Trường THCS Quảng Lưu Kế hoạc cá nhân_bộ môn
KẾ HOẠCH NĂM HỌC 2008-2009
GIÁO VIÊN: ĐINH THẾ HÀ
TỔ: TOÁN _LÍ_CN
Phần I: Căn cứ để xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học
A.Các văn bản chỉ đạo: Căn cứ vào chỉ đạo của trường và tổ chuyên môn
B. Đặc điểm tình hình.
1. Thuận lợi:
-Đội ngũ giáo viên trong trường đa số còn trẻ,năng động va có tinh thần nhiệt huyết với nghề.Có tinh thần đoàn kết
giúp đỡ đồng nghiệp
- Đa số học sinh ở trường có SGK để học môn vật lý
- Chương trình vật lý đã có sự thay đổi phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh
- Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo nên việc dạy và học của học sinh và GV có nhiều thuận lợi
- Giáo viên được tham gia đầy đủ vào các lớp thay SGK môn vật lý THCS và có tài liệu về phương pháp tích cực.
- Thiết bị đồ dùng phục vụ cho việc học tập tương đối đầy đủ giúp cho sự truyền thụ kiến thức của giáo viên được dể
dàng hơn đồng thời gây được nhiều hứng thú tìm tòi giúp cho học sinh lĩnh hội kiến thức dể dàng hơn.
2. Khó khăn:
-Phần lớn các em đều là con nhà nông nên hoàn cảnh của các em cũng gặp rất nhiều khó khăn,nhất là thiếu sự quan tâm
của phụ huynh nên việc học hành của các em còn lơ là,chưa chú trọng đầu tư nhiều vào học tập.
- Sách tham khảo phục vụ cho việc giảng dạy của GV còn rất hạn chế.
- Thiết bị đồ dùng dạy học cung cấp chưa kịp thời và chất lượng của thiết bị còn kém và chưa đồng bộ (đặt biệt là thiết
bị phục vụ môn vật lý 6-7) .Một số thiết bị còn thiếu.
- Trường chưa có phòng học riêng của bộ môn nên việc chuẩn bị tiết dạy cho GV đặt biệt là những tiết có thực hành
thí nghiệm còn nhiều khó khăn.
-Kết quả đạt được trong năm học 2007-2008:
Giáo viên: Đinh Thế Hà
1
Trường THCS Quảng Lưu Kế hoạc cá nhân_bộ môn
Về giáo viên: Đạt danh hiệu thi đua: Hoàn thành nhiệm vụ
Về HS: Khối 7: tổng số HS trung bình trở lên:
Khối 8: tổng số HS trung bình trở lên:
đinh trong chương trinh SGK để có sự điều chỉnh phù hợp với quá trình dạy học của mình.Nếu như trong chương trình
có tiết học còn quá nặng thì có thể chia nội dung ra làm 2 tiết khác nhau và tổ chức phụ đạo vào một buổi khác cho HS
ngoài buổi học chính.
+ Thiết kế bài giảng khoa học, sắp xếp hợp lý hoạt động của giáo viên và học sinh, thiết kế hệ thống câu hỏi hợp lý, tập
trung vào trọng tâm, vừa sức tiếp thu của học sinh (nhất là đối với bài dài, bài khó, nhiều kiến thức mới); bồi dưỡng
năng lực độc lập suy nghĩ, vận dụng sáng tạo kiến thức đã học, tránh thiên về ghi nhớ máy móc không nắm vững bản
chất kiến thức;
+ Trong quá trình dạy học, cần kết hợp một cách hợp lý hình thức tự luận với hình thức trắc nghiệm khách quan trong
KTĐG kết quả học tập của học sinh, chuẩn bị tốt cho việc đổi mới các kỳ thi theo chủ trương của Bộ GDĐT.Trong bài
kiểm tra 15ph có thể thay đổi theo phương pháp trắc nghiệm,giúp học sinh làm quen hơn với phương pháp này.
