình Vương mặc dù không muốn gả con gái cho Bàn Hồ
song, vì đã chót hứa nên đành phải giữ lời. Đôi vợ chồng Bàn Hồ trở về núi
Nam Sơn và sinh sống ở trong động. Sau ba năm, vợ chồng Bàn Hồ sinh được
6 người con trai, 6 người con gái, kết hôn với nhau và thành thủy tổ 12 dòng
họ của người Dao hiện nay. Vợ chồng Bàn Hồ cùng con cái sau đó trở về
thăm bố vợ. Thương các cháu, Bình Vương ban cho các cháu áo, quần (váy),
sặc sỡ. Tuy nhiên, vợ chồng và con cái của Bàn Hồ không quen ở đất bằng,
họ xin trở về núi sinh sống. Nhà vua phong cho làm Bàn Vương, cấp cho Bình
Bái) và phía Bắc giáp Quang Bình (Hà Giang) và Bảo Yên (Lào Cai). Huyện
Lục Yên có diện tích tự nhiên là 808,7 km2 bằng 11% diện tích tự nhiên của
tỉnh Yên Bái, sếp thứ 4/9 so với 9 huyện của tỉnh về quy mô đất đai. Toàn
huyện có 23 xã và 1 thị trấn. Đây là cửa ngõ phía Bắc của tỉnh Yên Bái, nối
cửa khẩu Lào Cai với Yên Bái, Hà Nội với cả nước.
Về địa hình, huyện Lục Yên thuộc khu vực miền núi, bị chia cắt bởi 2
dãy núi chính chạy dọc theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, tạo ra các thung
lũng, bồn địa bằng phẳng là nơi tập chung sản xuất và sinh sống lâu đời của
16
nhân dân các dân tộc trong huyện. Nơi đây có đất đai phì nhiêu khá thuận lợi
cho sản xuất nông nghiệp.
Lục Yên nằm trong tiểu vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai
mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng
4 năm sau. Nhiệt độ trung bình từ 22oC đến 24oC, nhiệt độ cao nhất 39oC –
41oC thấp nhất 1 - 2oC. Lượng mưa trung bình trong năm tương đối lớn từ
1500 – 2500mm tập chung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10.
Thời tiết khí hậu huyện Lục Yên chỉ thích ứng với việc phát triển nông
lâm nghiệp. Ở đây người dân trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất, trồng cây
công nghiệp (chè), cây ăn quả (cam, quýt, hồng không hạt) và các loại cây
đem lại lợi ích kinh tế khác như măng Mai. Sản phẩm măng khô của Lục Yên
đã được bán ở khắp các vùng miền trong cả nước …
Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước,
huyện Lục Yên đã được đầu tư xây dựng nhiều hạng mục cơ sở hạ tầng:
100% các xã trong huyện đều đã có trạm xá, điện thắp sáng, đường xe ôtô tới
trụ sở Ủy Ban Nhân Dân và trường học đến cấp Trung học cơ sở.
Theo số liệu thống kê gần nhất, tốc độ tăng trưởng bình quân ở huyện
Lục Yên là 13,76%. Mức thu nhập bình quân đầu người từ 5-6 triệu đồng.
nông nghiệp. Một số ngành nghề thủ công cũng phát triển như dệt vải, nhuộm
chàm, in và thêu hoa văn trên vải. Một số nghề đan lát các dụng cụ để đựng bằng
che, nứa, mây, giang song. Nghề rèn của người Dao cũng phát triển, chủ yếu là
sản suất ra các công cụ phục vụ cho công việc sản suất như: dao, cuốc cào cỏ,
lưỡi cày,... Các hoạt động trao đổi, mua bán chưa thực sự trở thành loại hình
kinh tế quan trọng nhưng cũng giúp cải thiện đời sống của nhiều người dân.
Nhà ở của người Dao ở Lục Yên cũng giống như người Dao ở những
nơi khác, chủ yếu là nhà đất, nhà hình chữ nhật và thường có hai mái, trong
18
nhà có từ 3 đến 5 gian và bàn thờ được đặt ở gian giữa. Vật liệu làm nhà của
người Dao chủ yếu bằng gỗ, khai thác từ những khu rừng gần nơi cư trú.
Về trang phục, người Dao ở huyện Lục Yên cũng có trang phục giống
như người Dao của tỉnh Yên Bái. Cách nhận diện và phân biệt các nhóm tộc
người chủ yếu là dựa vào trang phục của họ. Người Dao Đỏ của huyện Lục
Yên là Dao Đại Bản, trang phục của họ là chiếc áo dài. Họ không mặc áo
ngắn. Áo tứ thân màu chàm hoặc màu đen, không khoét nách mà tay đấu
thẳng vào thân áo, nẹp ngực được thêu họa tiết với màu chủ đạo là màu đỏ,
chủ yếu là những sợi chỉ với gam màu đỏ (nhiều nhất), vàng, xanh,...thêu trên
nền vải màu đen. Dao Họ, còn được gọi là Dao Quần Trắng; trang phục của
họ mặc bó sát, áo dài qua hông, quần dài đến đầu gối và bó sát đùi, chân quấn
xà cạp.
Theo các nhà dân tộc học, trang phục dân tộc Dao nói chung và trang
phục dân tộc Dao Đỏ nói riêng thể hiện trên những họa tiết là hình con chó và
nhiều màu lá bởi nó gắn liền với sự tích về Bàn Hồ hóa thân thành con Long
khuyển ngũ sắc vào thành giết Cao Vương để giúp Bình Vương giữ được đất
nước. Mặc trang phục nhiều màu sắc như vậy là để tưởng nhớ và biết ơn Bàn
Hồ. Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng, quần áo của tộc người Dao sặc sỡ là
Đạo Phật, cộng với những biến thể do bị thêm bớt của từng địa phương khác
nhau. Tranh thờ có bố cục lạ: hẹp, dài với dày đặc hình ảnh của các vị thần
linh. Các nhân vật thần chủ này lại tuân theo một quy tắc xã hội nhất định: Ai
có quyền năng cao được vẽ to, chiếm vị trí trung tâm và với các vị thần ít
quyền thì được vẽ đơn giản, nhỏ. Màu sắc tranh thờ là màu tự nhiên, ít pha
trộn như đỏ, vàng, trắng, đen, xanh lá cây,... đâu đó các họa công còn dùng cả
vàng lá, bạc lá, bạc thếp để thêm vào tranh tạo sự quyện ấm tươi tắn cho bức
tranh – có thể dễ dàng đoán được những màu ấy trong tranh, mang tính ước
lệ, biểu trưng nhiều hơn là tả thực.
20