CÁC NỘI DUNG LIÊN QUAN
ĐẾN PHÒNG, CHỐNG XÂM HẠI
TÌNH DỤC TRẺ EM
Trịnh Thị Nguyệt
Trưởng phòng Bảo vệ, chăm sóc trẻ em và
Bình Đẳng giới Sở Lao động - TBXH
II. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (Điều 10.
Luật trẻ em 2016) bao gồm các nhóm sau đây:
a) Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ;
b) Trẻ em bị bỏ rơi;
c) Trẻ em không nơi nương tựa;
d) Trẻ em khuyết tật;
đ) Trẻ em nhiễm HIV/AIDS;
e) Trẻ em vi phạm pháp luật;
g) Trẻ em nghiện ma túy;
h) Trẻ em phải bỏ học kiếm sống chưa hoàn thành phổ cập giáo
dục trung học cơ sở;
i) Trẻ em bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh
thần do bị bạo lực;
k) Trẻ em bị bóc lột;
l) Trẻ em bị xâm hại tình dục;
m) Trẻ em bị mua bán;
n) Trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh phải điều trị
dài ngày thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo;
o) Trẻ em di cư, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định
được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc.
1. Bổn phận của trẻ em đối với gia đình
2. Bổn phận của trẻ em đối với nhà trường, cơ sở trợ giúp
xã hội và cơ sở giáo dục khác
3. Bổn phận của trẻ em đối với cộng đồng, xã hội
4. Bổn phận của trẻ em đối với quê hương, đất nước
5. Bổn phận của trẻ em với bản thân
1. Tước đoạt quyền sống của trẻ em.
2. Bỏ rơi, bỏ mặc, mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt
trẻ em.
3. Xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em.
4. Tổ chức, hỗ trợ, xúi giục, ép buộc trẻ em tảo hôn.
5. Sử dụng, rủ rê, xúi giục, kích động, lợi dụng, lôi kéo, dụ
dỗ, ép buộc trẻ em thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xúc
phạm danh dự, nhân phẩm người khác.
6. Cản trở trẻ em thực hiện quyền và bổn phận của mình.
7. Không cung cấp hoặc che giấu, ngăn cản việc cung cấp
thông tin về trẻ em bị xâm hại hoặc trẻ em có nguy cơ bị bóc lột,
bị bạo lực cho gia đình, cơ sở giáo dục, cơ quan, cá nhân có thẩm
quyền.
8. Kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ em vì đặc điểm cá nhân,
hoàn cảnh gia đình, giới tính, dân tộc, quốc tịch, tín ngưỡng, tôn
giáo của trẻ em.
9. Bán cho trẻ em hoặc cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc
lá và chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo
đảm an toàn, có hại cho trẻ em.
1. Các khái niệm về xâm hại:
Xâm hại trẻ em: Là bất cứ hành động, cử chỉ, lời nói gây
tổn hại về thể chất, tinh thần và tình cảm của trẻ em; làm hạ thấp
nhân cách, danh dự và lòng tự trọng của các em.
Xâm hại trẻ em cũng bao gồm cả việc cố tình tước đoạt
những nhu cầu tồn tại cơ bản của trẻ như ăn uống, ở, làm trẻ bị
tổn thương về mặt thể chất đến mức nếu không được can thiệp
ngay thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sống và phát triển
bình thường của trẻ em.
Có nhiều cách phân loại các hình thức xâm hại trẻ em,
tuy nhiên, các tài liệu thường đề cập đến 4 hình thức chính là:
•Sao nhãng hay bỏ mặc không chăm sóc trẻ em: Những nhu cầu cơ bản
của trẻ về thể chất, giáo dục hay cảm xúc không được đáp ứng. Trẻ không được
chăm sóc y tế kịp thời hay để chậm trễ, bị bỏ rơi, bị đuổi khỏi nhà hay không
cho trẻ bỏ nhà ra đi không được trở về. Không cho trẻ đi học hay để trẻ bỏ học;
không quan tâm đến nhu cầu cảm xúc của trẻ, cho phép trẻ uống rượu, hút
thuốc lá, ma túy. Trẻ thiếu chăm sóc thường có vẻ ngoài bẩn thỉu, tóc rối, ăn
mặc không phù hợp với thời tiết, không vệ sinh răng miệng, mỏi mệt, lơ đãng,
thèm được ăn.
•Xâm hại về thể chất: Các hành vi cố ý làm cho trẻ bị chấn thương như
bầm tím, bỏng, gãy xương, gây tổn thương các bộ phận trên cơ thể.