+Phương pháp giảng dạy theo đường hướng “Lấy người học làm trung tâm” cần được tăng cường và phát huy tốt
hơn .Có như vậy dần dần học trò sẽ hình thành thói quen suy nghĩ một cách chủ động, độc lập sáng tạo và biết chia sẻ
những suy nghĩ của mình với người khác. Giáo viên cũng có thể nêu trước vấn đề và cho học trò về nhà tự nghiên cứu
từ sách giáo khoa và sách tham khảo khác về vấn đề đó để đến buổi học trên lớp sau đó học trò thảo luận và tranh luận
với nhau trong cặp và trong nhóm.
+ Để khuyến khích học sinh tham gia tích cực hoạt động nhóm trong và ngoài lớp học, cần có phần chấm điểm cho
hoạt động nhóm của từng học sinh.Điểm môn học nên chiếm 70% và điểm hoạt dộng nhóm nên chiếm 30% tổng điểm
kết quả cuối kỳ của môn học đó.Điểm này nên để mỗi học sinh cho điểm các thành viên trong nhóm và gửi kín cho
giáo viên để tính điểm chung bình chung
2.2 Nâng cao chất lượng giáo dụng toàn diện:
2.2.1 Giáo dục hạnh kiểm
+Trước hết mỗi GV phải là một tấm gương sáng cho học sinh noi theo.Giữa GV và HS phải xây dựng được mối quan
hệ thân thiện với nhau. Mối quan hệ thầy trò sẽ gần gũi hơn, thoải mái hơn. Người thầy cần học cách lắng nghe ý kiến
của học sinh và biết chấp nhận những ý kiến “đối lập” và cũng có thể hoàn thiện kiến thức thêm nhờ tranh luận với học
trò. Người thầy có thể lấy ý kiến đánh giá của học trò thông qua các phiếu điều tra không ghi tên để không ngừng tự
hoàn thiện mình
+ GV viên trong toàn trường phải cùng nhau kết hợp và kịp thời uốn nắn những biểu hiện vi phạm đạo đức của HS.Có
như vậy mới tránh được cho HS sự sai lệch về đạo đức và nhưng vi phạm trong lứa tuổi này.
2.2.2 Giáo dục văn hóa
Giáo viên: Đinh Thế Hà
Để thực hiện cuộc vận động: “Mỗi thầy giáo,cô giáo là một tấm gương tự học và sáng tạo” và thực hiện cuộc vận động
“ hai không” thì mỗi GV phải được tiếp tục bồi dưỡng tư tưởng về chính sách kinh tế-chính trị-giáo dục của Đảng và
Nhà nước.Tăng cường số GV đạt chuẩn và trên chuẩn nhamef nâng cao chất lượng đội ngũ GV hơn nữa.
5.Công tác xây dựng CSVC trường học:
Giáo viên: Đinh Thế Hà
4
Trường THCS Quảng Lưu Kế hoạc cá nhân_bộ môn
- Trường phải huy động được địa phương để có them máy vi tính phục vụ cho học tập và giảng dạy của GV,và đặc biệt
mua được máy chiếu đa năng cho việc dạy học ứng dụng CNTT được tốt hơn.
- Tổ chức tốt phong trào tự làm đồ dùng dạy học, phổ biến nhân rộng kinh nghiệm tự làm đồ dùng dạy học. Tăng
cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học (soạn phần mềm dạy học, giáo án điện tử, tạo lập nguồn dữ liệu
tham khảo phục vụ dạy và học). Xây dựng phòng học bộ môn theo
6. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp,hoạt động Đoàn Đội,hoạt động giáo dục thể chất vầ y tế.
-Đối với giáo viên được phân công thực hiện Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) và Hoạt động giáo
dục hướng nghiệp (HĐGDHN) được tính giờ dạy học như các môn học; việc tham gia điều hành Hoạt động giáo dục
tập thể (chào cờ đầu tuần và sinh hoạt lớp cuối tuần) là thuộc nhiệm vụ quản lý của Ban Giám hiệu và giáo viên chủ
nhiệm lớp, không tính là giờ dạy học.