•Xâm hại về tinh thần: Các hành vi không tỏ ra yêu thương trẻ, không
chăm sóc trẻ, thậm chí chửi rủa, coi thường trẻ, hắt hủi, quát tháo, lăng mạ, làm
nhục hay đe dọa trẻ em một cách vô lý.
Có nhiều cách phân loại các hình thức xâm hại trẻ em,
tuy nhiên, các tài liệu thường đề cập đến 4 hình thức chính là:
cao hơn năm trước.
Tình trạng bạo lực, xâm hại trẻ em ở nước ta trong những năm
gần đây có diễn biến phức tạp, gây bức xúc, nhức nhối trong dư
luận xã hội vì bạo lực, xâm hại trẻ em không chỉ diễn ra trong
cộng đồng hay tại nơi làm việc mà còn diễn ra ngay tại gia đình,
nhà trường và các cơ sở chăm sóc trẻ em tập trung.
Theo báo cáo của Tổng Cục cảnh sát, Bộ Công an, năm 2016,
toàn quốc phát hiện 1.248 vụ xâm hại tình dục trẻ em, tội giao
cấu chiếm tỉ lệ cao nhất 677 vụ, hiếp dâm trẻ em 446 vụ, dâm ô
189 vụ, cưỡng dâm 9 vụ... Phần lớn đối tượng phạm tội xâm hại
trẻ em là nam giới chiếm tỷ lệ 97,2%, chủ yếu trên 18 tuổi,
không có nghề nghiệp ổn định, đa phần là những người quen,
người có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc trẻ em (anh em, cha mẹ,
họ hàng, hàng xóm, thầy cô giáo,...).
Thống kê mới nhất của Bộ LĐ-TB&XH, trong 5 năm (20122016), cả nước phát hiện 5.300 vụ xâm hại tình dục, tuy nhiên
con số này chỉ là những vụ việc được báo cáo, còn rất nhiều vụ
nạn nhân bị kẻ xâm hại dọa dẫm hoặc vì lý do nào đó đã không
được thống kê.
Thái Nguyên: Theo số liệu báo cáo của Công an tỉnh trong 5
năm 2012-2016 toàn tỉnh có 110 vụ xâm hại tình dục (hiếp
dâm: 37, cưỡng dâm: 01, giao cấu: 54, dâm ô: 18).
1. Dấu hiệu về thể chất:
Thông thường người ta ít thấy dấu vết bên ngoài cơ thể ở
những trẻ em bị xâm hại tình dục. Nếu gặp những dấu hiệu sau
đây thì cần quan sát và đưa các em đi khám tại các cơ sở y tế:
- Trẻ gặp khó khăn trong việc ngồi hoặc đi lại.
- Quần áo lót của trẻ bị rách, bẩn một cách không bình thường
hoặc có vết máu.
- Có vết thâm tím, chảy máu hoặc trẻ kêu đau ở bộ phận sinh dục,
hậu môn hoặc các bộ phận kín khác của cơ thể mà không rõ
nguyên nhân.
1. Dấu hiệu về thể chất:
- Trẻ bị đau rát khi đi tiểu.
- Trẻ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt
khi trẻ dưới 13 tuổi.
- Có bằng chứng của các vấn đề căng thẳng về thần
kinh: đau bụng hoặc đau đầu định kỳ mà không tìm được
nguyên nhân.
- Trẻ có thai.
2.2 Dấu hiệu hành vi:
- Tái diễn việc đái dầm hoặc ị đùn dù đã bước vào thời kỳ có
thể kiểm soát bản thân.
- Cách cư xử thụt lùi so với sự phát triển của lứa tuổi.
- Có những hiểu biết và ngôn ngữ về tình dục khác thường
không phù hợp với lứa tuổi.
- Chạy trốn khỏi gia đình.
Ngoài các dấu hiệu đáng ngờ xuất hiện ở trẻ em bị tình dục trẻ em
trên, chúng ta cần cảnh giác khi có những biểu hiện của cha mẹ, gia
đình, người chăm sóc trẻ như:
- Giải thích của cha mẹ/ người nuôi dưỡng về nguyên nhân
vết thương của trẻ không mang tính thuyết phục, hoặc cố tình
giảm thiểu mức độ bị xâm hại hoặc mâu thuẫn với mức độ
nghiêm trọng của vết thương.
- Luôn trì hoãn, lấy lý do cho việc không đưa trẻ em đi chữa
trị kịp thời.
- Phản ứng không phù hợp với tình huống (phản ứng quá
mạnh mẽ hoặc cố thanh minh) hoặc tỏ ra quá hung hăng hay quá
thụ động.
- Tỏ ra miễn cưỡng khi phải cung cấp thông tin.
- Từ chối không cho tiến hành điều tra sự việc kỹ hơn.