-Tăng cường các hoạt động giáo dục thể chất cho học sinh trong các giờ học thể dục hay là các buổi hoạt động khác
ngoài giờ lên lớp nhằm nâng cao và phát triển về năng khiếu TDTT cho các em.
7.Công tác quản lí trường học
7.1 Sự chỉ đạo của chi bộ Đảng:
Thực hiện tốt mọi chỉ đạo của chi bộ Đảng,chấp hành tốt những chủ trương chính sách mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
7.2.Quản lý của chính quyền:
8.Công tác xã hội hóa giáo dục:
Trước hết, để thực hiện thành công xã hội hóa giáo dục, nói rộng hơn là cải cách giáo dục chúng ta cần phải nhận thức
lại mục tiêu của cải cách giáo dục. Giáo dục có nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng tương lai cho xã hội, do đó, cải cách giáo
dục phải xác định mô hình xã hội tương lai và hướng tin mô hình đó. Cải cách giáo dục là cuộc cải cách thứ tư, ở đó
hội tụ tất cả nội dung của ba cuộc cải cách rất quan trọng khác là cải cách kinh tế, cải cách chính trị và cải cách văn
hóa. Mô hình xã hội tương lai là cơ sở định hướng giáo dục và đào tạo con người một cách toàn diện cả về kỹ năng và
nhân cách, đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội đó.
cho người học thói quen đào sâu suy nghĩ về một vấn đề nào đó. Dần dần học trò sẽ hình thành thói quen suy nghĩ một
cách chủ động, độc lập sáng tạo và biết chia sẻ những suy nghĩ của mình với người khác.
VỀ PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ THÂN THIỆN
Với việc đánh giá kết quả học tập học sinh theo các mức Khá, Giỏi, Trung Bình, Yếu, Kém thông qua tổng kết nhiều
loại bài kiểm tra như bài kiểm tra 15 phút, một tiết, hai tiết, bài kiểm tra học kỳ và cuối năm hiện hành ở các trường phổ
thông hiên nay đã tạo nên quá nhiều sức ép đối với người học. Đối với những học sinh thông minh và có trí nhớ tốt thì
chịu ít sức ép hơn. Những học sinh này thường được thầy cô bạn bè đánh giá cao. Những học sinh học kém hơn thường
chiếm số đông sẽ mặc cảm, xấu hổ với kết quả kém và có thái độ ganh đua và thậm chí là ganh ghét với học sinh có
điểm kiểm tra cao hơn. Điều này đã làm xấu đi mối quan hệ giữa nhiều học sinh trong lớp.
Để có phương pháp kiểm tra thân thiện hơn mà vẫn đánh giá đúng học lực và khuyến khích học sinh tự vươn lên trong
học tập chúng ta cần phân biệt hai loại hình kiểm tra: kiểm tra đánh giá sự tiến bộ và kiểm gia đánh giá kết quả học
tập.Do vậy mỗi Gv cũng cần có cách nhìn nhận đánh giá học sinh theo hướng tích cực hơn,thay đổi nhiều hình thức
kiểm tra đánh giá khác nhau tạo điều kiện cho số HS yếu kém có thể vươn lên trong học tập.
CÁC MỐI QUAN HỆ THÂN THIỆN
Giáo viên: Đinh Thế Hà
6
Trường THCS Quảng Lưu Kế hoạc cá nhân_bộ môn
Việc thay đổi phương pháp giảng dạy theo đường hướng “Lấy người học làm trung tâm” giúp các thầy cô có được mối
quan hệ thân thiện với học sinh vì học sinh được xem là nhân vật trung tâm của quá trình giáo dục. Các em được tôn
trọng và được tự do bày tỏ ý kiến cá nhân mình. Mối quan hệ thầy trò sẽ gần gũi hơn, thoải mái hơn. Người thầy cần
học cách lắng nghe ý kiến của học sinh và biết chấp nhận những ý kiến “đối lập” và cũng có thể hoàn thiện kiến thức
thêm nhờ tranh luận với học trò. Người thầy có thể lấy ý kiến đánh giá của học trò thông qua các phiếu điều tra không
ghi tên để không ngừng tự hoàn thiện mình.
Phương pháp giảng dạy theo đường hướng “Lấy người học làm trung tâm” nhấn mạnh vào việc tự học, tự nghiên cứu
của cá nhân với các hoạt động học tập theo nhóm trong và ngoài giờ học. Mối quan hệ giữa các học trò không chỉ là sự
kết bạn cùng sở thích riêng như ở các trường phổ thông hiện nay mà còn là mối quan hệ chia sẻ kiến thức trong nhóm
khi thảo luận trên lớp và các hoạt động theo nhóm ngoài lớp học khi cùng làm một bài tập sưu tầm hay nghiên cứu nhỏ
ngoài lớp học. Mối quan hệ giữa học trò sẽ thân thiện hơn, gắn bó hơn do các em tham gia các hoạt động không chỉ vui
chơi giải trí mà còn học tập với nhau, chia sẻ công việc và tri thức cùng với nhau.
Ngoài hai mối quan hệ chính ở trên còn các mối quan hệ giữa học trò với các nhân viên phục vụ trong trường cũng cần
đề cập đến những hiện tựợng vật lý quen thuộc thừơng gặp hằng ngày thuộc các lĩnh vực: cơ, nhiệt, quang, âm và điện. Việc
trình bày những hiện tượng này chủ yếu là theo quan điểm, hiện tượng, thiên vè mặc định tích hơn định lượng.
Ở giai đoạn 2: là khả năng tư duy của học sinh đã dược phát triển hơn, học sinh đã có một số hiểu biết ban đầu về các
hiện tượng vật lý xung quanh, ít nhiều có các thói quen hoạt động theo các yêu cầu chặt chẽ, của việc học tập vật lý, vón kiến
thức toán học cũng đã được nâng cao thêm một bước, do đó việc học tập môn vật lý ở giai đoạn này phải có mục tiêu cao
hơn giai đoạn 1.
TÓM TẮT NỘI DUNG VÀ MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ LỚP 6
1-Số tiết của môn vật lý 6: 1tiết/tuần*35 tuần = 35 tiết
Trong đó gồm hai chương:
+ Chương I: cơ học(15 tiết tìm hiểu kiến thức mới + 1 tiết thực hành + 2 tiết ôn tập, Kiểm
tra)
+ Chương II: Nhiệt học (11 tiết tìm hiểu kiến thức mới + 1 tiết thực hành + 2 tiết kiểm tra +
1 tiết ôn tập)
2- Mục tiêu chương trình vật lý 6 .
- Giúp học sinh bước đầu làm quen với bộ môn vật lý, làm quen với các hiện tượng thiên nhiên, xảy ra xung quanh bản
thân mình và có cơ sở khoa học để giải thích được các hiện tượng vật lý đó.
Giáo viên: Đinh Thế Hà
9
Trường THCS Quảng Lưu Kế hoạc cá nhân_bộ môn
- Giúp học sinh bước đầu làm quen với phương pháp dạy và học môn vật lý, tìm tòi kiến thức bằng thực nghiệm, thí
nghiệm.
- Tạo cho học sinh có được những kĩ năng về thực hành, làm việc có khoa học , và biết đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong
học tập, đặc biệt là trong hoạt động nhóm.
3-Kế hoạch dạy học từng phần:
Tuần Tiết Tên bài Tài liệu tham khảo Thiết bị dạy học
1 1
Đo độ dài Thước thẳng, thước cuộn, thước
mét
2 2
Đo độ dài (TT) Hình vẽ 2.3 SGK
Giáo viên: Đinh Thế Hà
10